NỘI DUNG THẢO LUẬN MÔN LUẬT MÔI TRƯỜNG BUỔI 1 A Câu lý thuyết 1 Phân biệt Luật Môi trường và Luật BVMT? Nêu ý nghĩa của việc phân biệt giữa định nghĩa môi trường theo nghĩa rộng và môi trường theo Luật Chứng minh biện pháp pháp lí là biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường khác. Phân tích nguyên tắc phát triển bền vững và cho ý kiến bình luận về sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 1NỘI DUNG THẢO LUẬN MÔN LUẬT MÔI TRƯỜNG BUỔI 1
A Câu lý thuyết
1 Phân biệt Luật Môi trường và Luật BVMT? Nêu ý nghĩa của việc phân biệt giữa định nghĩa môi trường theo nghĩa rộng và môi trường theo Luật BVMT?
Luật Môi trường Luật Bảo vệ Môi trường Hình
thức
Một lĩnh vực pháp luật chuyên
ngành bao gồm các quy phạm pháp
luật, các nguyên tắc pháp lí
Một đạo luật (VBPL) do Quốc hội ban hành theo trình tự thủ tục luật định
Nội
dung
Điều chỉnh các quan hệ phát sinh
giữa các chủ thể trong quá trình khai
thác, sử dụng hoặc tác động đến một
hoặc một vài yếu tố của môi trường
trên cơ sở kết hợp các phương pháp
điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ
một cách có hiệu quả môi trường
sống của con người
Điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Phạm vi Phạm vi rộng hơn Luật Bảo vệ Môi
trường vì điều chỉnh cả 2 nhóm quan
hệ xã hội
Là văn bản nguồn của Luật Môi trường
Theo nghĩa rộng (Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, 2002):
“MT là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2014: “Môi trường là hệ thống các
yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”
=> So sánh hai khái niệm này:
* Giống nhau: nói đến môi trường là nói đến điều kiện tự nhiên: đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật,…
* Khác nhau:
Trang 2Nghĩa rộng: điều kiện xã hội (bao gồm những yếu tố vật chất và tinh thần), là tất
cả sống các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,
…
Nghĩa hẹp: vật chất nhân tạo (không bao gồm những yếu tố tinh thần): hệ thống
đê điều, các công trình kiến trúc, công trình nghệ thuật, …
+ Thành phần môi trường, khoản 2 Điều 3 LBVMT 2005, là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái
và các hình thái vật chất
Ý nghĩa: Xác định được tầm quan trọng của môi trường tác động như thế nào tới điều kiện sống của con người Theo khái niệm môi trường của Luật Bảo vệ môi trường
2014 thì không xem con người là yếu tố trung tâm
2 Chứng minh biện pháp pháp lí là biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường khác.
- Biện pháp chính trị:
Biện pháp chính trị được thực hiện thông qua những hoạt động chính trị nhằm tác động vào đường lối, chính sách bảo vệ môi trường của quốc gia, nhận thức về môi trường của một tổ chức, cá nhân nhằm xây dựng, củng cố quyền lực và ảnh hưởng chính trị Biện pháp này thể hiện thông qua hoạt động:
+ Ngoại giao;
+ Tổ chức quốc tế: Liên hợp quốc là tiêu biểu nhất, tổ chức nhiều Hội nghị thượng đỉnh về môi trường (6/1972 ở Stockholm, 6/1992 ở Rio De Janeiro);
+ Chính sách quốc gia thông qua hoạt động của các đảng phái chính trị (Việt Nam: Đảng CSVN, các nước: đảng xanh, đi xe đạp trên đường phố Amtesdam, biểu tình đình chỉ các dự án tái chế, )
- Biện pháp tuyên truyền-giáo dục
Các biện pháp giáo dục, tuyên truyền tác động trực tiếp vào nhận thức làm thay đổi hành vi của người dân, nâng cao ý thức người dân về khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý Biện pháp này thông qua việc đưa vào chương trình đào tạo
Trang 3từ bậc tiểu học môn học về môi trường, cổ động, tuyên truyền lối sống văn minh, việc giữ gìn môi trường xanh - sạch - đẹp, những cuộc vận động làm sạch đường phố, bãi biển, …
- Biện pháp kinh tế
Sử dụng biện pháp này là sử dụng đến đòn bẩy kinh tế, thực chất đó là việc dùng những lợi ích vật chất để kích thích chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho môi trường, cho cộng đồng
+ Bảo vệ môi trường mâu thuẫn gay gắt với lợi ích kinh tế, để bảo vệ môi trường, hai nhóm giải pháp được đưa ra, cụ thể là:
+ Biện pháp kinh tế thường mang lại hiệu quả cao hơn so với các biện pháp khác
- Biện pháp khoa học – công nghệ
Biện pháp khoa học - công nghệ là một giải pháp để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để hạn chế tới mức thấp nhất việc gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phát triển kinh tế + Sử dụng các nguồn năng lượng mới thay thế cho nguồn năng lượng truyền thống: năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, sức gió, sức nước chảy…
+ Sử dụng công nghệ sạch hạn chế thải chất độc hại vào môi trường như công nghệ vi sinh
+ Sử dụng vật liệu mới ít gây ô nhiễm môi trường như cac- tôn, gốm cao cấp, chất siêu dẫn hạn chế sử dụng kim loại
+ Tái sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Biện pháp pháp lý
Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường Biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện các biện pháp nói trên
+ Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác
và sử dụng các yếu tố của môi trường
+ Pháp luật quy định các chế tài buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường
Trang 4+ Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức bảo vệ môi trường
Chứng minh biện pháp pháp lý là biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp BVMT khác:
Biện pháp chính trị chủ trương, đường lối của Đảng đi vào cuộc sống bằng việc thể chế hóa thành các quy phạm của pháp luật
Biện pháp tuyên truyền- giáo dục muốn có hiệu quả tốt phải đi đôi với sự cưỡng chế của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật
Biện pháp kinh tế được cụ thể hóa bằng việc ban hành các sắc thuế, khen thưởng,
xử phạt theo quy định của pháp luật
Biện pháp KH-CN các doanh nghiệp muốn hoạt động và tồn tại phải áp dụng các tiến bộ KH- CN để làm trong sạch môi trường sản xuất, không được gây ô nhiễm cho môi trường, đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường do pháp luật quy định
=> Do đó, biện pháp pháp lý là biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp BVMT khác
3 Phân tích nguyên tắc phát triển bền vững và cho ý kiến bình luận về sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định của pháp luật Việt Nam
- Khái niệm: Khoản 4 Điều 3 LBVMT 2014
- Cơ sở xác lập:
- Yêu cầu của nguyên tắc
• Khái niệm: Theo khoản 4, Điều 3, Luật BVMT, phát triển bền vững được định
nghĩa là: “phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”.
Nói cách khác, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển Muốn vậy cần phải có sự tiếp cận mang tính tổng hợp và bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu; kinh tế-xã hội-môi trường
• Cơ sở xác lập
Trang 5Nguyên tắc này được xác lập trên những cơ sở sau:
Tầm quan trong của môi trường và phát triển
Mối quan hệ tương tác giữa môi trường và phát triển
• Yêu cầu của nguyên tắc
Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT (Báo cáo Brundland, nguyên tắc 13 của Tuyên bố Stockholm, nguyên tắc 5 của Tuyên bố Rio De Janeiro)
Hoạt động trong sức chịu đựng của trái đất
Bình luận về sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định của pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, quan điểm Phát triển bền vững đã được khẳng định trong đường lối, chính sách của Đảng (Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước) và các văn bản pháp luật của Nhà nước (Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam; Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã được phê duyệt bởi Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ) Khái niệm PTBV đã được quy định tại khoản 4, Điều 3, Luật BVMT năm
2014 Theo đó, PTBV được hiểu - Đây là một nguyên tắc vô cùng quan trọng bởi nó giúp đảm bảo nhu cầu tại thời điểm hiện tại giúp tăng trưởng kinh tế , bảo đảm tiến bộ
xã hội và BVMT đông thời cũng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai nên nguyên tắc đã được ghi nhận trong các quy định pháp luật của Việt Nam ở văn bản khác nhau như trong đường lối, chính sách của Đảng, Luật BVMT năm 2014, Tuy nhiên trong các văn bẩn pháp luật này chỉ mới nêu ra định nghĩa về phát triển môi trường chứ chưa đưa ra các biện pháp cũng như các chế tài nhằm đảm bảo nguyên tắc này được thực thi
Trang 64 Phân tích yêu cầu của nguyên tắc môi trường là thể thống nhất và bình luận về
sự thể hiện cùa nó trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường
ở Việt Nam
Phân tích yêu cầu của nguyên tắc Môi trường là một thể thống nhất như sau: Việc Bảo vệ môi trường không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia, địa giới hành chính Điều này có nghĩa là trên phạm vi toàn cầu các quốc gia cần phải có sự hợp tác
để bảo vệ môi trường chung Trong phạm vi quốc gia, việc khai thác, BVMT phải đặt dưới sự Trong phạm vi quốc gia, việc khai thác, BVMT phải đặt dưới sự quản lý thống nhất của trung ương theo hướng hình thành cơ chế mang tính liên vùng, bảo đảm sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương
Cần phải bảo đảm có mối quan hệ tương tác giữa các ngành, các văn bản quy phạm pháp luật trong việc quản lý, điều chỉnh các hoạt động khai thác và BVMTphù hợp với bản chất của đối tượng khai thác, bảo vệ Cụ thể: i) Các văn bản quy phạm pháp luật về MT như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Tài nguyên nước phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất; và ii) Trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các ngành, lĩnh vực phải đảm bảo phù hợp với tính thống nhất của MT theo hướng quy hoạt động quản lý về mối trường về một đầu mối dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ
Bình luận về sự thể hiện cùa nó trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam.
Sự thể hiện nguyên tắc trên trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam:
Ngoài các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng được ban hành riêng cho lĩnh vực bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học nêu trên, các nội dung bảo vệ môi trường đều được nêu trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc Trong đó, các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường là một trong số 03 nhóm chỉ tiêu chính của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội từng nhiệm kỳ Điều này cho thấy, trong những năm gần đây, vấn đề môi trường đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và thể chế hóa trong các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật
Trang 7Phân công vai trò và trách nhiệm trong quản lý, cũng giống như trong các lĩnh vực khác, đóng một vị trí lớn trong hoạt động quản lý tài nguyên và môi trường Bên cạnh việc phân định vai trò giữa trung ương và địa phương, giữa mô hình tập trung và phân cấp, thì việc xác định nhiệm vụ của mỗi cơ quan trong từng lĩnh vực cũng là điều rất cần thiết Chẳng hạn, trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường có rất nhiều nhóm lĩnh vực nhỏ hơn có thể phân ra như: quản lý tài nguyên thiên nhiên (chung), qui hoạch và sử dụng đất, các vấn đề nông nghiệp, kiếm soát ô nhiễm v.v…Thông thường,
để thuận tiện cho hoạt động quản lý, mỗi nhóm lĩnh vực này sẽ do các cơ quan khác nhau phụ trách Tuy nhiên, một hệ quả rất khó tránh khỏi đó là sự phân công như vậy
sẽ dẫn tới sự cạnh tranh và xung đột về thẩm quyền giữa các cơ quan Thí dụ như cùng một loại tài nguyên, có thể cùng chịu sự quản lý giữa cơ quan môi trường và cơ quan thương mại Vậy thì việc phân định vai trò và phối hợp giữa các cơ quan sẽ là rất hữu ích trong những trường hợp như vậy Phần tới chúng ta sẽ xem xét tới kinh nghiệm quốc tế trong việc làm rõ vai trò và trách nhiệm của các cơ quan khác nhau trong quản
lý tài nguyên và môi trường
5 Hiện nay người dân có thể thực hiện quyền được sống trong một môi trường trong lành thông qua những quyền cụ thể nào? Hãy đánh giá việc thực hiện các quyền này trên thực tế?
Hiện nay người dân có thể thực hiện quyền được sống trong một môi trường trong lành thông qua những quyền cụ thể: quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do cư trú, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền tiếp cận thông tin
Quyền này trên thực tế đang bị xâm phạm từ tình hình ô nhiễm, suy thoái môi trường: ô nhiễm không khí/nguồn đất/nguồn nước/tiếng ồn, Hiện tượng hiệu ứng nhà kính do việc xả khí thải quá nhiều từ hoạt động công nghiệp hóa quá mức của các quốc gia gây nên việc nóng lên toàn cầu, thay đổi khí hậu: bão, lũ, hạn hán, nhiệt độ thời tiết tăng giảm thất thường khiến tỉ lệ tử tăng cao trong nhiều năm vừa qua Dân số tăng nhanh khiến diện tích rừng bị thu hẹp kéo theo hàng loạt các hệ lụy sinh thái
Chẳng hạn như các vụ việc điển hình Vedan, Formosa xả thải mà không qua xử
lý khiến môi trường xung quanh đó bị ô nhiễm nặng nề (cá chết, nước sông bị ô nhiễm, ) sức khỏe người dân bị ảnh hưởng nặng nề nhưng chế tài cho các hành vi vi phạm này chưa đủ răn đe khiến các doanh nghiệp dù bị phạt vẫn chạy theo lợi ích
Trang 8Tiền bồi thường thiệt hại cho người dân bị thiệt hại chẳng đáng là bao với sức khẻo và
tài sản họ bị thiệt hại, tuy nhiên để được bồi thường người dân phải chứng minh cho
thiệt hại của mình theo luật, mà điều này lại gây khó khăn cho họ về nhiều mặt
Do đó để nguyên tắc này có thể thực thi trên thực tế cần nhiều nỗ lực từ phía nhà
nước ban hành các biện pháp, cam kết quốc tế từ các quốc gia và quan trọng hơn là ý
thức của con người
6 Hãy phân biệt nguyên tắc phòng ngừa và nguyên tắc thận trọng? Cho ví dụ để
làm rõ sự khác nhau này.
Đối tượng
- Phòng ngừa đối với những rủi ro
mà con người đã lường trước được
- Những rủi ro được minh chứng về mặt khoa học và thực tiễn (những rủi
ro chắc chăn xảy ra)
- Thận trọng đối với những rủi ro con người có thể lường trước được
- Những rủi ro chưa được chứng minh về mặt khoa học và thực tiễn (hững rủi ro không thể chắc chắn hoặc không chắc chắn xảy ra)
Cơ sở
Xác lập
Chi phí phòng ngừa bao giờ cũng rẻ hơn chi phí khắc phục Có những tổn hại gây ra cho MT là không thể khắc phục được mà chỉ có thể phòng ngừa
Nguyên tắc thận trọng là nguyên tắc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong các điều kiện không chắc chắn
Mục đích
Ngăn ngừa những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho MT (đãđược chứng minh về khoa học và thực tiễn)
Ngăn ngừa những rủi ro mà con người có thể lường trước được Những rủi ro không thể chắc chắn hoặc không chắc chắn xảy ra (chưa được chứng minh về khoa học và thực tiễn)
Yêu cầu
Lường trước những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho MT Đưa ra những phương án, giải pháp để giảm thiểu rủi ro, loại trừ rủi ro
Đưa ra những phương án, giải pháp để giảm thiểu rủi ro, loại trừ rủi ro
Trang 9Ví dụ
Có 2 công trình thủy điện Sơn La:
Sơn La cao và Sơn la thấp; và quốc hội phải chọn 1 trong 2 để thi công, thực hiện Quốc hội đã chọn công trình Sơn La thấp Vì nếu có rủi ro
về chất lượng xảy ra đối với đập thủy điện Sơn La cao có thể gây vỡ đập thì sẽ dẫn tới việc thủy điện Hòa Bình vỡ theo, và khi đó Hà Nội sẽ bị chìm trong bể nước
Như vậy, ta có thể thấy quốc hội đã lường trước được những rủi ro có thể xảy ra khiến thiên nhiên bị tàn phá;
và lựa chọn thực hiện công trình thi công có ít trủi ro hơn nhằm bảo vệ môi trường
7 Nêu và bình luận một số quy định pháp luật nhằm đảm bảo thực thi quyền con người được sống trong một môi trường trong lành.
Các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường
Xử lý vi phạm hành chính
Các quy định của pháp luật hành chính về xử lý vi phạm môi trường bao gồm: quy định tại khoản 2 và khoản 3, Điều 1, Nghị Định 117/2009/NĐ-CP, ngày
31-12-2009 của Chính phủ quy định: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
là những hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định tại Nghị định này phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Các hành vi vi phạm các quy định về lập, thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trang 10bổ sung (sau đây gọi chung là báo cáo đánh giá tác động môi trường), đề án bảo vệ môi trường; b) Các hành vi gây ô nhiễm môi trường; c) Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải; d) Các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu; đ) Các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường hoạt động du lịch, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; e) Các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường và các hành vi vi phạm các quy định khác về bảo vệ môi trường
Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không trực tiếp quy định trong Nghị định này thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong các nghị định khác có liên quan
Điều 2, Nghị định 117/2009/ NĐ-CP quy định về đối tượng bị xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường:
“1 Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính:
a) Cá nhân, tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức nước ngoài (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam đều bị xử phạt theo các quy định tại Nghị định này hoặc các Nghị định có liên quan Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế đó.
b) Cá nhân là người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì bị xử phạt theo quy định tại Điều 7 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
2 Cơ sở gây ô nhiễm môi trường, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bị
áp dụng hình thức xử lý tạm thời đình chỉ hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động theo quy định tại Chương III của Nghị định này.
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.