1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)

139 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Về Các Loại Người Đồng Phạm Theo Luật Hình Sự Việt Nam (Từ Thực Tiễn Xét Xử Trên Địa Bàn Tỉnh Đắk Lắk Giai Đoạn 2016 - 2020)
Tác giả Phạm Thị Thu Thủy
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 260,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiên áp dụng những quy phạm vê các loại ngưòi đông phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016-2020...45Thực tiễn xét xử các loại người đ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Thu Thùy MỤC LỤC

Trang 3

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC LOẠI NGƯỜI

ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM 9

1.1 Lý luận về các loại người đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam 91.1.1 Khái niệm người đồng phạm 91.1.2 Các loại người đồng phạm 121.1.3 Trách nhiệm hình sự đối với các loại người đồng phạm 23

1.2 Những quy phạm về các loại người đồng phạm theo pháp luật

thực định Việt Nam qua ba Bộ luật hình sự (1985,1999,2015) 361.2.1 Những quy phạm về các loại người đồng phạm theo Bộ luật hình

sự năm 1985 361.2.2 Những quy phạm về các loại người đồng phạm theo Bộ luật hình

sự năm 1999 381.2.3 Những quy phạm về các loại người đồng phạm theo Bộ luật hình

sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43

Chương 2: THỤC TIỀN ÁP DỤNG NHŨNG QUY PHẠM VỀ CÁC LOẠI

NGƯỜI ĐỒNG PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH sụ VIỆT NAM

Trang 4

HIỆN HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẲK LẮK

• • •

(GIAI ĐOẠN 2016 - 2020) VÀ MỘT SÓ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NHŨNG QUY PHẠM NÀY 45

Trang 5

_ « _ — >

-2.1 Thực tiên áp dụng những quy phạm vê các loại ngưòi đông

phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn 2016-2020) 45Thực tiễn xét xử các loại người đồng phạm trên địa bàn tỉnh Đắk

Lắk (giai đoạn 2016-2020) 45Một số tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng những quy phạm về các loại người đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn 2016-2020) 56Nguyên nhân của một số tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng những quy

phạm về các loại người đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn

2016-2020) 65

2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy phạm về các

loại người đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành 682.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa

đổi, bổ sung năm 2017) về các loại người đồng phạm 682.2.2 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng những quy phạm

của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sungnăm 2017) về các loại người đồng phạm 77KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 82

2.1.1

2.1.2

2.1.3

Trang 6

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 2.2 Tỷ lệ các bị can/ bị cáo đồng phạm trong các vụ án hình

sự sơ thẩm mà của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý,giải quyết (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 đến

Bảng 2.3 Thống kê tỷ lệ các vụ án có các loại người đồng phạm

tham gia mà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm(Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 đến ngày

Trang 9

Bảng 2.6 Thống kê sự tham gia của các loại người đồng phạm đối

với các tội, nhóm tội mà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk xét

xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 đến

Bảng 2.7 Thống kê kết quả xét xừ phúc thẩm các vụ án có đồng

phạm của TAND tỉnh Đắk Lắk (Giai đoạn 05 năm: Từngày 01/10/2015 đến ngày 30/9/2020) 55Bảng 2.8

Thống kê kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án có đồngphạm của TAND cấp huyện tỉnh Đắk Lắk (Giai đoạn 05năm: Từ ngày 01/10/2015 đến ngày 30/9/2020) 56

MỎ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể do một người hay nhiềungười cùng tham gia thực hiện Trong khoa học luật hình sự, trường họp có từ haingười trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện một hay nhiều tội phạm do cố ý thì gọi làđồng phạm Các vụ án đồng phạm thường có tính chất phức tạp và mức độ nguyhiểm cao hơn tội phạm đơn lẻ thông thường Không những vậy, những người thamgia vào các vụ án này thường có tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội khácnhau Có người tham gia với vai trò tích cực, trực tiếp lên kế hoạch hay trực tiếp

Trang 10

thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm; có người chỉ đóng vai trò hồtrợ, tạo các điều kiện cần thiết cho những người khác thực hiện hành vi phạm tội.Một vài trường hợp, giữa họ có sự cấu kết chặt chẽ trong việc thực hiện tội phạm và

có sự bàn bạc, phân chia vai trò cụ thể cho từng người Chính vì thế, khoa học luậthình sự đã phân chia những người đồng phạm thành các loại khác nhau với nhữngđặc điếm, bản chất riêng biệt với mục đích đánh giá một cách khoa học, khách quanhành vi của từng người đồng phạm trong vụ án, làm cơ sở xác định trách nhiệm hình

sự của họ, đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật

Ở nước ta, chế định đồng phạm nói chung và các loại người đồng phạm nóiriêng đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu chuyên sâu Các tác giả này đã có những

đề xuất và kiến nghị thiết thực, có giá trị thực tiễn trong việc hoàn thiện hệ thốngPLHS Việt Nam hiện hành Tuy nhiên, chỉ có một số đề xuất được các nhà làm luậtghi nhận trong pháp luật thực định; đồng thời, việc vận dụng các quy phạm của phápluật thực định vào thực tiễn đôi khi còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại Đó có thể là docác quy định của Luật hình sự về các loại người đồng phạm còn chưa cụ thể, rõ ràng

và đầy đủ; cũng có thể do

Trang 11

tính chât các vụ án có đông phạm ngày càng phức tạp, tinh vi; hoặc có thê do các cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chưa nhận thức đúng bản chất pháp

lý của từng loại người đồng phạm Thực tiễn thi hành BLHS trên địa bàn tỉnh ĐắkLắk giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 thấy rằng còn có nhiều vướng mắc trongviệc xác định các loại người đồng phạm, TNHS đối với từng người đồng phạm trongcác vụ án hình sự, dẫn đến việc bở lọt người phạm tội, quyết định mức hình phạtkhông đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng loại người đồng phạm Do

đó, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạmtheo Luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, không những gópmột phần hoàn thiện PLHS mà còn góp phần hồ trợ việc áp dụng pháp luật trongthực tiễn

Ngoài ra, trong bối cảnh nước ta đang thực hiện tổng kết Nghị quyết48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghịquyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020, thì việc nghiên cứu, đánh giá về thực trạng hệ thống pháp luật ViệtNam hiện nay là cần thiết, để từ đó thấy được những thành quả cũng như xác địnhnhững mục tiêu, định hướng mang tính chiến lược cho việc tiếp tục hoàn thiện hệthống pháp luật trong giai đoạn mới

Trang 12

Vì lẽ đó, tác giả lựa chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắkgiai đoạn 2016-2020)” làm Luận văn Thạc sĩ Luật học(chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự) của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vấn đề các loại người đồng phạm trong chế định đồng phạm đã được nhiều tác giả nghiên cứu, phân tích, công bố dưới các dạng khác nhau, cụ thể như sau:

Trong một sô giáo trình của các trường Đại học, Cao đăng, sách chuyên khảosau đại học như:

1) Chương XIII - Đồng phạm, trong sách: Giảo trình Luật hình sự Việt Nam

(Phần chung), tập thể tác giả do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2003);

2) Mục VI - Che định đồng phạm, trong sách: Các nghiên cứu chuyên khảo

về phần chung Luật hình sự, tập IV, của GS.TSKH Lê Cảm, Nxb Công an nhân dân,

Trang 13

4) Chương bổn - Mục VII - Đồng phạm, trong sách Giáo trình sau đại học:

Những vẩn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự - Phần chung, của TSKH.GS Lê

Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2019;

5) 75 năm hình thành và phát triển của hệ thong Pháp luật hình sự Việt Nam

và định hướng tiếp tục hoàn thiện (1945-2020) — sách chuyên khảo, của TSKH.GS.

Lê Cảm, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2020;

6) Chương X Đồng phạm, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam

-Tập I, do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2007;

7) Tội phạm có tổ chức - Một số vẩn đề lý luận và thực tiễn (Sách chuyên

khảo), của PGS.TS Nguyễn Quốc Nhật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005;

8) Chương XIII - Đồng phạm, trong sách: Giảo trình Luật hình sự Việt Nam,

tập thể tác giả do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,2005,

Một số bài bài viết trên tạp chí khoa học của một số tác giả đã nghiên cứu vềchế định đồng phạm nói chung như:

Trang 14

1) GS.TSKH Lê Văn Cảm, “về chế định đồng phạm trong Luật hình sự Việt

Nam - Một số vấn đề lý luận và thục tiễn”, Tập san Tòa án nhân dân, số 2/1988;

2) GS.TSKH Lê Văn Cảm, “Chế định đồng phạm và mô hình lý luận của nó

trong Luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật 8/2003;

3) Trần Quốc Hoàn, “Một số nhận xét về trách nhiệm hình sụ trong một vụ án

có đồng phạm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 05/1995;

4) TS Cao Thị Oanh, “Vấn đề mặt chủ quan của đồng phạm”, Tạp chí Luật

7) Dương Văn Tiến, “Các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự của

những người đồng phạm”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 01/1986;

8) TS Trần Quang Tiệp, “Khái niệm tội phạm có tổ chức”, Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 01/1999;

9) TS Trần Quang Tiệp, “Hoàn thiện chế định liên quan đến đồng phạm

trong luật hình sự Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 05/1998;

Ngoài ra, còn có các luận văn Thạc sĩ trực tiếp nghiên cứu về các loại người

Trang 15

đồng phạm như:

1) Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoà về “Người thực hành

trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam ”, Khoa Luật Quốc gia Hà

Nội, 2011;

2) Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Loan về “Người giúp sức trong đồng

phạm theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) ”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015;

3) Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai về “Người tổ chức

trong đồng phạm theo Luật hĩnh sự Việt Nam ”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2011;

4) Luận văn Thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Hằng Mong về “Các loại người

đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam) trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phổ Hải Phòng) ”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017;

5) Luận văn Thạc sĩ của tác giả Mai Lan Ngọc về “Một sổ vẩn đề lý luận và

thực tiền về những loại người đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam ”, Khoa

Luật-Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012;

Bên cạnh đó, còn có một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ tập trung nghiêncứu về đồng phạm như:

1) Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phan Thị Dương Thanh về “Trách nhiệm

Đại học

Trang 16

hình sự trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở so liệu thực tiền địa bàn tỉnh ĐắkLắk) ”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015;

2) Luận án Tiến sĩ của tác giả Phí Thành Chung về “Trách nhiệm hình sự

trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam ”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2016;

3) Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Quang Tiệp về “Đồng phạm trong luật

hình sự Việt Nam ”, trường Đại học Luật Hà Nội, 2000;

Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu vềvấn đề thực trạng áp dụng các quy phạm PLHS Việt Nam hiện hành về các loạingười đồng phạm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020

3 Mục đích, đôi tượng và phạm vi nghiên cứu đê tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại ngườiđồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn xét xừ tại địabàn tỉnh Đăk Lăk trong giai đoạn từ năm 2016 đên năm 2020) Từ đó, đề xuất một sốgiải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy phạm này, góp phần nâng cao chấtlượng công tác điều tra, truy tố, xét xừ, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, nângcao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm

Trang 17

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này đúng như tên gọi của nó: “Một số vấn đề lýluận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam (từ thựctiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Đắk Lấk giai đoạn 2016-2020)”

3.3 Phạm vỉ nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu một số vấn đề chung về các loại người đồng phạmtheo Luật hình sự Việt Nam; thực tiễn áp dụng những quy phạm về các loại ngườiđồng phạm theo PLHS Việt Nam hiện hành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn2016-2020) và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy phạm này.Luận văn không nghiên cứu vấn đề đồng phạm đối với pháp nhân thương mại

4 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

4.2 Cơ sở thực tiễn

Là thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk, thể hiện qua các bản án của một

số TAND huyện, thị xã, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về các loại người

Trang 18

đồng phạm trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020.

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 5.7 Cơ sở phương pháp luận

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận củaTriêt học Mác - Lênin, trực tiêp sử dụng các phương pháp của triêt học duyvật biện chứng và duy vật lịch sử như phương pháp kết hợp giữa lý luận vàthực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích và tổng hợp

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích

- chứng minh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng họp, phươngpháp so sánh đối chiếu Đặc biệt, tác giả còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễnxét xử của một số Tòa án huyện, thị xã và thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk;nghiên cứu Hiến pháp, BLHS, các văn bản pháp luật liên quan, các hồ sơ các vụ án;tham khảo các công trình khoa học trong nước có liên quan, để chứng minh, làmsáng tỏ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật, thực tiễn và đánh giá thựctrạng áp dụng những quy phạm về các loại người đồng phạm theo Luật hình sự ViệtNam Từ đó, xác định những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để làm cơ sởcho những đề xuất hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạmnày

Trang 19

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn

Luận văn nghiên cứu, phân tích những quy phạm về các loại người đồngphạm theo BLHS Việt Nam năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Không những vậy, Luận văn còn phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng nhữngquy phạm về các loại người đồng phạm theo PLHS Việt Nam hiện hành trên địa bàntỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 Qua đó, tác giả đưa ra một

số tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của chúng và đề xuất một số giải pháp nâng caohiệu quả áp dụng những quy phạm này

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ớ một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần giảiđáp những vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo quyđịnh của Luật hình sự Việt Nam Đồng thời, giúp cho các cơ quan tiên hành tô tụng,người có thâm quyên tiên hành tô tụng có sự phân định rõ các loại người đồng phạm,TNHS đối với những người đồng phạm, để từ đó nâng cao hiệu quả giải quyết các

vụ án hình sự, đảm bảo không làm oan người vô tội cũng như không không bỏ lọtngười phạm tội Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu cho việc nghiên cứu, thamkhảo và hoàn thiện pháp luật

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Ket luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội

Trang 20

dung của Luận văn gồm 02 chương:

Chương 1 Một số vấn đề chung về các loại người đồng phạm theo Luật hình

sự Việt Nam

Chương 2 Thực tiễn áp dụng những quy phạm về các loại người đồng phạm

theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn

2016-2020) và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy phạm này

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ CHUNG VÈ CÁC LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM

THEO LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM

1.1 Lý luận về các loại người đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm người đồng phạm

Trong thực tiễn, một tội phạm có thề do một người thực hiện hoặc có thể dohai hay nhiều người cùng tham gia thực hiện Khi những người này cùng chung hànhđộng và cùng cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể thì gọi là đồng phạm Đồng thời,những người tham gia thực hiện vụ án có đồng phạm đó được gọi là những ngườiđồng phạm

Trong Luật hình sự, đồng phạm là một hình thức phạm tội có những đặc điểmriêng biệt và được coi là một chế định có liên quan, bổ sung cho chế định tội phạm

Trang 21

trong Luật hình sự Việt Nam Vấn đề đồng phạm, người đồng phạm trong Luật hình

sự Việt Nam đã được quy định từ sớm; ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thànhcông, một số văn bản PLHS được ban hành về việc trừng trị một số tội phạm cụ the,trong đó có quy định việc xử lý các trường hợp cộng phạm theo nguyên tắc: “nhữngngười tòng phạm hoặc oa trữ những tang vật của các tội phạm cũng bị xử phạt nhưchính phạm”

Sau này có một số văn bản PLHS đã quy định nguyên tắc xử lý có sự phânhóa, cụ thể như khi xét xử các Tòa án phải phân biệt giữa các hình thức cộng phạmkhác nhau, phân biệt giữa hành vi “oa trữ” (hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản dochiếm đoạt được mà có) là cộng phạm (nếu có hứa hẹn trước) với hành vi “oa trữ”không là cộng phạm mà là một hành vi phạm tội riêng biệt (nếu không có hứa hẹntrước); đồng thời TAND tối cao đã có những văn bản hướng dẫn về vấn đề cộngphạm đối với một số tội phạm cụ thể Tuy nhiên, khi ban hành BLHS năm 1985,PLHS Việt Nam chưa có một văn bản nào quy định thông nhât vê khái niệm và đặcđiêm của cộng phạm, người đồng phạm

Đế có cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xử lý về hình sự đối với nhữngtrường hợp nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm, Điều 17 BLHS năm 1985

đã sử dụng thuật ngữ đồng phạm để thay cho khái niệm cộng phạm, tòng phạm.Khoản 1, khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985 định nghĩa trường hợp “hai hoặc nhiều

Trang 22

người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm” và “Người thực hành, người

tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm” Khoản 1Điều 20 BLHS năm 1999 (sửa đổi năm 2009) đã có sửa đổi nhất định bảo đảm địnhnghĩa về đồng phạm được chính xác hơn như sau: “Đồng phạm là trường hợp có haingười trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Khoản 1, khoản 2 Điều 17 BLHSnăm 2015 (sửa đổi năm 2017) đã kế thừa toàn bộ định nghĩa của BLHS năm 1999trên về đồng phạm và người đồng phạm

Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm thì “đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ýđược thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của từ 02 người trở lên” [7, tr 422] hay

“đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham giacủa từ 02 chủ thể phạm tội trở lên” [7, tr 721], Theo PGS.TS Trịnh Tiến Việt thì

“đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thựchiện một hay nhiều tội phạm do cố ý” [62, tr 7]

Từ các định nghĩa khoa học về đồng phạm đã được đưa ra trên đây, có thểthấy rằng, đồng phạm đòi hỏi phải có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng chung và bắtbuộc về mặt khách quan và chủ quan như sau: về mặt khách quan, để được coi là tộiphạm được thực hiện có đồng phạm thì tội phạm đó phải thỏa mãn ba dấu hiệu đặctrưng và bắt buộc là: phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên vào việc thựchiện một tội phạm; những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm phải cùng

Trang 23

chung hành động (hay liên hiệp hành động); đông thời, phải có môi quan hệ nhânquả giữa hành vi phạm tội của mồi người và hậu quả phạm tội chung do hành vi đógây nên về mặt chủ quan, để được coi là tội phạm được thực hiện có đồng phạm thìđặc trưng chung là phải có sự cùng cố ý của tất cả những người cùng tham gia vàothực hiện tội phạm do cố ý, với các dấu hiệu cơ bản bắt buộc như: Những ngườitham gia phải biết được hoạt động phạm tội của từng người hoặc của ít nhất mộtngười trong số họ; họ đều ý thức được rằng hành vi của mình cùng với những hành

vi của những người khác đã phạm tội hoặc góp phần thực hiện tội phạm; Và họ đềucùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả chung nguy hiểm cho xãhội xảy ra “Sự cùng cố ý phạm tội làm cho ý chí của những người đồng phạm đượcthống nhất với nhau và hành động phạm tội của mồi người đều thống nhất trong sựchi phối chung của sự cùng cố ý phạm tội” [60, tr 149] Lỗi của họ là lỗi cố ý trựctiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp Trong vụ đồng phạm, lỗi của những người tham gia cóthể đều là lỗi cố ý trực tiếp hoặc đều là lỗi cố ý gián tiếp và cũng có thể “đồng thời

có cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp” [26, tr.28] Ngoài ra, đồng phạm chỉ đặt rađối với những trường hợp phạm tội cố ý Bởi lẽ, đối với những trường hợp phạm tội

vô ý, người phạm tội không có ý định phạm tội, không có sự thỏa thuận, bàn bạccùng nhau thực hiện tội phạm, không mong muốn hoặc không bỏ mặc cho hậu quảxảy ra Giữa họ không có sự cùng cố ý nên không có đồng phạm xảy ra Trong

Trang 24

trường hợp đồng phạm về những tội có mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, thìnhững người đồng phạm cũng phải có cùng mục đích phạm tội đó (tức là nhữngngười tham gia cùng có chung mục đích được phản ánh trong cấu thành tội phạm cụthể hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích đó) Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mụcđích phạm tội thì sẽ không có đồng phạm Trong trường hợp này những người thamgia sẽ chịu TNHS riêng lẻ với nhau.

Như vậy, để xác định một tội phạm được thực hiện có đồng phạm hay không thì đêu phải xem xét các dâu hiệu vê mặt khách quan và chủ quan, trong đó dấu hiệu số

lượng chủ thể là vấn đề đáng lưu ý nhất Những chủ thể này phải thoả mãn các dấu hiệu của chủ thể của tội phạm Trong khoa học Luật hình sự, chủ thể của tội phạm là

“đó là người đã có lồi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể còn có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt doquy phạm PLHS tương ứng quy định)” [4, tr 38], Trong vụ án có đồng phạm, nhữngchủ thể này được gọi là người đồng phạm

Qua ba lần pháp điển hóa, BLHS Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa riêng vềngười đồng phạm mà chỉ quy định người tổ chức, người thực hành, người xúi giục,người giúp sức đều là những người đồng phạm

Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm, người đồng phạm “là người cố ý cùng tham

Trang 25

gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý với những người khác và đóng vai trò làngười thực hành, người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức” [7, tr.429].

Theo tác giả Mai Lan Ngọc: “Người đồng phạm là người thoả mãn các dấuhiệu chủ thể của tội phạm, đã cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ýcùng với người khác” [24, tr.21]

Do vậy, trên cơ sở tham khảo quan điểm của các tác giả trên đây, nên chăng

có thể định nghĩa: Người đồng phạm là những chủ thề của tội phạm co ý cùng tham

gia vào việc thực hiện tội phạm do co ý với những người khác.

1.1.2 Các loại người đồng phạm

Trong các vụ án đồng phạm, tính chất, mức độ tham gia thực hiện hành viphạm tội của mồi người đồng phạm là khác nhau “Cơ sở để phân biệt các loại ngườiđồng phạm là tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm Nhìn chungnhững đặc điểm chủ quan ở những người đồng phạm là giống nhau, vì vậy nhữngđặc điêm thuộc phương diện khách quan trở thành tiêu chuân cơ bản phân biệt cácloại người đồng phạm” [54, tr 181], Việc phân loại người đồng phạm có ý nghĩatrong việc đánh giá một cách khoa học và khách quan hành vi của mồi người, cũngnhư tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi đó, để từ đó xác địnhTNHS cụ thể đối với từng người

Trên cơ sở thực tiễn xây dựng PLHS, thực tiễn xét xử của Toà án và kinh

Trang 26

nghiệm lập pháp hình sự nước ngoài, khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985, khoản 2Điều 20 BLHS năm 1999, khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015 đều xác định có bốnloại người đồng phạm gồm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục vàngười giúp sức Đồng thời, các quy định này cũng mô tả các dấu hiệu pháp lý củatừng loại người đồng phạm.

1.1.2.1 Người thực hành

Theo luật hình sự Việt Nam, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm Có hai trường hợp được coi là người trực tiếp thực hiện tội phạm:

Trường hợp thứ nhất: Người tự mình thực hiện hành vi khách quan được mô

tả trong cấu thành tội phạm

Trong một cấu thành tội phạm, có thể gồm một hoặc nhiều hành vi kháchquan Người thực hành có thể trực tiếp thực hiện toàn bộ hành vi được mô tả trongcấu thành tội phạm hoặc thực hiện một trong những hành vi được mô tả trong cấuthành tội phạm, nhưng hành vi tổng hợp của những người thực hành phải thoả mãncác dấu hiệu khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm

Người thực hành có thể sử dụng (hoặc không sử dụng) công cụ, phương tiện

để thực hiện việc tác động hoặc không tác động đến những sự vật, đối tượng cụ thểgây nên những thiệt hại thuộc mặt khách quan của tội phạm “Công cụ phạm tội lànhững vật thể mà người phạm tội sử dụng để tác động trực tiếp vào đối tượng tác

Trang 27

động của tội phạm Còn phương tiện phạm tội là những vật thể tuy không trực tiếptác động vào đối tượng tác động của tội phạm nhưng tham gia vào quá trình thựchiện tội phạm” [55, tr.133] Cụ thê như người phạm tội đã dùng dao chém vào taycủa nạn nhân, là người thực hành của tội “Cố ý gây thương tích” hoặc người phạmtội dùng xe máy để chuyên chở ma tuý đi bán là người thực hành của tội “Mua bántrái phép chất ma tuý”,

Đối với những tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt như tội lạm dụng chức vụ quyềnhạn trong khi thi hành công vụ, tội tham ô tài sản, tội hiếp dâm, tội giao cấu vớingười dưới 16 tuổi, thì người thực hành (hoặc những người thực hành) phải cóđầy đủ các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt

Trường hợp thứ hai: Người không trực tiếp thực hiện hành vi được mô tảtrong cấu thành tội phạm Họ là người đã quyết định thực hiện một tội phạm cụ thể,nhưng lại không muốn tự mình thực hiện Họ đã có hành vi cố ý tác động đến ngườikhác để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan gây hậu quả nguy hiểmcho xã hội, được mô tả trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, những người bị lợidụng đó lại không phải chịu TNHS cùng với người lợi dụng họ vì họ không có lỗi

Trong thực tế thường có những người bị lợi dụng để thực hiện tội phạmnhưng không có lỗi như:

1) Người không có năng lực TNHS (như người mắc bệnh tâm thần hoặc một

Trang 28

bệnh khác gây rối loạn hoạt động tâm thần).

Một người ở thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ở trongtrạng thái không nhận thức hoặc không điều khiển được hành vi của mình

do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối

động tinh thân bị rôi loạn do các bệnh khác như sôt rét ở nhiệt

aọ quã cao gay me sang

2) Người chưa đủ tuổi chịu TNHS:

Tuổi chịu TNHS là một đặc điểm của tội phạm và dấu hiệu không thểthiếu của yếu tố chủ thể của tội phạm, là độ tuổi mà BLHS quy định nhằmxác định khi một người phát triển đến độ tuổi đó mới có thể

phải chịu TNHS, được giảm nhẹ TNHS hoặc loại trừ (hay không phảichịu) TNHS về hành vi phạm tội do mình gây ra [64, tr 67],

Người chưa đủ tuổi chịu TNHS là người chưa đạt độ tuổi mà BLHS quy địnhphải chịu TNHS

Trang 29

Luật hình sự Việt Nam đã quy định người dưới 14 tuổi là người chưa có nănglực TNHS; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là người có năng lực TNHS chưađầy đủ và chỉ phải chịu TNHS về một số tội danh nhất định Nếu họ bị người kháclợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội thì họ

không phải chịu TNHS

3) Người không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý vì bị sai lầm về những tình tiếtkhách quan của tội phạm;

Người có lỗi trong tội phạm là người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịuTNHS và đã cố ý hoặc vô ý thực hiện (bằng hành động hoặc không hànhđộng) hành vi nguy hiếm cho xã hội bị luật hình sự cấm [7, tr 406],

Do đó, người không có lỗi trong tội phạm là người đã thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm nhưng họ “đã tác động đến hành vi bằng hànhđộng (hoặc không hành động) do sự kiện bất ngờ chứ không phải do ý chí chủ quancủa người ấy (tức là người ấy không cố ý hoặc không vô ý thực hiện)” [7, tr 305],

Ví dụ như: A muốn giết B, A đã chuốc cho B uống say Khi A thấy xe ô tô do c điềukhiển đang lưu thông trên đường (C điều khiển xe tuân thủ đúng quy định của phápluật giao thông đường bộ), thì A vứt chìa khoá của B ra giữa đường và nói B ra lây,

B đã lao ra ngay trước đâu xe của c với khoảng cách gần đến mức c không thể xử lýđược, làm xe của c tông vào B và B tử vong ngay tại chỗ Trong trường hợp này, c

Trang 30

không có lồi.

Người có lỗi vô ý vì bị sai lầm về những tình tiết khách quan của tội phạm Ví

dụ như: A và B có thù oán với c, A và B đã thấy y tá điều trị của c thường xuyêntiêm cho c một loại thuốc Vì thế, A và B bàn bạc, lên kế hoạch với nhau là sẽ lợidụng lúc y tá không để ý để tráo đổi ống thuốc độc có nhãn hiệu như ống thuốc thật

Y tá không biết nên đã tiêm cho c làm c chết Trong trường hợp này, y tá đã có lồi

vô ý vì nghĩ rằng ống tiêm đó là thuốc chữa bệnh

4) Người hành động trong tình trạng bị cưỡng bức về thân thế hoặc tinh thầnnên đươc loai trừ TNHS

Cưỡng bức vê thân thê là trường hợp một người bị bạo lực vật chât tác độngnhư bị trói, bị giam giữ, bị bịt miệng, khiến họ không hành động được theo ýmuốn của mình, mặc dù họ biết nếu làm như vậy sẽ gây thiệt hại đến người khác.Người bị cưỡng bức về thân thể không phải chịu TNHS vì họ không có lồi Ví dụmột người mẹ bị trói nên không thế cho đứa con mới đẻ bú đươc dẫn đến đứa con bichết

Cưỡng bức về tinh thần là trường hợp một người bị đe dọa, uy hiếp về việc sẽ

bị gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc những lợi ích khác Người bịcưỡng bức vì sợ bị thiệt hại nên đã hành động (hoặc không hành động) gây hậu quảnguy hiểm cho xã hội Nếu người bị cưỡng bức hoàn toàn bị tê liệt về ý chí, buộc

Trang 31

phải hành động theo ý muốn của người cưỡng bức thì không phải chịu TNHS Ví dụnhư A đã bắt cóc vợ của B, gọi điện thoại uy hiếp B rằng nếu B không lấy trộm sốtiền của Công ty đưa cho A thì vợ của B sẽ bị giết ngay lập tức B đã lấy tiền củaCông ty đưa cho A Trường hợp này, B đã hành động trong tình trạng bị cưỡng bức

về tinh thần

5) Người gây thiệt hại cho xã hội do băt buộc phải thi hành mệnh lệnh, chỉthị của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân đề thựchiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, mà người này đã thực hiện đầy đủ quy trình báocáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnhlệnh đó Trong trường hợp này, người này không phải chịu TNHS

Do đặc điểm riêng nên người thực hành ở dạng này không thể xảy ra ở nhữngtội phạm đòi hỏi chủ thể phải tự mình trực tiếp thực hiện như tội hiếp dâm, tội cưỡngdâm, tội loạn luân, Đối với những loại tội này, chỉ có thể có người thực hành ởtrường hợp thứ nhất mới có thể trực tiếp thực hiện

Do người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm nên việc xác địnhtính chất hành vi của người này là rất quan trọng, vì đó là tính chất tội phạm của tất

cả các loại hành vi của người đồng phạm khác Hậu quả phạm tội chung của đồngphạm được đánh giá dựa trên những hậu quả cụ thể thuộc mặt khách quan của tội

Trang 32

phạm do người thực hành gây ra Đồng thời, các giai đoạn thực hiện tội phạm củađồng phạm cũng được xác định bởi hành vi thực hiện tội phạm của người thực hành.

Cụ thề, việc xác định giai đoạn tội phạm chưa hoàn thành (chuẩn bị phạm tội, phạmtội chưa đạt) hoặc tội phạm hoàn thành của những người đồng phạm khác đều đượcxác định bởi hành vi thực hiện tội phạm của người thực hành đang ở giai đoạn nàocủa tội phạm Do đó, hoạt động của người thực hành là bắt buộc và nhất thiết phải cótrong hoạt động phạm tội Chính vì thế, “hành vi của người thực hành có vị trí trungtâm Những vấn đề như xác định tội danh, giai đoạn phạm tội và quyết định hìnhphạt đối với những người đồng phạm phải căn cứ vào hành vi đó để giải quyết.Những hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức chỉ có the gây rathiệt hại thực tế cho xã hội thông qua hành vi của người thực hành” [9, tr 260],

Như vậy, “người thực hành là người trực tiêp thực hiện tội phạm, cũng nhưtrực tiếp tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với những người khác hoặc thựchiện tội phạm bằng thủ đoạn sử dụng người mà theo các quy định của Bộ luật nàykhông phải chịu trách nhiệm hình sự” [8, tr 403]

7.7.2.2 Người to chức

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, người tổ chức trong đồng phạm đượchiểu là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm

Trang 33

1) Người chủ mưu:

Người chủ mưu được hiểu là “kẻ lập mưu kế cho hành động phạm pháp trongmột nhóm người” [56, tr 240] Trong đồng phạm, người chủ mưu là người chủ động

về mặt tinh thần gây ra tội phạm, có sáng kiến thành lập băng, nhóm tội phạm, đề ra

âm mưu, vạch ra đường lối, phương hướng hoạt động của nhóm đồng phạm, đồngthời cũng kích động, thúc đẩy đồng bọn hoạt động Do vậy, có thể nói rằng “ngườichủ mưu là linh hồn cùa tổ chức phạm tội, là người quân sư, là kẻ bày mưu đặt kế”[13, tr 48]

Người chủ mưu có thể trực tiếp điều khiển hoạt động của tổ chức nhưng cũng

có thể không tham gia tổ chức phạm tội

2) Người cầm đầu:

Cầm đầu là “nắm quyền điều khiển, chỉ huy một đám người, một tổ chức(thường là phi pháp)” [56, tr 166] Người cầm đầu trong đồng phạm là người thànhlập nhóm đồng phạm hoặc tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch, phương hướngchính cho tổ chức phát triển, hoạt động hoặc các kế hoạch để thực hiện tội phạm.Người này phân công, giao trách nhiệm cho đồng bọn cũng như đôn đốc, điều khiểnhoạt động của nhóm đồng phạm

Trong thực tiễn, có trường hợp người cầm đầu không tham gia thành lậpnhóm đồng phạm mà tham gia sau khi băng, nhóm tội phạm được hình thành, nhưng

Trang 34

được tín nhiệm cử vào bộ phận lãnh đạo, điều khiển chung của tổ chức.

Khi được cử vào bộ phận này, họ mới băt đâu thực hiện các hành vi như soạn • • 1

thảo kế hoạch, phương hướng chính cho tổ chức phát triển, hoạt động,

Khác với người chủ mưu, người cầm đầu luôn luôn tham gia vào tổ chức phạm tội

3) Người chỉ huy:

Chỉ huy được hiểu là “điều khiển sự hoạt động của một lực lượng, một tập thể

có tổ chức” [56, tr 211], Người chỉ huy trong đồng phạm là người trực tiếp điều

khiển việc thực hiện tội phạm cụ thể của đồng bọn Người này trực tiếp đôn đốc

đồng bọn làm theo mệnh lệnh của mình hoặc theo kế hoạch phạm tội đã được vạch sẵn

Người chỉ huy có thể điều khiển hoạt động của nhóm tội phạm từ xa hoặctrực tiếp điều khiển tại chồ Trong trường hợp trực tiếp điều khiển tại chỗ thì ngườichỉ huy đồng thời cũng là người thực hành

Như vậy, một người đồng phạm chỉ cần có một trong ba hành vi chủ mưu,cầm đầu hoặc chỉ huy thì người đó là người tố chức trong vụ án có đồng phạm.Những vai trò chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy có thể do những người khác nhaunắm giữ, nhưng cũng có thế chỉ do một người đảm nhận

Trang 35

Trong mối quan hệ với những người đồng phạm khác, người tổ chức là ngườigiữ vai trò thành lập nhóm đồng phạm hoặc điều khiển hoạt động của nhóm đồngphạm đó Cụ thể, họ là người đã đề xướng việc thành lập nhóm đồng phạm hoặc chỉ

là người đã thực hiện việc đề xướng đó như rủ rê, lôi kéo người khác tham gia vàonhóm đồng phạm, thiết lập các mối liên hệ tổ chức giữa những người đồng phạm vớinhau, Họ cũng có thể là người giữ vai trò điều khiến hoạt động chung của toànnhóm như vạch ra phương hướng hoạt động; vạch ra các kế hoạch thực hiện, kếhoạch che giấu tội phạm khi bị phát hiện; phân công nhiệm vụ, điều khiển hoạt độngcủa những người đồng phạm khác; hoặc trực tiếp điều khiến việc thực hiện vụ việcphạm tội cụ thể của nhóm đồng phạm

Với vai trò như vậy, “người tổ chức được gọi là “linh hồn” của tội phạm, làngười lãnh đạo, chỉ huy các hoạt động phạm tội của đồng bọn” [58, tr 132], Do đó,người tổ chức luôn luôn được coi là người có hành vi nguy hiểm nhất trong vụ đồngphạm Vì thế, trong các BLHS Việt Nam luôn quy định nguyên tắc xử lý là “nghiêmtrị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy ”

1.1.2.3 Người xúi giục

Theo Từ điển Tiếng Việt, xúi giục được hiểu là “xui và thúc đẩy người kháclàm một việc sai trái, với dụng ý xấu” [28, tr 1197], Theo Từ điển bách khoa Công

an nhân dân thì “Xúi giục là hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác làm một

Trang 36

việc sai trái” [59, tr 1331],

Họ là người tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiến người nàyphạm tội “Người xúi giục có thể là người đã nghĩ ra việc phạm tội và đã thúc đẩycho tội phạm đó được thực hiện thông qua người khác nhưng cũng có thể chỉ có tácđộng kích động, thúc đẩy người khác vốn đã có ý định phạm tội thực hiện ý định đótrên thực tế” [27, tr 145],

Tuy nhiên, không phải người nào có hành vi xúi giục đều là người xúi giục

mà hành vi đó cần thoả mãn các điều kiện như:

1) Hành vi xúi giục phải trực tiếp, nghĩa là kẻ xúi giục phải nhằm vào mộthoặc một số người nhất định Việc kêu gọi, hô hào mà không hướng tới những ngườixác định thì không phải là hành vi xúi giục

2) Hành vi xúi giục phải cụ thể, nghĩa là phải nhằm gây ra việc thực hiện tộiphạm nhất định Việc truyền bá, phổ biến, gieo rắc những tư tưởng xấu cho mộtngười hoặc một số người và khiến những người này đi vào con đường phạm tội cũngkhông phải là hành vi xúi giục trong đồng phạm mà chỉ có thể cấu thành tội độc lậpkhác như tội dụ dồ, ép buộc người dưới 18 tuổi phạm pháp,

3) “Sự xúi giục đòi hỏi phải gây ảnh hưởng mạnh mẽ về mặt tâm lý đối với người khác, cho nên loại hành vi này luôn được thực hiện dưới hình thức

hành động” [9, tr 262] “Sự xúi giục có thể được thực hiện bằng nhiều thủ

Trang 37

đoạn như kích động, lôi kéo, cưỡng ép, dụ dỗ, lừa dối” [15, tr 304],4) Giữa hành vi của người xúi giục và người bị xúi giục có mối quan hệ nhânquả “Hành vi xúi giục là nguyên nhân dẫn đến tội phạm do người bị xúi giục thựchiện, còn hành vi phạm tội của người bị xúi giục là mục đích và kết quả của hành vixúi giục” [9, tr 262], Người xúi giục cũng có thể tham gia vào việc thực hiện tộiphạm với người bị xúi giục nhưng cũng có thể không tham gia.

5) về mặt chủ quan, cần xác định người xúi giục có ý định rõ ràng thúc đẩyngười khác phạm tội Những người có lời nói hoặc việc làm có thể gây ảnh hưởngđến việc phạm tội của người khác nhưng không có ý định thúc đẩy người này phạmtội thì cũng không phải là người xúi giục Ngoài ra, hành vi xúi giục được thực hiệnbằng lỗi cố ý, nghĩa là người này nhận thức được hành vi xúi giục của mình là nguyhiểm cho xã hội, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đónhưng vẫn thực hiện vì mong muốn người bị xúi giục thực hiện tội phạm Người xúigiục và người bị xúi giục có thể có cùng một động cơ, mục đích phạm tội nhưngcũng có thể có động cơ, mục đích khác nhau Trong trường hợp, cấu thành tội phạmquy định động cơ, mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì họ phải có cùng động cơ và mụcđích phạm tội

Hành vi xúi giục có mức độ nghiêm trọng khác nhau, tùy bản chất củangười xúi giục và người bị xúi giục cũng như tùy mối quan hệ giữa họ với

Trang 38

nhau Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tôn giáo, tín ngưỡng, sự nhẹ dạ củangười chưa thành niên để thúc đẩy họ phạm tội là những trường hợpnghiêm trọng [17, tr 185],

Như vậy, “người xúi giục là người đồng phạm đã kích động, dụ dồ, muachuộc, đe doạ hoặc bằng thủ đoạn khác thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm”[24, tr 39]

1.1.2.4 Người giúp sức

Theo Luật hình sự Việt Nam, “hành vi nguy hiếm cho xã hội của người giúpsức trong đồng phạm là hành vi tạo ra những điều kiện cho người thực hành thựchiện hành vi phạm tội” [17, tr 186], Hay nói cách khác “người giúp sức chỉ là ngườitạo ra những điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho người thực hành thực hiện tội phạmchứ người giúp sức không trực tiếp thực hiện tội phạm” [9, tr 264],

“Hành giúp sức khác hành vi xúi giục ở chỗ nó làm cho người thực hành đã

có ý định phạm tội quyết tâm thực hiện tội phạm, còn hành vi xúi giục tác độngmạnh đến tư tưởng, ý chí của người bị xúi giục (người thực hành) làm cho người nàynảy sinh ý định phạm tội và thực hiện ý định đó” [9, tr 264], Điều này có nghĩa làhành vi giúp sức không có tính chất quyết định trong việc kích động người khácphạm tội, mà nó chỉ giúp người khác vốn đã có ý định phạm tội có thêm điều kiệnthuận lợi hoặc yên tâm hơn khi thực hiện tội phạm

Trang 39

• • • • J • • • JL •

Những điều kiện mà người giúp sức tạo ra “có thể có tính vật chất hoặc cótính tinh thần” [17, tr 186], tức là người giúp sức có thể giúp sức về vật chất hoặc vềtinh thần

1) Giúp sức về vật chất là “cung cấp công cụ, phương tiện phạm tội, hoặckhắc phục những trở ngại để tạo điều kiện cho người thực hành thực hiện tộiphạm được dễ dàng, thuận lợi hơn” [17, tr 186], như giúp đỡ về kỹ thuật, chỉ điểm,dẫn đường, chứa chấp, che giấu người phạm tội, xoá các dấu vết, tang vật của vụ ánhoặc tạo ra các điều kiện vật chất cần thiết khác

2) Giúp sức về tinh thần là:

Tạo điều kiện về tinh thần cho việc thực hiện tội phạm [9, tr 264], Giúpsức về tinh thần có thể là những hành vi cung cấp những gì tuy không cótính vật chất nhưng cũng tạo cho người thực hành điều kiện thuận lợi hơntrong việc thực hiện tội phạm như chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hìnhV.V [17, tr 186]

Sự hứa hẹn trước cũng được Luật hình sự Việt Nam coi là một dạng của giúpsức về tinh thần, “vì hành vi hứa hẹn trước có tác dụng khuyến khích, củng cố sựquyết tâm phạm tội của người thực hành” [9, tr 264] Lời hứa hẹn của người giúpsức có thể xảy ra trước khi quá trình tội phạm bắt đầu nhưng cũng có thể xảy ra khiquá trình đó đang diễn ra Ngoài ra, sự hứa hẹn của người giúp sức không bắt buộc

Trang 40

phải được thực hiện, vì sự thực hiện lời hứa thường là những việc làm xảy ra sau khitội phạm đã thực hiện xong Ví dụ như lời hứa hẹn sẽ tiêu thụ tài sản do người thựchành trộm cắp mà có.

Hành vi giúp sức có thể được thực hiện dưới dạng hành động hoặc khônghành động Dạng không hành động có thể là “trường hợp của những người có nghĩa

vụ pháp lí phải hành động nhưng đã cố ý không hành động và qua đó đã loại trừ trởngại khách quan ngăn cản việc thực hiện tội phạm của người trực tiếp thực hiện tộiphạm, tạo điều kiện cho người đó có thể thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện tội phạmđược đến cùng” [17, tr 186] Ví dụ như A có nhiệm vụ trông giữ xe ô tô nhưng khithấy B (người thân của A) bẻ trộm gương xe của khách đã không đi đến ngăn cản

Hành vi giúp sức thường được thực hiện trước khi người thực hành bắt tayvào hành động, ví dụ như cung cấp tình hình đi lại, di chuyển của bị hại cho ngườithực hành Nhưng cũng có trường hợp người giúp sức tham gia khi tội phạm đangtiến hành, như cảnh giới cho người thực hành vào nhà người khác trộm cắp tài sản

Chính vì vậy, có tác giả định nghĩa người giúp sức là “người đồng phạm đãtạo ra những điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội JL • • J • •

phạm” [24, tr 41],

1.1.3 Trách nhiệm hình sự đối với các loại người đồng phạm

Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc

Ngày đăng: 21/09/2022, 09:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-Tranh ĐDDH (hoặc photo hình trong SGK trên khổ giấy lớn) điều kiện ngoại cảnh đối với  cây rau, hoa. - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
ranh ĐDDH (hoặc photo hình trong SGK trên khổ giấy lớn) điều kiện ngoại cảnh đối với cây rau, hoa (Trang 37)
Bảng 2.1. Tỷ lệ thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm có đồng phạm của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lẳk (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
Bảng 2.1. Tỷ lệ thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm có đồng phạm của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lẳk (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 (Trang 69)
Số lượng vụ án hình sự sơ thẩm đã thụ lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
l ượng vụ án hình sự sơ thẩm đã thụ lý (Trang 69)
Bảng 2.2. Tỷ lệ các bị can/ bị cáo đông phạm trong các vụ án hình sự sơ thẩm mà của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý, giải quyết (Giai đoạn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
Bảng 2.2. Tỷ lệ các bị can/ bị cáo đông phạm trong các vụ án hình sự sơ thẩm mà của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý, giải quyết (Giai đoạn (Trang 71)
Bảng 2.3. Thơng kê tỷ lệ các vụ án có các loại người đông phạm tham gia mà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từmà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
Bảng 2.3. Thơng kê tỷ lệ các vụ án có các loại người đông phạm tham gia mà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từmà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từ (Trang 72)
Bảng 2.3. Thơng kê tỷ lệ các vụ án có các loại người đông phạm tham gia mà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từmà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
Bảng 2.3. Thơng kê tỷ lệ các vụ án có các loại người đông phạm tham gia mà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từmà TAND hai cấp tỉnh Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 năm: Từ (Trang 72)
Bảng 2.4. Tỷ lệ các vụ án hình sự phúc thẩm có đồng phạm do TAND tỉnh Đắk Lắk thụ lý, xét xử (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 đến - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
Bảng 2.4. Tỷ lệ các vụ án hình sự phúc thẩm có đồng phạm do TAND tỉnh Đắk Lắk thụ lý, xét xử (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 đến (Trang 76)
Theo hai bảng trên, có thê thây răng: Từ ngày 01/10/2015 đên ngày 30/9/2020, TAND tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý 2.419 vụ/3.914 bị cáo (trong đó có 588 vụ án có đồng phạm với 2.044 bị cáo, chiếm tỷ lệ 24,3% số vụ và 52,2% số bị cáo đã thụ lý), đã xét xử 2.055 vụ/ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
heo hai bảng trên, có thê thây răng: Từ ngày 01/10/2015 đên ngày 30/9/2020, TAND tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý 2.419 vụ/3.914 bị cáo (trong đó có 588 vụ án có đồng phạm với 2.044 bị cáo, chiếm tỷ lệ 24,3% số vụ và 52,2% số bị cáo đã thụ lý), đã xét xử 2.055 vụ/ (Trang 77)
Bảng 2.6. Thông kê sự tham gia của các loại người đông phạm đôi với các tội, nhóm tội mà TAND hai cấp tình Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
Bảng 2.6. Thông kê sự tham gia của các loại người đông phạm đôi với các tội, nhóm tội mà TAND hai cấp tình Đắk Lak xét xử sơ thẩm (Giai đoạn 05 (Trang 79)
(Nguôn: Tác giả tự tơng hợp dựa theo các Bản án hình sự sơ thâm của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lẳk) - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
gu ôn: Tác giả tự tơng hợp dựa theo các Bản án hình sự sơ thâm của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lẳk) (Trang 82)
Bảng 2.8. Thông kê kêt quả xét xửphúc thâm các vụ án có đơng phạm của TAND cấp huyện tỉnh Đắk Lắk (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015TAND cấp huyện tỉnh Đắk Lắk (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo luật hình sự việt nam (từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đắk lắk giai đoạn 2016 2020)
Bảng 2.8. Thông kê kêt quả xét xửphúc thâm các vụ án có đơng phạm của TAND cấp huyện tỉnh Đắk Lắk (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015TAND cấp huyện tỉnh Đắk Lắk (Giai đoạn 05 năm: Từ ngày 01/10/2015 (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w