1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)

118 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Công Nghệ Vào Dạy Học Đọc Hiểu Văn Bản Nhớ Mùa Thu Hà Nội Của Trịnh Công Sơn (Chương Trình Ngữ Văn 2018)
Tác giả Nghiêm Thu Hằng
Người hướng dẫn TS. Tôn Quang Cường
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 4,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu VB đem lại những ưu thế trong việc hình thành, kích thích sự sáng tạo, phát huy tính tích cực, chủ động của người học khi tham gia các ho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGHIÊM THU HẰNG

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU

VĂN BẢN NHỚ MÙA THU HÀ NỘI CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

(CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGHIÊM THU HẰNG

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU

VĂN BẢN NHỚ MÙA THU HÀ NỘI CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

(CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018)

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn

Mã số: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Tôn Quang Cường

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Tất

cả thông tin bao gồm các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nghiêm Thu Hằng

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các

cá nhân và tập thể Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn đến

thầy giáo TS Tôn Quang Cường đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi

hết sức tận tình trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giảng viên Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tôi những tri thức chuyên môn quý giá trong quá trình học tập thực hành giảng dạy và thực hiện đề tài này Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy, Cô giáo Tổ Ngữ văn, các em học sinh Trường THPT Khoa học Giáo dục - Bắc Từ Liêm (Hà Nội), Trường THPT Xuân Khanh - Sơn Tây (Hà Nội), Trường THPT Phúc Lợi - Long Biên (Hà Nội) đã hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai đề tài

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, các đồng nghiệp gần,

xa đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên để tôi có thể hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 3 năm 2022

Tác giả Nghiêm Thu Hằng

Trang 5

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 16

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 16

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 16

6 Phạm vi nghiên cứu 16

7 Phương pháp nghiên cứu 17

8 Những đóng góp của đề tài 18

9 Cấu trúc luận văn 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 19

1.1 Chuyển đổi số trong giáo dục và dạy học 19

1.1.1 Khái niệm “chuyển đổi số” 19

1.1.2 Giáo dục và dạy học trong bối cảnh chuyển đổi số 19

1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản trong bối cảnh chuyển đổi số 22

1.2.1 Quan niệm về “đọc hiểu văn bản” 22

1.2.2 Thực tế dạy học đọc hiểu văn bản trong bối cảnh chuyển đổi số: những thuận lợi và thách thức 25

1.3 Đặc điểm thơ trữ tình hiện đại sau 1975 30

1.3.1 Những chuyển biến trong cảm hứng thơ trữ tình hiện đại sau 1975 31

1.3.2 Những chuyển biến của cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại sau 1975 33

1.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học đọc hiểu tác phẩm Nhớ mùa thu Hà Nội (phần ca từ) của Trịnh Công Sơn 35

1.4.1 Đặc điểm ca từ của tác phẩm “Nhớ mùa thu Hà Nội” 35

1.4.2 Những lưu ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản “Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn 37

Trang 6

iv

Tiểu kết Chương 1 39

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VÀO VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NHỚ MÙA THU HÀ NỘI CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 40

2.1 Mục tiêu ứng dụng công nghệ trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình hiện đại theo chương trình Ngữ văn 2018 (tác phẩm “Nhớ mùa thu Hà Nội” của tác giả Trịnh Công Sơn) 40

2.2 Nguyên tắc ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản Nhớ mùa thu Hà Nội - Trịnh Công Sơn 44

2.2.1 Bám sát mục tiêu dạy học đọc hiểu văn bản thơ hiện đại cho HS THPT 44

2.2.2 Bám sát đặc trưng của tác phẩm thơ trữ tình hiện đại 44

2.2.3 Bám sát đối tượng người học, đa dạng hóa các hình thức bài tập và kiểm tra đánh giá 46

2.3 Một số biện pháp ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản thơ hiện đại Nhớ mùa thu Hà Nội - Trịnh Công Sơn 47

2.3.1 Biện pháp ứng dụng công nghệ vào giai đoạn trước khi đọc 58

2.3.2 Biện pháp ứng dụng công nghệ vào giai đoạn trong khi đọc 63

2.3.3 Biện pháp ứng dụng công nghệ vào giai đoạn sau khi đọc 68

2.4 Những điều cần chú ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình cho học sinh 74

Tiểu kết Chương 2 76

CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 77

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 77

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 77

3.1.3 Yêu cầu thực nghiệm 77

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 78

Trang 7

v

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 78

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 80

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 81

Tiểu kết Chương 3 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Khuyến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát thực tế hoạt động sử dụng các công cụ CNTT

của GV và HS 59 Bảng 2.1 Ma trận triển khai hoạt động đọc hiểu của học sinh giai đoạn

trước khi đọc 59Bảng 2.2 Mô tả thiết kế hoạt động Đánh thức cảm xúc 59Bảng 2.3 Mô tả thiết kế hoạt động Huy động tri thức nền 61Bảng 2.4 Ma trận triển khai hoạt động đọc hiểu của học sinh giai đoạn

trong khi đọc 66Bảng 2.5 Mô tả thiết kế hoạt động Đọc kết hợp ghi chú bên lề 67Bảng 2.6 Ma trận triển khai hoạt động đọc hiểu của học sinh giai đoạn sau

khi đọc 70Bảng 2.7 Mô tả thiết kế hoạt động Khám phá vẻ đẹp ca từ 71Bảng 2.8 Ma trận tổng hợp các hoạt động đọc hiểu của học sinh 73

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong xu thế phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, ứng

dụng công nghệ công tin (CNTT) vào các lĩnh vực của đời sống ngày càng trở nên phổ biến, đóng vai trò to lớn trong sự phát triển chung của xã hội Ngành Giáo dục và đào tạo cũng không nằm ngoài vòng xoay chuyển công nghệ ấy Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục là một vấn đề được Đảng và Nhà nước

chú trọng Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định

hướng đến năm 2030 đã nêu rõ nhiệm vụ: “Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa” Nhằm hướng tới mục tiêu đưào tạo theo

hướng phát triển phẩm chất, năng lực của người học, quá trình dạy và học cần phải thay đổi đồng bộ với nhiều giải pháp cụ thể Trong đó, ứng dụng công nghệ vào dạy học là một trong những giải pháp thiết thực

Năm 2020, với sự xuất hiện của đại dịch Covid-19, ngành giáo dục đã triển khai quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả các giải pháp phòng, chống dịch với

mục tiêu “bảo đảm sức khỏe, an toàn của học sinh, sinh viên, giáo viên lên trên

hết”; đồng thời thực hiện phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng học”, có 79.7% học sinh trên cả nước được học tng phpasrực tuyến Công nghệ

đã đem đến những trải nghiệm cho cả người dạy và người học, đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng dữ liệu học tập, thuyết trình, trao đổi, kiểm tra, đánh giá Làn sóng Covid - 19 lần thứ hai trong năm 2021 khiến 40% - 60% thời gian học tập trực tiếp phải chuyển đổi sang hình thức trực tuyến Đây cũng

là một trong những giai đoạn người dạy, người học, các nhà quản lý cần tới nhiều sự hỗ trợ của các phương tiện CNTT

1.2 Quá trình dạy học nói chung và giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói riêng

đã và đang là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm bởi đây là một môn học mang tính công cụ, góp phần quan trọng trong việc hình thành, bồi dưỡng và

Trang 11

1.3 Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (CTGDPTTT) 2018 đã

chỉ ra những năng lực cần hình thành và phát triển cho HS Bên cạnh những năng lực như: năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực thể chất, thì năng lực công nghệ và năng lực tin học cũng được chú trọng Định hướng chung

trong phương pháp giáo dục của Chương trình Ngữ văn 2018 đã nêu rõ: “vận

dụng các phương pháp giáo dục theo định hướng chung là dạy học tích hợp và phân hóa; đa dạng hoá các hình thức tổ chức, phương pháp và phương tiện dạy học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và vận dụng kiến thức, kĩ năng của HS” [2] Chương trình Ngữ văn 2018 có định hướng mở

về ngữ liệu - một trong những điểm mới, đáng chú ý trong quá trình dạy và học Ngữ văn Đồng thời, đây cũng là một điều kiện thuận lợi nhằm hình thành, khơi gợi, phát hiện các năng lực của HS Thực tế cho thấy việc ứng dụng công nghệ vào quá trình dạy học Ngữ văn đã và đang có nhiều tiềm năng phát triển, dần trở thành xu thế tất yếu Đặc biệt ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu VB đem lại những ưu thế trong việc hình thành, kích thích sự sáng tạo, phát huy tính tích cực, chủ động của người học khi tham gia các hoạt động học tập

1.4 Văn bản Nhớ mùa thu Hà Nội của tác giả Trịnh Công Sơn nằm trong

danh mục văn bản (ngữ liệu) gợi ý giảng dạy cho HS THPT trong chương trình Ngữ văn 2018 Đây là một ngữ liệu mới, có sự kết nối giữa hai loại hình nghệ

Trang 12

3

thuật là âm nhạc và văn học, trước đó chưa xuất hiện trong chương trình giảng dạy môn Ngữ văn Việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học văn bản (VB) này có khả năng đa dạng hóa các hoạt động trong tiến trình bài dạy từ các hoạt động trước giờ học, trong giờ học và sau giờ học

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Ứng dụng công

nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản Nhớ mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn

(Chương trình Ngữ văn 2018) để nghiên cứu nhằm góp phần tích cực vào quá

trình đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu VB

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Quá trình chuyển đổi số trong giáo dục và dạy học

2.1.1 Các xu hướng

Giáo dục là lĩnh vực đứng ở vị trí thứ hai được ưu tiên chuyển đổi số

theo Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình

Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Với mục

tiêu phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhiều xu hướng được đặt ra trong quá trình chuyển đổi số ở lĩnh vực giáo dục và dạy học

Với công trình nghiên cứu Giáo trình Lí luận và công nghệ dạy học

(2019), các tác giả đã chỉ ra vai trò của công nghệ trong việc tổ chức các hoạt động dạy học theo xu hướng tăng tính tương tác, cá nhân hóa cao độ với nội dung mở, linh hoạt; tăng cơ hội, thời gian, không gian học tập mở, lớp học/ môi trường học ảo; gắn kết người học với đơn vị đào tạo (kể cả sau khi tốt nghiệp), đơn vị, cơ quan tuyển dụng; tạo dựng chuỗi liên kết, hệ sinh thái giáo dục đổi mới và sáng tạo

Trong bài viết Những xu thế mới của công nghệ trong giáo dục, GS.TS

Nguyễn Quý Thanh, TS Tôn Quang Cường, Trường Đại học Giáo dục,

Trang 13

4

ĐHQGHN đã chỉ ra các xu thế công nghệ trong giáo dục hiện nay Theo các

tác giả, chúng ta “có thể nhìn nhận giáo dục như là một quá trình công nghệ,

sản phẩm công nghệ có thể đóng gói chuyển giao và như là một quá trình ứng dụng, thẩm thấu các thành tựu của lĩnh vực công nghệ khác”

Thứ nhất là Nền tảng số cho giáo dục (Digital education platform) với

một số nền tảng chính: E-learning (Electronic learning), M-learning (Mobile learning), U-learning (Ubiquitous learning), hệ thống khóa học trực tuyến mở rộng (Massive Online Open Courses - MOOCs), hệ thống khóa học đặc thù riêng cho cá nhân (Small Private Online Courses - SPOCs)

Thứ hai là Người học số (Digital learner) Theo các tác giả, quá trình dạy

học ngày càng hướng đến người học mạnh mẽ, được chuyển hóa định hướng theo các nhánh:

- Dạy học chính thức theo chương trình được xác lập (bao gồm cả dạy học trực tiếp và trực tuyến);

- Dạy học theo định hướng cá nhân (các nội dung và hình thức đáp ứng nhu cầu riêng của cá nhân, định hướng bởi năng lực, tốc độ, sở thích của cá nhân…);

- Dạy học theo định hướng nhóm bên trong một thiết chế tổ chức cụ thể (ví dụ: một lớp học, trong nhà trường,…) và nhóm mạng lưới (đáp ứng các nhu cầu của nhóm mạng lưới bên ngoài tổ chức);

- Dạy học ngẫu nhiên (học cái gì, học ở ai, vào bất cứ thời điểm nào theo nhu cầu cá nhân, “ngẫu nhiên, tình cờ”)

Thứ ba là Người dạy số (Digital teacher/educator)

- Việc xuất hiện xu hướng sử dụng các Apps hỗ trợ học tập với tư cách

là “nhà giáo ảo”, sử dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), kết nối Internet vạn vật (IoT), máy học (Learning machine), học sâu (Deep learning), Robot dạy học… Các giải pháp này không chỉ nới rộng không

Trang 14

5

gian, cơ hội, làm tăng chất lượng học tập cho người học mà còn hỗ trợ mạnh

mẽ cho “người dạy số” trên các phương diện: tổ chức quá trình dạy học

Thứ tư là Học liệu số (Digital learning resources)

- Cùng với sự bùng nổ hiện nay của công nghiệp nội dung số (DCI), lĩnh vực giáo dục nói chung và phát triển học liệu số nói riêng đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ Các nguồn dữ liệu thông tin, nội dung kiến thức giáo dục đầu vào được số hóa (thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ) và chuyển giao qua công cụ số nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về “đa giác quan hóa” và tương tác mạnh cho người học

- Không chỉ dừng lại ở việc “số hóa văn bản” hay “học liệu mở” như trước đây, các ứng dụng “game hóa” (gamification) tăng cơ hội nhập vai (immersive) và nhúng người học vào các môi trường thực-ảo để giải quyết vấn đề; mô phỏng thực tế 3D (3D simulation), hoạt hình (animation), tạo ảnh (hologram), tạo video, bài giảng bằng trí tuệ nhân tạo, E-book tương tác… đã giúp học liệu số không chỉ còn thuần túy cung cấp thông tin, nội dung học tập

mà còn tạo khả năng tương tác mạnh với những nội dung đó cho người học

Thứ năm là Môi trường học tập số (Digital learning environment):

- Kết nối hạ tầng trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình giáo dục và đào tạo;

- Tăng khả năng tương tác và sự linh hoạt cho người học trong không gian và thời gian thực-ảo, môi trường học tập thực-ảo (Physical-cyber environment interaction) dựa trên nền tảng số

Bài viết Xu hướng công nghệ giáo dục 2021 đăng trên báo điện tử

giaoducthoidai.vn ngày 03/01/2021 có đề cập tới tám xu hướng công nghệ giáo

Trang 15

6

- Người máy

- Nền tảng Edtech dựa trên đám mây

- Lớp học kĩ thuật số do chuyên gia giảng dạy

- Học tập kết hợp

- Hệ thống lập trình

Thực tế hiện nay, nhiều xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục và dạy học diễn ra Tuy nhiên, các xu hướng tập trung vào vai trò hỗ trợ của công nghệ tới quá trình quản lý, dạy học, kiểm tra đánh giá Có thể thấy rằng công nghệ

là một công cụ đắc lực giúp các nhà giáo dục có thêm công cụ, phương tiện để truyền tải nhiều dạng thức thông tin hơn; cập nhật tri thức nhanh chóng hơn; lưu trữ, quản lý thông tin nhanh gọn, hệ thống hơn; thu hút sự tham gia, trải nghiệm của người học một cách tích cực hơn Không những vậy, những xu hướng công nghệ trong quá trình chuyển đổi số cũng đặt ra những yêu cầu để các nhà giáo dục cũng cần phải nhìn nhận, thay đổi tư duy và hành động để đáp ứng các nhu cầu của người tiếp nhận

2.1.2 Yêu cầu và thách thức

Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã hình thành những đột phá về tư duy

và công nghệ mới, làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, tác động không nhỏ tới giáo dục và dạy học Những xu hướng mới cũng đặt ra nhiều yêu cầu

và thách thức với cả người dạy và người học

Trước hết là các yêu cầu của quá trình chuyển đổi số trong giáo dục và dạy học Chuyển đổi số trong giáo dục và dạy học là xu hướng tất yếu, song quá trình này vẫn phải đảm bảo đáp ứng những mục tiêu cần đạt của chương trình đào tạo nói chung và chương trình môn học nói riêng Quá trình này cũng không tách rời mà bổ sung, hỗ trợ các phương pháp dạy học (PPDH) nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong việc hình thành những năng lực và phẩm chất cho HS Chuyển đổi số không có nghĩa là tuyệt đối hóa vai trò của công nghệ mà xem nhẹ vị trí của GV Trong quá trình này, GV đóng vai trò là người dẫn dắt, ứng

Trang 16

7

dụng các kĩ thuật CNTT để khiến cho bài học trở nên đa dạng, phong phú về cách truyền tải tri thức, khơi gợi được sự hứng thú, khiến người học sẵn sàng tham gia, nhập cuộc vào quá trình lĩnh hội nội dung Như vậy, ứng dụng CNTT không đồng nghĩa với việc “làm thay”, “làm hộ” HS những nhiệm vụ học tập Đây là phương tiện giúp cho người học tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng và thú vị hơn Chuyển đổi số không chỉ dừng lại là ứng dụng CNTT vào một vài trang giáo án điện tử hay một số trò chơi khởi động mà quan trọng hơn là tạo

ra một môi trường học tập để HS là người có thể nhập vai trải nghiệm, bộc lộ những kĩ năng, năng lực và phẩm chất khi giải quyết vấn đề mà GV đưa ra

Tuy nhiên, khi áp dụng chuyển đổi số trong giáo dục và dạy học, chúng

ta cũng cần nhìn nhận vào thực tế khách quan với nhiều thách thức đang tồn tại

Đầu tiên phải kể đến hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT (như máy tính, máy quay, ), đường truyền, dịch vụ Internet cho cơ sở giáo dục, GV, HS, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn, lạc hậu Nhiều địa phương chưa đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số (cả về quản lý giáo dục và dạy - học) Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng về cơ hội học tập, tiếp cận kiến thức giữa HS ở các vùng miền

Thứ hai, việc xây dựng, cập nhật học liệu số, thẩm định, chia sẻ học liệu

số đòi hỏi sự đầu tư lớn cả về nhân lực và tài chính nhằm đảm bảo kho học liệu

số đầy đủ, đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, tham khảo của người học ở từng môn học Hiện nay, vấn đề xây dựng học liệu số (thư viện điện tử, sách điện tử, bài giảng điện tử, phần mềm ứng dụng mô phỏng phần mềm học điện tử) còn diễn ra tự phát, chưa đồng bộ theo hệ thống, chưa được kiểm định về chất lượng Một số lượng lớn học liệu có chất lượng lại chưa có

cơ hội để nhiều người tiếp cận dẫn đến lãng phí tài nguyên

Thứ ba, việc thu thập, chia sẻ, khai thác dữ liệu quản lý giáo dục và học liệu số cần hành lang pháp lý chung để phù hợp với các quy định về bản quyền

Trang 17

Thứ năm, người tham gia còn chưa sẵn sàng với công cuộc chuyển đổi

số trong giáo dục và dạy học Vấn đề này tồn tại ở cả người dạy và người học khi điều kiện tiếp cận, khả năng ứng dụng CNTT ở các đối tượng chưa đồng đều; các khóa đào tạo về sử dụng công nghệ số chưa được thực hiện đồng bộ ở các nhà trường hoặc đã, đang thực hiện nhưng không đạt hiệu quả cao

Từ những yêu cầu và thách thức trên, chúng tôi nhận thấy quá trình chuyển đổi số trong giáo dục và giảng dạy là một hành trình Trong đó, mỗi cá nhân, dù là người quản lý, người dạy hay người học đều cần ý thức được giá trị của chuyển đổi số, có tâm thế sẵn sàng lĩnh hội, thử nghiệm, trải nghiệm, rút kinh nghiệm và hoàn thiện

2.2 Bối cảnh dạy học hiện nay và một số hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số

2.2.1 Ở nước ngoài

Trên thế giới việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào lĩnh vực giáo dục được quan tâm, sử dụng rộng rãi trong các nhà trường bởi những tiềm năng và ưu thế của CNTT trong việc nâng cao hiệu quả dạy và học

Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, các tác giả Davis Gardner và Deidre Mc Cann đã đưa ra một số yêu cầu, ý tưởng trong việc khai thác thông tin đa phương tiện từ các CD-Rom, internet nhằm giúp học sinh có cơ hội tiếp cận, trao đổi thông tin một cách đa dạng, tích cực giữa GV với HS và giữa HS với

HS Thực tiễn giáo dục những năm qua đã chứng minh vai trò, tầm quan trọng

Trang 18

9

và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học cho thấy việc ứng dụng này là

xu thế tất yếu của giáo dục

Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục đã được nhiều các tổ chức và các

nhà khoa học nghiên cứu: Tác giả Peter Van Gils trong tài liệu Công nghệ thông

tin trong giáo dục, thuộc dự án ICTEM - VVOB (2003) đã nhấn mạnh vai trò

của CNTT như một phương tiện trợ giảng, CNTT là một phương tiện mở, CNTT khuyến khích sự tham gia của HS và góp phần nâng cao thành tích học tập Tác giả đã đưa ra những lý do khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT ở các nhà trường hiện đại trong từng khâu tổ chức quản lý, giảng dạy, học tập; chỉ ra những kĩ năng với việc ứng dụng lồng ghép CNTT đối với GV,

và HS trong quá trình dạy học Tài liệu nghiên cứu cũng đã trình bày những quan điểm về các cách thức khác nhau khi ứng dụng các phương tiện truyền thông mới Tác giả đưa ra cách nhìn mới về vai trò của GV và HS Từ đó, Peter Van Gils đề ra những cách tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT trong lớp học theo từng cấp học

Luận án tiến sĩ của Mohammed I Isleem (2003), đại học Ohio (Hoa Kỳ),

đã đưa ra những nghiên cứu về mối tương quan của các yếu tố cơ bản khi ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học của GV ngành công nghệ giáo dục (technology education teachers) Tuy nhiên, luận án mới chỉ dừng lại ở khách thể nghiên cứu là giáo viên ngành công nghệ

Các tác giả Cher Ping Lim; Ching Sing Chai; Daniel Churchill trong

cuốn: Các mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục hiện đại

(2010) đã đưa ra bộ công cụ nâng cao năng lực cho các trường đào tạo giáo viên ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời giải thích lý do phải ứng

dụng CNTT vào nhà trường sư phạm và thực tế tồn tại hiện nay: “Mặc dù đã

có nhiều bằng chứng cho thấy CNTT có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chất lượng dạy và học cũng như việc tiếp cận CNTT ngày càng dễ dàng hơn, đa số giáo viên trên thế giới ngày nay vẫn chưa sử dụng công nghệ thành thạo hay

Trang 19

10

thường xuyên để có thể khai thác tiềm năng của nó” Từ đó, các tác giả đưa ra

những phương tiện đánh giá từ các bài kiểm tra trình độ được chuẩn hóa đến

hồ sơ bài dạy điện tử đã được sử dụng để đánh giá trình độ tích hợp CNTT phục

vụ cho giảng dạy của các GV Việc đánh giá dựa trên bốn phương diện, đó là: khả năng sử dụng CNTT, thái độ và niềm tin đối với việc sử dụng CNTT, lý luận sư phạm và việc sử dụng CNTT trong thực tế

Trong bài báo Công cụ công nghệ hỗ trợ việc đọc trong thời đại kỹ thuật

số (2012), các tác giả Biancarosa và Griffiths đã đưa ra lập luận về công nghệ

đối với quá trình đọc Họ cho rằng: “công nghệ có thể được khái niệm hóa như

những công cụ truyền cảm hứng mà GV có thể triển khai trong nhiệm vụ tạo ra những độc giả trẻ tuổi có kỹ năng đọc viết và kiến thức nền tảng cao hơn theo yêu cầu của xã hội dựa trên thông tin sẵn có” Từ đó, các tác giả làm nổi bật

một số phương thức công nghệ đã được sử dụng để xây dựng các kỹ năng và kiến thức cần thiết cho đối tượng đã có kinh nghiệm trong việc đọc và cả những người đang hình thành kĩ năng đọc

2.2.2 Ở trong nước

Ở nước ta, Tin học được đưa vào thử nghiệm với tư cách một bộ môn trong Nhà trường vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, đánh dấu sự xuất hiện của công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học tại trường phổ thông Những năm cuối của thế kỉ XX xuất hiện nhiều những công trình nghiên

cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học Có thể kể đến như các bài viết: “Ứng

dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục” của Trần Kiểu

và Nguyễn Thanh Lương, 1994; “Công nghệ thông tin với việc giảng dạy các

môn khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường” của Phan Trọng Luận,

1998; “Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin - Xu thế của

thời đại” của Quách Tuấn Ngọc, 1999;

Bước sang thế kỉ XIX, với chủ trương đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong

giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã ra Chỉ thị số 58- CT/TW ngày 17 tháng 10 năm

Trang 20

11

2000 Trong đó, Chỉ thị nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho GD&ĐT, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở GD&ĐT” Nhằm khẳng định xu thế tất yếu của việc sử dụng CNTT vào quá trình dạy học,

nhiều bài viết, tài liệu cũng đề cập với vấn đề này, có thể kể đến như: “Công

nghệ thông tin với việc dạy học trong nhà trường Việt Nam” của Lưu Lâm,

2002; “Sự hỗ trợ của máy vi tính với hệ thống multimedia trong dạy học” của

Lê Công Triêm, 2002; “Xu thế nghiên cứu thiết kế và sử dụng thiết bị dạy học

mới có ứng dụng CNTT và truyền thông” của các tác giả Nguyễn Thị Kim

Thành, Ngô Quang Sơn, 2003; Nội dung các tài liệu đều đưa ra những vấn đề

có tính định hướng chung về những nguyên tắc, quy trình, nhưng ưu điểm, hạn chế trong việc sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học dưới sự hỗ trợ của công nghệ Tuy nhiên, các tác giả chưa chỉ ra được những giải pháp khả thi khi

áp dụng với đối tượng HS ở trường phổ thông

Nhiều vấn đề liên quan đến ứng dụng CNTT trong dạy học đáp ứng yêu

cầu chuyển đổi số được khái quát trong “Giáo trình Lý luận và công nghệ dạy

học” của các tác giả Tôn Quang Cường (chủ biên), Nguyễn Ngọc Bích, Phạm

Kim Chung Công trình nghiên cứu này đã đặt ra những vấn đề lí luận khái quát

về đặc trưng của quá trình dạy học hiện nay, đưa ra định hướng về kế hoạch, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá Cùng với đó, các tác giả giới thiệu một số mô hình dạy học tích cực, các kĩ thuật dạy học mới, đi sâu vào chỉ ra bản chất của công nghệ dạy học, những thành tố tạo nên công nghệ dạy học, các mô hình tiếp cận trong công nghệ dạy học và đặc biệt là

sự thay đổi của quá trình dạy học khi có sự tham gia của công nghệ với các xu hướng sử dụng công nghệ trong dạy học hiện nay

Đối với quá trình dạy học đọc hiểu VB trong môn Ngữ văn, cụ thể là dạy học đọc hiểu VB trữ tình, có nhiều nghiên cứu trong nước cũng đã chỉ ra những quy trình, cách thức tổ chức các hoạt động Một số những đóng góp có thể kể

Trang 21

12

đến các công trình: Quy trình dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình trong sách

giáo khoa trung học phổ thông từ lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ của tác giả Lê Thị

Thùy Vinh; Dạy học đọc hiểu thơ mới 1932 - 1945 ở trường phổ thông theo

đặc điểm loại hình của tác giả Phan Ngọc Thanh; Giáo dục giá trị văn hóa cho học sinh trong dạy học Thơ mới theo chủ đề ở trung học cơ sở của tác giả Phạm

Mai Phương; Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học đọc hiểu văn bản thơ mới

ở Trung học phổ thông của tác giả Phạm Thị Thu Nga; Biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 của tác giả Nguyễn Thị

Anh; Đề xuất quy trình tổ chức hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu quả

đọc thẩm mĩ trong thơ trữ tình ở Trường trung học phổ thông của tác giả

Nguyễn Phương Mai; Hướng dẫn học sinh lớp 11 đọc hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ

Dạ của Hàn Mặc Tử theo hướng giải cấu trúc của tác giả Đinh Thị Hồng;…

Trong việc xây dựng các quy trình đọc hiểu các VB trữ tình, các tác giả đã đưa

ra những giải pháp, biện pháp nhằm tăng cường sự hứng thú của HS với bài học, đẩy mạnh mức độ tham gia các hoạt động học tập theo nhóm, theo cặp đôi trong quá trình học tập trên lớp nhưng chưa có bộ công cụ để lưu trữ những ý kiến đóng góp, phản biện của từng cá nhân Những trao đổi của GV và HS vẫn dừng lại ở dạng tĩnh, kết thúc bài học các dữ liệu chưa có khả năng được “tái

sử dụng” trong những tiết học tìm hiểu VB cùng đặc trưng thể loại hoặc có quy

trình tìm hiểu tương tự

Bên cạnh đó, những ưu thế của việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy

và học cũng được thể hiện sâu sắc qua góc nhìn nghiên cứu của tác giả Nguyễn

Bá Long với bài viết Đôi điều về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Văn - Đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông mới Tác giả đã chỉ ra sự cần

thiết cũng như tính ưu việt của các công cụ CNTT trong việc quản lý, thiết kế các hoạt động học tập

Có thể thấy, những nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên

Trang 22

13

cứu Mỗi công trình đem đến những hướng nghiên cứu riêng về hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học Đây cũng chính là tiền đề, cơ sở giúp chúng ta có được cái nhìn khái quát nhất về ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và trong dạy học đọc hiểu VB nói riêng

2.3 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản và ca từ trong tác phẩm của Trịnh Công Sơn

2.3.1 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản

Trong bối cảnh đổi mới nội dung và phương pháp dạy học đọc hiểu VB,

những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu đã ra đời: “Đọc hiểu và chiến

thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông” của tác giả Phạm Thị Thu

Hương, 2012; “Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn THPT” của tác giả

Đỗ Ngọc Thống, 2018; Theo GS.TS.NGND Trần Đình Sử, đọc hiểu VB là một

khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học văn hiện nay: “Từ đọc

hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính” [19]

Nhận thấy được tầm quan trọng của việc lấy người học làm trung tâm, hàng loạt những phương pháp và kĩ thuật dạy học mới ra đời Và CNTT trở thành một công cụ hữu ích Nhiều công trình nghiên cứu về các hướng ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu đã đi vào khai thác các công cụ công nghệ phục vụ cho từng hoạt động học tập như: Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục

“Dạy học tác phẩm tự sự ở trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” của tác giả Lê Thị Ngọc Anh - Trường Đại học Sư phạm, Đại học

Huế; Luận văn thạc sĩ “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học trong dạy

học đọc hiểu truyện lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh”

của tác giả Chu Bích Thủy - Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN; Luận văn

thạc sĩ “Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất lượng dạy học một số tác

phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ở trường trung học phổ

Trang 23

14

thông tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương - Trường Đại

học Sư phạm Thái Nguyên; Luận văn thạc sĩ “Các biện pháp tạo hứng thú

trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Chương trình Ngữ văn 11)” của tác giả Nghiêm Thu Trang - Trường Đại học

Giáo dục, ĐHQGHN

Hiện nay, ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học ở nước ta có triển vọng khi điện thoại thông minh và mạng internet được sử dụng rộng rãi và phổ biến Theo thống kê, lượng người sử dụng internet năm 2018 đạt 64 triệu, chiếm 67% tổng dân số Việt Nam lọt vào top 10 quốc gia có tỷ lệ người tiếp cận Internet cao nhất, với khoảng 80% dân số sử dụng internet tính đến hết năm 2019, trong đó phần đông là giới trẻ, nhất là đối tượng học sinh, sinh viên Đại dịch Covid 19 xảy ra, một lần nữa chúng ta đều nhận thấy được vai

trò to lớn của CNTT trong việc dạy và học “Kho học liệu số, học liệu mở đã

được xây dựng với 7.000 bài giảng điện tử, 200 đầu sách giáo khoa phổ thông, thí nghiệm ảo Như chúng ta thấy khi dịch Covid xảy ra, các trường học phải tạm dừng đóng cửa, với phương châm “dừng đến trường, không ngừng học”,

có đến 80% trường học đã nhanh chóng chuyển sang dạy học trực tuyến” Tất

cả các môn học, kể cả Ngữ văn đều có thể truyền tải nội dung trực tuyến với

sự trợ giúp của nhiều công cụ công nghệ số Đặc biệt trong các bài giảng dạy đọc hiểu văn bản trực tuyến, công nghệ được khai thác triệt để tạo nên những giờ học sinh động, không còn hình thức đọc - chép đơn thuần, thay vào đó là nội dung bài học được hình ảnh hóa, có sự kết nối với nhiều nguồn tư liệu trực tuyến khác GV đánh giá kết quả học tập của HS dưới nhiều hình thức đa dạng: sử dụng Google form, Games online, bài tập dự án,

2.3.2 Những nghiên cứu về ca từ của Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn không chỉ được biết đến với vai trò là một nhạc sĩ đại tài của nền âm nhạc Việt Nam, ông còn được nhắc tới trên cương vị là một nhà

Trang 24

15

hội họa, một nhà thơ Hơn 20 năm đã qua đi kể từ ngày mất của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhưng người ta vẫn nhắc tới ông với niềm say mê trong những không gian văn hóa, văn học, triết học, ngôn ngữ, đời sống, Người ta nhớ về ông

như một phù thủy về ngôn ngữ, với nghệ thuật sáng tạo ca từ không ai làm giả

được (Lê Hữu) Trong bài viết “Ca từ trong những tình khúc của Trịnh Công

Sơn”, tác giả Mai Văn Hoan đã cho rằng: “Nhạc chỉ là “chiếc xe tải” chở thơ

anh đến với mọi người Thực tế rất khó lòng tách bạch giữa thơ và nhạc trong những ca khúc của anh Nhạc và thơ hoà quyện vào nhau, nương tựa vào nhau tạo nên những nhạc phẩm đã và sẽ làm say mê hàng triệu triệu trái tim qua bao thế hệ Trong đó phải nói phần ca từ đóng một vai trò hết sức quan trọng Một

số lượng khá lớn ca từ của Trịnh Công Sơn có thể tách ra trở thành những bài thơ hoàn chỉnh.” [17] Chất thơ trong ca từ nhạc Trịnh được “tinh chế” qua

cách diễn đạt mang những nét đặc trưng của thơ ca hiện đại Ở phần ca từ trong các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn, người ta thấy được những mạch nguồn cảm xúc mang hơi thở của thơ ca, những cấu trúc trùng điệp, các biện pháp tu từ, cách gieo vần, tạo nhịp điệu,… có điểm tương đồng với những hình

thức nghệ thuật trong thơ ca Tác giả Dương Thanh Tùng trong bài viết Mối

tương quan giữa nghệ thuật âm nhạc và một số loại hình nghệ thuật khác đã

chỉ ra rằng: “Thực chất, các âm trong văn học chính là âm thanh của từ ngữ

được phát ra và được tinh lọc để đưa vào âm nhạc” [19]

Trong lịch sử nghiên cứu, nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đã đi sâu khai thác đặc điểm ca từ trong các sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn Chúng ta

có thể kể đến một số công trình như: cuốn sách Trịnh Công Sơn, một người thơ

ca, một cõi đi về của nhóm tác giả Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn

Tử Huyến;

Nhìn chung, ở những mức độ khác nhau, các giáo trình, công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết, nêu trên đều là những tư liệu hữu ích, là cơ sở quan trọng

Trang 25

- Đề xuất các biện pháp ứng dụng CNTT trong quá trình xây dựng hoạt động dạy học, góp phần đổi mới PPDH đọc hiểu VB trữ tình đáp ứng yêu cầu của CT mới 2018 (đối với HS lớp 10)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Thiết kế, đề xuất giải pháp ứng dụng công nghệ số trong dạy học đọc hiểu văn bản cho HS lớp 10

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các hoạt động đã đề xuất

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy học đọc hiểu VB nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung tại trường trung học phổ thông ở Việt Nam

5.2 Đối tượng nghiên cứu

- Biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu VB Nhớ mùa thu

Hà Nội của Trịnh Công Sơn

6 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: phần văn bản đọc hiểu theo Chương trình giáo

dục phổ thông mới 2018 với bài học đề xuất:

+ Nhớ mùa thu Hà Nội (phần ca từ) - Trịnh Công Sơn

+ Bên cạnh đó, có thể sử dụng nhiều văn bản mở rộng trên Internet

- Phạm vi về địa bàn: Trường THPT Khoa học Giáo dục

Trang 26

17

7 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Nghiên cứu những chủ trương, chính sách của Nhà nước, của ngành Giáo dục có liên quan tới nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài đặc biệt là các tài liệu viết về hoạt động các hoạt động ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học nhằm xác định được những căn cứ làm cơ sở lí luận ban đầu

để tiếp tục nghiên cứu

7.2 Phương pháp điều tra

- Điều tra về chất lượng học sinh ở các lớp để lựa chọn lớp thực nghiệm

- Tiến hành thử nghiệm, quan sát các giờ dạy học đọc hiểu VB Nhớ mùa

thu Hà Nội nhằm bổ sung cho lí luận và chỉnh lí các biện pháp sư phạm

- Sử dụng phiếu điều tra, bảng hỏi, phỏng vấn

7.3 Phương pháp chuyên gia

- Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm: chuyên gia, cán bộ quản lý, GV, HS về hoạt động ứng dụng công nghệ

trong quá trình dạy học đọc hiểu VB Nhớ mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn

và những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức các hoạt động đó trong dạy học đọc

hiểu VB trữ tình hiện đại ở lớp 10

7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, phát phiếu điều tra; so sánh đối chiếu kết quả quá trình thực nghiệm ở từng lớp và giữa các lớp, chiều hướng tương tác, thể hiện năng lực của HS giữa các lớp thực nghiệm

7.5 Phương pháp xử lí số liệu

- Phân tích kết quả thực nghiệm bằng phương pháp phân tích định lượng

và phân tích định tính

Trang 27

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 - Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2 - Đề xuất biện pháp ứng dụng các công cụ công nghệ trong

dạy học đọc hiểu văn bản Nhớ mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn

Chương 3 - Thực nghiệm sư phạm

Trang 28

19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Chuyển đổi số trong giáo dục và dạy học

1.1.1 Khái niệm “chuyển đổi số”

Chuyển đổi số (Digital transformation) là khái niệm xuất hiện khi

internet trở nên phổ biến rộng rãi Chuyển đổi số được hiểu là cách thức chuyển

toàn bộ hoạt động của thế giới thực sang thế giới ảo dựa trên môi trường mạng

internet Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh khái niệm này Tuy nhiên, chuyển đổi số là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu

khi bước vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0 Sự thâm nhập ngày càng sâu rộng của CNTT vào mọi mặt vào mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội đang làm thay đổi căn bản và toàn diện cách thức làm việc, xử lí các dữ liệu, liên hệ, tương tác của con người Theo đó, chúng ta tiếp cận thông tin nhiều hơn, khoảng cách được rút ngắn, không gian được thu hẹp và một vấn đề cũng rất thiết thời là tiết

kiệm thời gian Bởi vậy, có thế thấy rằng chuyển đổi số là xu thế tất yếu, diễn

ra nhanh, có khả năng tác động lớn đến các lĩnh vực, trong đó có giáo dục, nhất

là trong giai đoạn đại dịch Covid -19 đã và đang xoay chuyển các phương thức giáo dục với hình thức trực tuyến

Khái niệm chuyển đổi số thường bị nhầm lần với khái niệm số hóa Nếu như số hóa là bước chuyển thông tin từ định dạng văn bản sang kĩ thuật số thì

chuyển đổi số là sự thay đổi toàn diện từ mô hình đến cách thức tổ chức, vận

hành Chuyển đổi số có thể khai thác các tài nguyên từ việc số hóa, áp dụng

công nghệ để phân tích, biến đổi những dữ liệu, tạo nên những tài nguyên mới

đa dạng hơn cả và nội dung và hình thức Như vậy, có thể coi số hóa là một phần của quá trình chuyển đổi số

1.1.2 Giáo dục và dạy học trong bối cảnh chuyển đổi số

Sự phát triển và bùng nổ về CNTT sẽ là yếu tố quan trọng dẫn đến việc thay đổi căn bản và toàn diện nền giáo dục Từ đó, công nghệ tạo ra những

Trang 29

20

phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ và nhanh chóng sự phát triển của một nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc về con người Khi đó, quá trình dạy học hướng đến mọi đối tượng, tập trung khai thác các năng lực, phẩm chất của mỗi cá nhân, nhu cầu chia sẻ tri thức tăng lên và sự hội nhập trong không gian giáo dục được đề cao

Ở nước ta, thực hiện mục tiêu đào tạo công dân toàn cầu, tháng 6/2020,

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm

2025, định hướng đến năm 2030 Trong đó giáo dục và đào tạo là một trong

tám lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu trong triển khai thực hiện Nguyên Bộ

trưởng Phùng Xuân Nhạ đã phát biểu trong hội thảo Chuyển đổi số trong giáo

dục và đào tạo: “Ngành Giáo dục rất quan tâm tới việc đào tạo những công dân Việt Nam có kiến thức, kỹ năng chuyển đổi số để trở thành công dân toàn cầu Chính vì vậy, chuyển đổi số được ngành xác định là khâu đột phá, nhiệm

vụ quan trọng cần chú trọng triển khai thực hiện những năm tới đây Làm tốt chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà quan trọng hơn

là góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo cơ hội lớn để hội nhập quốc tế”

Khi giáo dục và dạy học hiện đại hướng đến mục tiêu hình thành, phát triển những năng lực, phẩm chất cho người học thì chuyển đổi số là một nền tảng mang những tiềm năng lớn trong việc đem đến những bộ công cụ hữu ích, ưu việt; nền tảng công nghệ quốc gia thống nhất để từng tập thể, cá nhân, mỗi GV,

HS có thể tham gia và hoạt động hiệu quả Trên nền tảng đó sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành, xây dựng kho tài nguyên học tập số, qua đó, công tác quản lý, hoạt động học tập, nghiên cứu, giảng dạy, chia sẻ tri thức trở nên hiệu quả, thiết thực Sự có mặt của CNTT trong giáo dục và dạy học cùng với các phần mềm tiện ích, hiện đại sẽ góp phần thay thế rất nhiều hoạt động giáo dục truyền thống bằng công nghệ mô phỏng, giáo dục trải nghiệm, tăng cường tính tương tác Quá trình kết nối giáo dục được mở rộng không chỉ phạm vi trong nước mà còn vươn ra toàn cầu

Trang 30

21

Quá trình chuyển đổi số có thể được thực hiện trực tiếp và gián tiếp Nhưng trên con đường phát triển trong thời đại công nghệ 4.0, giáo dục và dạy học muốn đi xa, vươn cao thì mỗi nhà giáo dục cần trang bị tốt kỹ năng về chuyển đổi số, biến nó thành năng lực của bản thân để truyền tải, định hướng cho người học, người tiếp nhận Bối cảnh chuyển đổi số sẽ là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ tới phương thức hoạt động quản lý, cách thức vận hành, quá trình tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá, phản hồi Thực tế, chúng

ta có thể nhận thấy một thuận lợi là sự bùng nổ của nền tảng công nghệ IoT, Big Data, AI, SMAC (mạng xã hội - di động, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây) đã và đang hình thành nên hạ tầng giáo dục số Từ đó, những mô hình giáo dục thông minh, hiện đại đang dần được phát triển CNTT đang là cánh tay phải đắc lực cho việc cá nhân hóa quá trình học tập khi mà người học

dễ dàng truy cập kho kiến thức khổng lồ một cách nhanh chóng qua mạng internet; việc tương tác giữa GV với HS, GV với GV hay HS với HS cũng trở nên thuận tiện hơn Với việc xuất hiện hàng loạt những học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến, xây dựng các trường đại học ảo (cyber university), quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá trở nên đa dạng hơn Ngành giáo dục đã và đang tích cực triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung Tính đến tháng 9/ 2020

đã số hóa và định danh dữ liệu của khoảng 53.000 trường học, 1.4 triệu GV và khoảng 23 triệu người học trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố

Chuyển đổi số đồng thời đặt ra cho giáo dục và dạy học nhiều con đường

đi đến những thành tựu nhưng song song với đó cũng là sự tồn tại của những thách thức, khó khăn đòi hỏi phải có sự thay đổi tư duy, dịch chuyển hành động một cách đồng bộ từ các cấp Hay nói cách khác, chuyển đổi số đã mang đến một luồng gió mới đến giáo dục và dạy học nhưng điều cốt yếu vẫn nằm ở cách

đón nhận luồng gió ấy của các nhà giáo dục để làm mới, làm tốt hành trình tạo

Trang 31

1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản trong bối cảnh chuyển đổi số

1.2.1 Quan niệm về “đọc hiểu văn bản”

Hoạt động đọc của con người là việc sử dụng thị giác để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, sử dụng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung và sử dụng

bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt thông tin đã tri nhận đến người nghe

Hiểu là một hoạt động nhận thức nhằm phát hiện và trình bày được mối liên hệ theo các cấp độ từ thấp đến cao của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào

đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự nhận thức với khả năng bao quát nội dung, vận dụng vào giải quyết vấn đề Hiểu là khi người đọc trả lời

được các câu hỏi Cái gì? Làm thế nào? Như thế nào?

Đọc hiểu là đọc kết hợp với các năng lực tư duy và biểu đạt Khi tiếp cận tác phẩm văn chương, đọc hiểu nhằm mục đích làm rõ: Nội dung của VB; mối quan hệ ý nghĩa của VB do tác giả tổ chức và xây dựng; ý đồ, mục đích, thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu

tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc VB; thể loại của

VB, hình tượng nghệ thuật…

Như vậy, đọc hiểu có thể hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của VB thông qua khả năng tiếp nhận của HS Đọc hiểu là quá trình tiếp xúc với VB, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật

Trang 32

23

Với quan điểm tập trung phát huy vai trò chủ thể của HS, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), vấn đề đọc hiểu VB ngày càng được quan tâm

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh tri thức văn hóa Khái niệm đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có nhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn và cũng xuất hiện nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau của các học giả, các nhà nghiên cứu

UNESCO cho rằng, đọc hiểu là “khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải

thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối cảnh khác nhau Đọc hiểu đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng

và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn.”

Theo GS Trần Đình Sử trong cuốn Đọc văn, học văn (2001), đọc được

coi là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ VB và phải hiểu ngôn ngữ của văn bản

cùng những tác động qua lại giữa chủ thể và VB Đọc là quá trình giao tiếp và

đối thoại với người tạo ra VB, đồng thời là quá trình “tiêu dùng” văn hóa VB (nhằm mục đích tận hưởng, giải trí hay học tập, nghiên cứu, ) Cũng theo tác

giả, hiểu là một khái niệm mang nội hàm rộng Hiểu mang nghĩa là tiếp nhận

(cảm thụ) kí hiệu vật chất (con chữ, hình khối, màu sắc, ), hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh, đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành, đồng cảm, phản đối, bác

bỏ Bản chất của hoạt động hiểu là biến cái của người khác thành cái của mình hay đặt vấn đề dưới góc nhìn, sự soi chiếu của bản thân, theo cách riêng của mình dựa trên nền tảng tri thức, quan điểm, niềm tin,

Theo GS Nguyễn Thanh Hùng “Đọc - hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc - hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực của người đọc (…) Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các mối quan hệ đó

Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống” Ở bài viết Năng

Trang 33

24

lực đọc hiểu tác phẩm văn chương của học sinh THPT, tác giả cũng lí giải vấn

đề đọc văn là quá trình giải quyết vấn đề tương quan của các cấu trúc tồn tại

trong tác phẩm Trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu Văn, tác giả cũng đã dành

một phần lớn để tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề đọc hiểu trên thế giới và Việt Nam Từ đó, tác giả khẳng định đọc hiểu là một phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học, có quan hệ với năng lực đọc, hành động đọc,

kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của VB nghệ thuật ngôn từ

Như vậy, đọc hiểu là toàn bộ quá trình tiếp xúc trực tiếp với VB, bao gồm quá trình cảm thụ kí hiệu vật chất và nhận ra ý nghĩa của những kí hiệu

đó Đây đồng thời là quá trình nhận thức, quá trình tư duy (tiếp nhận và phân tích lí giải ý nghĩa của VB, phát hiện những tầng ý nghĩa không hiện sẵn trên

bề mặt con chữ, phân tích những biểu tượng, ẩn ý của VB và diễn tả lại bằng quan điểm, góc nhìn của người tiếp nhận), là quá trình phản hồi, sử dụng VB

Từ sự thay đổi về nhận thức, tư tưởng, tình cảm, người đọc sẽ khám phá ra những tầng nội dung, ý nghĩa, giá trị của VB trong các thời đại khác nhau Đọc hiểu VB là quá trình đòi hỏi việc huy động khả năng tri giác ngôn ngữ để tìm hiểu các tầng ý nghĩa của câu từ và khơi dậy những cảm xúc, khả năng liên tưởng, tưởng tượng để tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm Đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài tìm kiếm, thu nạp thêm thông tin thì người đọc cần có sự đồng cảm, sống cùng nhân vật, trải nghiệm cùng tác giả Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng dạy học đọc hiểu VB không phải đem tri thức, trải nghiệm, cảm xúc của bản thân để cung cấp một chiều cho người học mà đó cần là quá trình định hướng, dẫn dắt người tìm hiểu từng bước khám phá những tầng ý nghĩa của VB

để không chỉ thấy được cái hay, cái đẹp của văn học mà còn tích lũy cho mình những năng lực, trải nghiệm có ích

Từ những quan niệm về đọc hiểu VB và dạy học đọc hiểu VB, chúng tôi cho rằng đây là một quá trình kết hợp tổng hòa khả năng nhận thức và khả năng cảm nhận của người đọc khi tiếp xúc với VB Mục đích hướng tới của quá trình

Trang 34

25

bày không chỉ là thu nhận tri thức mà còn là kiến tạo những ý nghĩa từ VB Và hiện nay, với những tính năng ưu việt, CNTT trở thành một trong những công

cụ đắc lực cho quá trình dạy học đọc hiểu VB, đặc biệt là khi tiếp cận với kiểu

VB có tính chất giao thoa giữa các loại hình nghệ thuật, ví dụ như VB ca từ mang tính thơ

1.2.2 Thực tế dạy học đọc hiểu văn bản trong bối cảnh chuyển đổi số: những thuận lợi và thách thức

Vai trò của chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo là góp phần giảm thuyết giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, tăng cường các giải pháp xây dựng hoạt động phát triển năng lực người học, nhằm nâng cao khả năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học Trong bối cảnh chuyển đổi số có tác động mạnh mẽ tới giáo dục nói chung và quá trình dạy và học nói riêng, việc ứng dụng công nghệ số vào các khâu tổ chức hoạt động dạy học hiện nay đang là xu hướng, nhất là trong giai đoạn dạy học trực tuyến Có thể thấy rằng dạy học đọc hiểu VB là một phần quan trọng trong dạy học Ngữ văn Tuy nhiên, sử dụng công nghệ làm công cụ hỗ trợ cho dạy học đọc hiểu nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động, góp phần phát triển những năng lực, phẩm chất cho HS cũng đã, đang tồn tại cả những thuận lợi và khó khăn

Để có những căn cứ thực tiễn về việc ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu VB nói chung, dạy học đọc hiểu VB trữ tình nói riêng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát về thực trạng sử dụng CNTT của GV và HS Với sự tham gia của

255 HS lớp 10 và 38 GV Ngữ văn, chủ yếu ở các trường: THPT Khoa học Giáo dục - Bắc Từ Liêm (Hà Nội), THPT Xuân Khanh - Sơn Tây (Hà Nội), THPT Phúc Lợi - Long Biên (Hà Nội) về các nội dung khảo sát: đánh giá sự hiệu quả của các công cụ CNTT, mức độ cần thiết của các công cụ công nghệ, tần suất

sử dụng các ứng dụng CNTT, đánh giá năng lực sử dụng các công cụ CNTT, đánh giá sự hiệu quả của việc sử dụng công cụ CNTT trong quá trình dạy và học thông qua Google form thu lại được kết quả như sau:

Trang 35

26

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát thực tế hoạt động sử dụng các công cụ

CNTT của GV và HS Nội dung

Trang 36

- Mức độ 1: Hoàn toàn không cần thiết/ Hoàn toàn không sử dụng/ Hoàn toàn không hiệu quả

- Mức độ 2: Không cần thiết/ Không sử dụng/ Không hiệu quả

- Mức độ 3: Cần thiết một phần/ Ít khi sử dụng/ Có hiệu quả một phần

- Mức độ 4: Cần thiết/ Sử dụng thường xuyên/ Hiệu quả

- Mức độ 5: Rất cần thiết/ Sử dụng rất thường xuyên/ Rất hiệu quả Qua khảo sát cho thấy, HS có mức độ hứng thú và đánh giá cao hiệu quả của các ứng dụng CNTT trong qua trình đọc hiểu VB, tuy nhiên chưa thực sự

có được cách thức ứng dụng sao cho phù hợp Có đến …% HS thường xuyên

sử dụng, % HS sử dụng rất thường xuyên các công cụ CNTT trong quá trình học tập nhưng lại chỉ có % HS tự đánh giá hiệu quả là rất hiệu quả, % HS tự đánh giá là hoàn toàn không hiệu quả, % HS đánh giá là không hiệu quả

Đối với người dạy, đa số GV hiện nay đều cập nhật, lĩnh hội các công văn, thông tư chỉ đạo từ cấp trên về việc tích cực ứng dụng CNTT trong hoạt

Trang 37

28

động giảng dạy Tuy nhiên, theo khảo sát, nhiều thầy cô vẫn còn lúng túng trong việc sử dụng các ứng dụng công nghệ không chỉ bởi tính mới mẻ, tốc độ phát triển nhanh của các nền tảng công nghệ mà còn bởi chưa hiểu rõ hoặc chưa biết cách ứng dụng CNTT sao cho phù hợp với đặc trưng của môn Ngữ văn Theo con số thống kê qua bảng điều tra, có 20.1% người dạy tự đánh giá sự hiệu quả của việc sử dụng CNTT của bản thân trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn là hiệu quả (10.5%) và rất hiệu quả (10.5%) trong khi có đến 52.6% thầy cô cho rằng CNTT rất cần thiết, 26.3% thầy cô cho rằng CNTT là cần thiết trong quá trình dạy học Ngữ văn

Đặc thù của việc dạy học đọc hiểu VB theo định hướng phát triển năng lực của HS là sự thay thế hình thức “giảng văn” bằng các hoạt động đọc hiểu Trong việc tổ chức các hoạt động, chúng ta có thể thấy công nghệ số là nền tảng tạo ra những cơ hội cho GV thực nghiệm nhiều phương pháp giảng dạy và tăng khả năng nhận được phản hồi tức thì từ phía HS CNTT đem đến cho người dạy và người học một kho tài nguyên điện tử khổng lồ, đa dạng Ứng dụng công nghệ số vào bài dạy cũng thu hút được sự tham gia tích cực của người học Công nghệ giúp GV biến các hoạt động tưởng chừng như “khô khan” trở nên sinh động và đơn giản hơn Đồng thời, các công cụ công nghệ cung cấp khả năng truy cập thông tin nhanh, mô phỏng thông tin đa dạng (kênh chữ, kênh hình, kênh tiếng,…) Thực tế cho thấy, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo còn khiến HS mở mang kiến thức, trau dồi vốn hiểu biết Bên cạnh đó, việc sử dụng hiệu quả công nghệ cũng giúp hình thành sự độc lập cho người học trong quá trình tìm kiếm, lựa chọn, sử dụng thông tin Một trong những mục tiêu hướng tới của việc dạy học đọc hiểu VB thơ hiện đại là HS được hóa thân, trải nghiệm những cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình trong tác phẩm; thể hiện những đánh giá, nhận xét, quan điểm các nhân; đưa ra những bài học thực tiễn Công nghệ số không chỉ dừng lại ở việc cung cấp, lưu trữ, trao đổi thông tin mà còn có thể tạo dựng không gian lớp học ảo với những bối cảnh,

Trang 38

29

hiệu ứng kích thích sự tham gia, trải nghiệm của người học để đến gần hơn với tác giả, tác phẩm Các ứng dụng CNTT sẽ rút ngắn khoảng cách, tạo ra những thuận lợi đặc biệt là khi HS tiếp cận với những văn bản mới, tác giả mới

Tuy nhiên, hiện nay, việc học tập dựa trên các nền tảng kĩ thuật số đang bộc lộ một số hạn chế trong quá trình dạy kĩ năng viết sau quá trình đọc hiểu cho HS nếu thiếu đi sự định hướng của GV, khả năng sáng tạo của người học

sẽ bị chi phối bởi nguồn tư liệu phong phú, dồi dào trên các kênh mạng internet;

cá nhân người học cũng có thể sẽ dễ rơi vào trạng thái mất tập trung vào nội dung chính của bài học nếu người dạy quá lạm dụng công nghệ Bên cạnh đó,

sự tương tác giữa các cá nhân cũng cần phải có một quá trình thống nhất trong các khâu nhận diện, thấu hiểu để cùng cộng tác, cùng phát triển Từ những thuận lợi mà công nghệ đem lại, thách thức cũng đặt ra cho GV khi dạy đọc hiểu VB Việc cân đối hài hòa giữa các yếu tố phụ trợ của công nghệ với “chất văn” trong quá trình dạy học đọc hiểu cần phải có sự dịch chuyển từ nhận thức đến hành động của người dạy Bản thân GV cần trang bị những tri thức về các ứng dụng công nghệ; có sự chọn lọc các công cụ, nền tảng công nghệ khi đưa vào sử dụng để giảng dạy một đơn vị kiến thức đọc hiểu làm sao để vẫn đảm bảo mục tiêu bài dạy đồng thời tạo được hứng thú cho HS Lâu nay, phương pháp “giảng văn” mang dấu ấn đậm nét trong phong cách giảng dạy của GV đã tạo ra một thói quen, một hình thức mà khi nhắc tới dạy học đọc hiểu, người dạy thường khó tách rời Tuy vậy, song song với việc áp dụng các PPDH tích cực, công nghệ sẽ là cánh tay đắc lực giúp GV chuyển hóa những hoạt động

“khô khan”, đôi khi là mang tính áp đặt sang các hình thức trải nghiệm cho HS

Như vậy, bối cảnh chuyển đổi số cũng đem đến cho quá trình dạy học đọc hiểu VB hiện nay cả những thuận lợi và thách thức Trong sự dịch chuyển chung của toàn xã hội, sự thay đổi của các PPDH Ngữ văn, quá trình biến những trở ngại thành cơ hội để đổi mới không chỉ là hướng đi mà còn là nhiệm vụ của mỗi GV Ngữ văn trong bối cảnh mới

Trang 39

30

1.3 Đặc điểm thơ trữ tình hiện đại sau 1975

Thơ ca là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, là sản phẩm sáng tạo của tâm hồn và trí tuệ con người Thơ ca đến với đời sống của con người để phản ánh các nhu cầu bộc lộ tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, trăn trở, yêu thương Thơ ca

có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam, là một trong những thể loại xuất hiện sớm Con đường phát triển của thơ hiện đại Việt Nam gắn với những biến động trong tình hình lịch sử xã hội của đất nước Từ phong trào thơ Mới (1930-1945) qua thơ ca cách mạng (1945-1975) qua giai đoạn sau 1975 đến hết thế kỉ XX là một chặng đường với nhiều biến đổi Trong đó có những giai đoạn giữ vai trò như những cuộc “thay máu”, “tái sinh” cho cả nền thơ ca dân tộc Hành trình ấy vừa là cuộc thoát xác khỏi cái bóng khổng lồ của thi pháp thơ trung đại đã ngự trị thành quán tính trong tâm thức của cả đội ngũ sáng tác và những người tiếp nhận thơ, đồng thời là sự khẳng định khát vọng vươn tới một nền thơ ca hiện đại theo đúng nghĩa của một hành trình dấn thân để quyết liệt đổi mới Từ điểm nhìn thơ ca đương đại ngày nay, có thể nhiều giá trị đã bị phá

dỡ khi chúng đã trở thành truyền thống, thành những quy phạm, những chuẩn mực đang ràng buộc thi pháp thơ, nhưng các nhà thơ cũng như các thế hệ độc giả vẫn không thể phủ nhận được vai trò mở đường của một mạch chảy đặc biệt trong thơ Việt Nam hiện đại

Nếu như thơ Mới đã thực sự mở ra “một thời đại trong thi ca” (Hoài

Thanh), thơ cách mạng đã thổn thức những hơi thở của một thời đạn bom đầy anh dũng, hào hung thì thơ ca hiện đại sau 1975 lại đem đến những luồng gió mới dù thời điểm này thơ ca không ở vị trí nổi trội hay có vai trò tiên phong Nhưng với những nhãn quan phong phú, đa dạng, những tìm tòi, những cách tân táo bạo, mạnh mẽ các nhà thơ đã đem đến những thi phẩm mang hơi thở thật gần gũi với đời sống hang ngày Thơ Việt giai đoạn này gắn với những trải nghiệm cá nhân, hướng vào đời sống thế sự và trở về với cái tôi cá nhân Cùng

Trang 40

31

với sự phát triển của các thể loại văn xuôi, thơ ca vẫn là một mạch nguồn sáng tạo vô tận, khắc vào con chữ những tâm tình của con người thời đại, tạo ra những mối liên hệ khăng khít với nhiều loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc, hội họa, điện ảnh

1.3.1 Những chuyển biến trong cảm hứng thơ trữ tình hiện đại sau 1975

Thơ trữ tình hiện đại Việt Nam sau 1975 mang những diện mạo mới, thể hiện trong các khuynh hướng nghệ thuật khác nhau Sự chuyển biến trong cảm hứng thơ trữ tình hiện đại sau 1975 là một sự cách tân đáng ghi nhận

Trước hết, cảm hứng nghệ thuật là trạng thái xúc cảm say đắm, mãnh liệt thể hiện xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật Nguồn cảm hứng ấy khởi phát từ một

tư tưởng, một sự đánh giá nhất định, tác động đến những rung động, cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm Bởi đặc trưng của thơ trữ tình hiện đại là sự bộc bạch trực tiếp những tình cảm, suy nghĩ, trong đó cảm xúc là yếu tố then chốt nên cảm hứng nghệ thuật gắn liền với phương diện nội dung tình cảm chủ đạo của tác phẩm văn học

Nhà phê bình văn học Trần Đăng Suyền đã nhận xét “Nếu “văn học nghệ

thuật là quy luật riêng của tình cảm” thì điều đó được biểu hiện tập trung, sâu sắc nhất trong thơ” [18, 140] Và nói như Hegel “Thơ bắt đầu từ cái ngày con người thấy phải tự biểu hiện lòng mình” Chúng ta có thể thấy rằng, cảm hứng

nghệ thuật của một thi phẩm có vai trò rất quan trọng Nó không chỉ góp phần định hình cảm xúc chủ đạo, nội dung tình cảm của một bài thơ mà còn hình thành thái độ của tác giả đối với nội dung thơ

Thơ Việt Nam hiện đại từ phong trào thơ Mới qua thơ ca cách mạng đến thơ Việt sau 1975 đã hình thành nên những dòng cảm hứng đặc trưng cho từng giai đoạn thơ Nhiều bài thơ từ năm 1980 trở đi, đã không ngần ngại đối diện

và phơi bày tình trạng xã hội và trạng thái nhân thế với nhiều mặt trái vốn trước đây bị che khuất Ở giai đoạn này, thơ ca mang cảm hứng về lịch sử xã hội nhưng khác với giai đoạn những năm tháng kháng chiến khi mà nhận thức về

Ngày đăng: 21/09/2022, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2006
5. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Ban hành theo quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
6. Đỗ Mạnh Cường (2008), Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Tác giả: Đỗ Mạnh Cường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
7. Nguyễn Viết Chữ (2010), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
8. Tôn Quang Cường (chủ biên), Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Kim Chung (2019), Giáo trình Lý luận và công nghệ dạy học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và công nghệ dạy học
Tác giả: Tôn Quang Cường (chủ biên), Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Kim Chung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2019
9. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
10. Phạm Thị Thu Hương (2012), Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
11. Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn (đồng Chủ biên), Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về của nhóm tác giả Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến, NXB Âm nhạc, Trung tâm văn hóa Đông Tây, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về
Nhà XB: NXB Âm nhạc
14. Đặng Thu Thủy, Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới cơ bản, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới cơ bản
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
15. Đỗ Ngọc Thống, Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn THPT, NXB Đại học Sư phạm, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn THPT
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
16. Lã Phương Thúy, Sử dụng công nghệ trong dạy học ngữ văn ở trường phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 458, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công nghệ trong dạy học ngữ văn ở trường phổ thông
17. Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến, Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về, NXB Âm nhạc, Trung tâm văn hóa Đông Tây, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về
Nhà XB: NXB Âm nhạc
18. Trần Đăng Suyền, Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học, NXB Đại học Sư phạm, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
19. Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lí luận văn học, Tập hai, TLDĐ, 1987Danh mục tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
21. The Digital Transformation of Education: Connecting Schools, Empowering Learners. International Telecommunication Union, United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization, and United Nations Children’s Fund 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Digital Transformation of Education: Connecting Schools, Empowering Learners
22. Anh Mai, Mùa thu trong nỗi nhớ của Trịnh Công Sơn, https://vnexpress.net/mua-thu-ha-noi-trong-noi-nho-cua-trinh-cong-son-3296191.html, truy cập ngày 18/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa thu trong nỗi nhớ của Trịnh Công Sơn, https://vnexpress.net/mua-thu-ha-noi-trong-noi-nho-cua-trinh-cong-son-3296191.html
23. Ban thời sự, Nỗ lực chuyển đổi số trong giáo dục, https://vtv.vn/giao- duc/no-luc-chuyen-doi-so-trong-giao-duc 20201214191913077.htm, truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗ lực chuyển đổi số trong giáo dục, https://vtv.vn/giao-duc/no-luc-chuyen-doi-so-trong-giao-duc 20201214191913077.htm
24. Giáo dục Việt Nam, Chuyển đổi số đang ngày càng giúp thay đổi diện mạo ngành giáo dục, https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=7142, truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi số đang ngày càng giúp thay đổi diện mạo ngành giáo dục, https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=7142
25. Giao Hưởng, Trịnh Công Sơn - Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, https://thanhnien.vn/trinh-cong-son-ngon-ngu-va-nhung-am-anh-nghe-thuat-post178119.html, truy cập ngày 20/06/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn - Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, https://thanhnien.vn/trinh-cong-son-ngon-ngu-va-nhung-am-anh-nghe-thuat-post178119.html

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Kết quả khảo sát thực tế hoạt động sử dụng các công cụ CNTT của GV và HS - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Bảng 1.1. Kết quả khảo sát thực tế hoạt động sử dụng các công cụ CNTT của GV và HS (Trang 35)
ThingLink là một nền tảng trực tuyến tạo ra những tương tác hình ảnh. Ở - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
hing Link là một nền tảng trực tuyến tạo ra những tương tác hình ảnh. Ở (Trang 57)
Hình 2.3.3. Mơ phỏng hình ảnh tương tác trên ThingLink - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.3. Mơ phỏng hình ảnh tương tác trên ThingLink (Trang 58)
Hình 2.3.2. Giao diện đăng nhập ThingLink - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.2. Giao diện đăng nhập ThingLink (Trang 58)
Hình 2.3.4. Mơ phỏng giao diện nội dung được đính trên ảnh tương tác ThingLink - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.4. Mơ phỏng giao diện nội dung được đính trên ảnh tương tác ThingLink (Trang 59)
Hình 2.3.6. Mô phỏng giao diện nội dung được đính trên ảnh tương tác - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.6. Mô phỏng giao diện nội dung được đính trên ảnh tương tác (Trang 60)
Hình 2.3.6. Giao diện đăng nhập Padlet - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.6. Giao diện đăng nhập Padlet (Trang 61)
Hình 2.3.8. Các giao diện trong Padlet - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.8. Các giao diện trong Padlet (Trang 62)
Hình 2.3.7. Giao diện sau khi đăng nhập - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.7. Giao diện sau khi đăng nhập (Trang 62)
Hình 2.3.10. Mơ phỏng hình ảnh sử dụng Padlet dạng tường - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.10. Mơ phỏng hình ảnh sử dụng Padlet dạng tường (Trang 63)
Hình 2.3.9. Các giao diện trong Padlet (tiếp theo) - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.9. Các giao diện trong Padlet (tiếp theo) (Trang 63)
Hình 2.3.12. Giao diện chính của Mentimeter - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.12. Giao diện chính của Mentimeter (Trang 64)
Hình 2.3.11. Mơ phỏng hình ảnh sử dụng Padlet dạng giá - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.11. Mơ phỏng hình ảnh sử dụng Padlet dạng giá (Trang 64)
Bước 3: Tạo một câu hỏi/ bài tập thông qua việc lựa chọn các hình thức - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
c 3: Tạo một câu hỏi/ bài tập thông qua việc lựa chọn các hình thức (Trang 65)
Hình 2.3.13. Giao diện đăng nhập của Mentimeter - Ứng dụng công nghệ vào dạy học đọc hiểu văn bản nhớ mùa thu hà nội của trịnh công sơn (chương trình ngữ văn 2018)
Hình 2.3.13. Giao diện đăng nhập của Mentimeter (Trang 65)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w