1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở

106 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Mức Độ Sử Dụng Mạng Xã Hội Và Sự Hài Lòng Về Hình Ảnh Bản Thân Ở Học Sinh Trung Học Cơ Sở
Tác giả Nguyễn Thị Loan
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thành Nam
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ LOAN MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀ SỰ HÀI LÒNG VỀ HÌNH ẢNH BẢN THÂN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LOAN

MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀ SỰ HÀI LÒNG VỀ HÌNH ẢNH BẢN THÂN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LOAN

MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ SỬ DỤNG

MẠNG XÃ HỘI VÀ SỰ HÀI LÒNG VỀ HÌNH ẢNH

BẢN THÂN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TÂM LÝ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN

Mã số: 8310401.05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THÀNH NAM

HÀ NỘI – 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp “Mối quan hệ giữa mức độ sử dụng mạng xã hội và sự hài lòng về hình ảnh bản thân ở học sinh trung học cơ sở” được hoàn thành tại ĐHQGHN – Trường ĐHGD Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới ĐHQGHN – Trường ĐHGD, phòng Đào tạo sau đại học, đặc biệt là PGS TS Trần Thành Nam người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành

đề tài

Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo – các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên nghành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua

Xin gửi tới học sinh và giáo viên của trường THCS thành phố Bắc Ninh và trường THCS nội thành Hà Nội lời cảm tạ sâu sắc vì đã trợ giúp tác giả thu thập số liệu cũng như cung cấp những tài liệu nghiên cứu cần thiết để hoàn thành đề tài

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là những người thân trong gia đình đã quan tâm giúp đỡ để tác giả hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của Thầy Cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2022

Tác giả

Nguyễn Thị Loan

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BISS Thang đo trạng thái hình ảnh cơ thể

BMI Chỉ số khối cơ thể

EAT-26 Bài kiểm tra Thái độ ăn uống

ĐTB Điểm trung bình

GAD-7 Generalized Anxiety Disorder 7 items - Thang đo lo âu

IAT Internet Addiction Test – Thang đo mức độ nghiện Internet và

mạng xã hội của học sinh

Max Điểm tối đa/ giá trị lớn nhất

Min Điểm tối thiểu/ giá trị nhỏ nhất

PACS So sánh ngoại hình hướng xuống

RSES Thang đo Rosenberg Self-Esteem - Thang đo đánh giá lòng tự

trọng của học sinh/ sinh viên

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tỉ lệ nghiện Internet trên thế giới 11

Bảng 1.2 Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa nghiện Internet 13

Bảng 2.1 Đặc điểm của nhóm khách thể 33

Bảng 2.2 Chiều cao của nhóm khách thể nghiên cứu 35

Bảng 2.3 Cân nặng của nhóm khách thể 35

Bảng 2.4 Chỉ số BMI trên nhóm khách thể 36

Bảng 2.5 Thang điểm đánh giá nghiện Internet theo nghiên cứu của Trần Xuân Bách và cs 40

Bảng 2.6 Thang đánh giá mức độ nghiện Internet theo nghiên cứu của Trần Xuân Bách và cs 40

Bảng 2.7 Độ tin cậy của bảng hỏi/thang đo 42

Bảng 3.1 Thực trạng sử dụng MXH của nhóm khách thể nghiên cứu 44

Bảng 3.2 Thực trạng sử dụng các MXH 44

Bảng 3.3 Số lượng tài khoản trong MXH 45

Bảng 3.4 Thời gian trung bình một ngày vào MXH 45

Bảng 3.5 Hoạt động trên MXH của nhóm khách thể nghiên cứu 46

Bảng 3.6 Mức độ gắn bó với MXH 47

Bảng 3.7 Thực trạng về ý thức diện mạo cá nhân dưới ảnh hưởng của MXH 49

Bảng 3.8 So sánh ngoại hình của nhóm khách thể nghiên cứu 51

Bảng 3.9 Sự khác biệt giữa nam và nữ về hình ảnh bản thân trên MXH 54

Bảng 3.10 Sự hài lòng về ngoại hìnhcủa nhóm khách thể nghiên cứu 58

Bảng 3.11 Tương quan giữa mức độ sử dụng MXH và hài lòng ngoại hình 59 Bảng 3.12 Tương quan giữa tổng điểm tương tác, gắn bó và nghiện MXH và các biến số hài lòng ngoại hình 60

Bảng 3.13 Mô hình dự báo ý thức diện mạo trên MXH 61

Bảng 3.14 Mô hình dự báo so ánh ngoại hình hướng lên và hướng xuống 62

Bảng 3.15 Mô hình dự báo hài lòng ngoại hình 62

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Thực trạng sử dụng mạng xã hội của trẻ em (theo quốc gia

và độ tuổi) 7 Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ sử dụng các nền tảng mạng xã hội của trẻ em 8

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Câu hỏi nghiên cứu 2

5 Giả thuyết nghiên cứu 2

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

8 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀ SỰ HÀI LÒNG VỀ HÌNH ẢNH BẢN THÂN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 4

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4

1.1.1 Thực trạng sử dụng mạng internet, mạng xã hội và ảnh hưởng của việc sử dụng mạng internet, MXH đối với những người trẻ 4

1.1.2 Mối quan tâm về hình ảnh bản thân ở độ tuổi học sinh THCS 17

1.1.3 Mối quan hệ giữa sử dụng mạng xã hội và sự hài lòng hình ảnh bản thân của học sinh trung học sơ sở 19

1.2 Các khái niệm và lý thuyết liên quan tới đề tài 23

1.2.1 Khái niệm công cụ của đề tài 23

1.2.2 Lý thuyết về mức độ sử dụng mạng xã hội với sự hài lòng hình ảnh cơ thể 29

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 : TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Một vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 33

2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 36

Trang 8

2.2.1 Tổ chức nghiên cứu 36

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 39

2.2.3 Phương pháp thống kê bằng toán học 42

Tiểu kết chương 2 43

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Thực trạng mức độ sử dụng MXH của nhóm khách thể nghiên cứu 44

3.1.1 Đặc điểm thông tin trên MXH của nhóm khách thể nghiên cứu 44

3.1.2 Các hoạt động trên MXH của nhóm khách thể nghiên cứu 46

3.1.3 Thực trạng mức độ gắn bó MXH của nhóm khách thể nghiên cứu 47

3.1.4 Thực trạng mức độ sử dụng MXH và ý thức diện mạo của nhóm khách thể nghiên cứu 48

3.2 Thực trạng sự hài lòng về hình ảnh bản thân của nhóm khách thể nghiên cứu 51

3.2.1 Thực trạng so sánh ngoại hình của nhóm khách thể nghiên cứu 51

3.2.2 Thực trạng sự hài lòng về hình ảnh bản thân của nhóm khách thể nghiên cứu 57

3.3 Mối liên hệ giữa việc sử dụng MXH và mức độ hài lòng với hình ảnh bản thân 58

3.4 Hồi quy dự báo các biến số ảnh hưởng đến ý thức diện mạo, so sánh ngoại hình và hài lòng ngoại hình 61

Tiểu kết chương 3 63

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học- công nghệ với sự ra đời của mạng Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng đang làm thay đổi cuộc sống Những năm gần đây, mạng xã hội bùng nổ với nhiều hình thức khác nhau như Twitter, Tiktok, Zalo, Instagram, Youtube, Google Plus, Facebook và tính đến nay mạng xã hội đã trở nên rất phổ biến, quen thuộc với mọi người Theo báo cáo thói quen sử dụng mạng xã hội của người Việt Nam cho thấy Facebook đang là mạng xã hội được dùng phổ biến nhất hiện nay cứ 100 người có đến 99 người đăng kí tài khoản

Facebook [45] Trong đó 35 triệu người thường xuyên sử dụng mạng xã hội, 31%

người dùng Internet truy cập các nội dung truyền thông xã hội qua điện thoại Việt Nam đứng thứ 24 toàn cầu về số lượng người dân có thể tiếp cận Internet, là một trong 22 nước trên thế giới có lượng người truy cập mạng xã hội nhiều nhất và

nhóm thường xuyên sử dụng là học sinh, sinh viên và người lao động [8]

Ngoài những lợi ích đem lại như kết nối mọi người, tăng cường tương tác xã hội thì mạng Internet cũng có ảnh hưởng tới việc làm gia tăng các vấn đề sức khỏe tâm thần như lo âu, trầm cảm, vấn đề tư duy và hành vi hung tính có tương quan

thuận với mức độ sử dụng internet ở học sinh [7]

Thực tế cho thấy, đối tượng sử dụng mạng xã hội ngày càng có xu hướng trẻ hóa vì có điều kiện tiếp cận với máy tính và mạng internet, nhanh nhạy trong việc tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ cũng như những trào lưu mới trên thế giới Nhưng khi tham gia mạng xã hội ngoài việc có môi trường tương tác, nó còn là nơi để xây dụng hình ảnh của mỗi cá nhân Do đó, nhóm học sinh trung học cơ sở trải qua tuổi dậy thì có nhiều sự thay đổi cả về về thể chất và tâm lý nên khi tham gia mạng xã hội gặp nhiều khó khăn và chưa hài lòng với hình ảnh bản thân Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy tôi lựa

chọn nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa mức độ sử dụng mạng xã hội và sự hài lòng về hình ảnh bản thân ở học sinh trung học cơ sở”

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng mức độ sử dụng mạng xã hội (giới hạn một số MXH phổ biến như Facbook mesenger, tiktok, instagram) và mối liên hệ giữa mức

độ sử dụng MXH với sự hài lòng về hình ảnh bản thân ở học sinh THCS

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ của việc sử dụng mạng xã hội đến sự hài

lòng về hình ảnh bản thân ở học sinh THCS

3.2 Phạm vi nghiên cứu: gồm 300 học sinh (từ 13,14 tuổi) thuộc 2 trường trung

học cơ sở tại Bắc Ninh, Hà Nội

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng mức độ sử dụng MXH của học sinh THCS như thế nào?

- Thực trạng mức độ hài lòng của học sinh THCS về hình ảnh bản thân trên MXH như thế nào? Liệu có sự khác biệt về giới hay không?

- Mối quan hệ giữa mức độ sử dụng MXH và sự hài lòng hình ảnh bản thân như thế nào?

- Vấn đề như ăn uống, lòng tự trọng, mức độ lo âu ở học sinh THCS có ảnh hưởng như thế nào đến sự hài lòng hình ảnh bản thân trên MXH?

5 Giả thuyết nghiên cứu

5.1 Học sinh THCS đều sử dụng MXH với nhiều mục đích tương tác Phần lớn học sinh đều gắn bó với ít nhất một MXH và quan tâm đến hình ảnh bản thân mình trên MXH

5.2 Học sinh THCS chú ý đến ngoại hình và có xu hướng so sánh ngoại hình hướng lên (với người hấp dẫn hơn) trên MXH Có sự khác biệt giữa nam và nữ về mức độ quan tâm đến hình ảnh bản thân trên MXH và nữ mức độ nhiều hơn nam

5.3 Thời gian sử dụng mạng xã hội càng nhiều, số lượng bạn trên MXH càng lớn, cá nhân càng tích cực tương tác trên MXH, mức độ gắn bó với MXH càng cao thì cá nhân càng quan tâm đến diện mạo và hình ảnh bản thân

5.4 Mức độ hài lòng về hình ảnh bản thân ở học sinh THCS trên MXH bị ảnh hưởng bởi thái độ đối với ăn uống, lòng tự trọng và mức độ lo âu

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận có liên quan tới thực trạng sử dụng mạng xã hội và sự hài lòng về hình ảnh bản thân

Trang 11

6.2 Tìm hiểu thực trạng mức độ sử dụng mạng xã hội và sự hài lòng về hình ảnh bản thân ở học sinh THCS

6.3 Đánh giá mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội và sự hài lòng về hình ảnh bản thân với các vấn đề như ăn uống, lòng tự trọng và mức độ lo âu ở học sinh THCS

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu sẽ giúp bổ sung một số quan điểm lý luận về sử dụng mạng xã hội và ảnh hưởng của việc sử dụng MXH đối với học sinh nói chung Cung thấp thêm bằng chúng lý luận về mối quan hệ giữa sử dụng MXH và sự hài lòng hình ảnh bản thân

ở học sinh THCS cũng như một số vấn đề khác như hành vi ăn uống, tự đánh giá lòng tự trọng hay các vấn đề lo âu

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Chỉ ra thực trạng mức độ sử dụng MXH và mối liên hệ của nó tới cảm nhận

về hình ảnh bản thân của học sinh THCS (nghiên cứu trường hợp học sinh THCS tại 2 trường khu vực Bắc Ninh, Hà Nội)

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn bao gồm phần phụ lục, mở đầu, danh mục viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ, kết luận kiến nghị Ngoài ra nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Tổ chức nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ SỬ DỤNG MẠNG

XÃ HỘI VÀ SỰ HÀI LÒNG VỀ HÌNH ẢNH BẢN THÂN

Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Thực trạng sử dụng mạng internet, mạng xã hội và ảnh hưởng của việc sử dụng mạng internet, MXH đối với những người trẻ

1.1.1.1 Số liệu sử dụng mạng internet, mạng xã hội

Theo thống kê gần đây nhất của We are social , trong tổng số gần 7.91 tỉ người trên toàn cầu năm 2022, số người sử dụng Internet năm 2022 là 4.95 tỉ người, tăng 7.0% so với năm 2021, số người sử dụng mạng xã hội năm 2022 là 4.62 tỉ người, tăng 9.2% so với năm 2021 Riêng tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, với tổng dân số là 4.95 tỉ người, số người sử dụng Internet năm 2022 có 2.92 tỉ người, tăng 9.2% so với năm 2021, số người sử dụng mạng xã hội là 2.84 tỉ người, tăng 9.8% so với năm 2021 Cũng theo thống kê này, trên toàn cầu, thời lượng trung bình sử dụng Internet mỗi ngày là 6 tiếng 43 phút Trong đó, thời lượng trung bình

sử dụng mạng xã hội mỗi ngày là 2 tiếng 24 phút

Cũng theo thống kê này, trong tổng dân số là 98.56 triệu người tại Việt Nam,

có 72,1 triệu người sử dụng Internet (chiếm 73,2% tổng dân số) (tăng 10% so với năm 2021), số người sử dụng mạng xã hội là 76,95 triệu người (tăng 9.6% so với năm 2021) Thời lượng trung bình sử dụng Internet mỗi ngày là 6 tiếng 38 phút Từ

đó, có thể thấy, trung bình chúng ta dành ¼ thời gian mỗi ngày cho việc sử dụng Internet Cũng theo số liệu thống kê tháng 1/2022 này, tổng số người dùng mạng xã hội tại Việt Nam là 76,95 triệu người (tương đương với 78,1% tổng dân số) Theo

đó, tỉ lệ người dùng mạng xã hội của năm 2022 đã tăng lên khoảng 5 triệu người tương đương 6,9% so với năm 2021 Thời gian trung bình sử dụng mạng xã hội là 2 giờ 28 phút hàng ngày Đặc biệt, số liệu thống kê cho thấy có đến 99% người dùng truy cập mạng xã hội qua điện thoại

Nghiên cứu thống kê năm 2022 cũng cho rằng vì các vấn đề liên quan đến COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến nghiên cứu nên số liệu người dùng internet thực

tế có thể cao hơn những con số đã công bố này

Trang 13

Liên quan đến một số mạng xã hội phổ biến ở Việt Nam MXH Facebook đang đứng đầu tiên với 70,40 triệu người dùng tại Việt Nam tính tới đầu năm 2022

Đó là chưa kể rất nhiều người dưới 13 tuổi vẫn đang sử dụng MXH này Và chính facebook cũng nhấn mạnh rằng chỉ có khoảng 89,5% tài khoản là “đủ điều kiện” ở Việt Nam sử dụng Facebook vào năm 2022

Liên quan đến người dùng YouTube tại Việt Nam năm 2022 cho thấy YouTube có 62,50 triệu người dùng tại Việt Nam vào tháng 2 năm 2022 Có khoảng 49,5% khán giả xem YouTube tại Việt Nam là nữ , trong khi 50,5% là nam

Với MXH Instagram tại Việt Nam, những con số thống kê cho thấy Instagram có 11,65 triệu người dùng tại Việt Nam tính đến tháng 2 năm 2022 Cũng theo các con số thống kê, có 63,0% tài khoản Instagram tại Việt Nam là nữ , trong khi chỉ 37,0% là nam

Với MXH TikTok tại Việt Nam năm 2022, số liệu công bố cho thấy Việt Nam có 39,91 triệu người dùng từ 18 tuổi trở lên tại Việt Nam tính đến tháng 2 năm

2022 Vấn đề là TikTok cho người dùng đăng ký từ 13 tuổi trở lên, nhưng lại chỉ hiển thị dữ liệu đối tượng cho người dùng từ 18 tuổi trở lên Trên Tiktok, 53,5% đối tượng là nữ , trong khi 46,5% là nam

1.1.1.2 Trẻ em, thanh thiếu niên với mạng internet và MXH

Nhiều nghiên cứu trong thời gian qua đã giúp chúng ta nhìn thấy bức tranh trẻ em và thanh thiếu niên làm gì khi truy cập internet

Đối với trẻ nhỏ, Livingstone và cộng sự (2013) nhận định rằng những gì trẻ

em dưới 9 tuổi đang làm trên Internet còn hơi sơ sài Một số quốc gia đã bắt đầu theo dõi những gì trẻ làm trên Internet trong khi những quốc gia khác vẫn chưa làm như vậy Trẻ em trong độ tuổi này coi Internet như một nguồn giải trí Những trẻ dưới 3 hoặc 4 tuổi dành nhiều thời gian cho việc xem video clip hơn Ví dụ, YouTube là trang web yêu thích thứ hai của trẻ em dưới 5 tuổi ở Anh Khi lên 3 hoặc 4 tuổi, trẻ cũng bắt đầu thích chơi trò chơi trực tuyến Khi trẻ lớn hơn, trẻ mở rộng việc sử dụng Internet với các hoạt động khác như tìm kiếm thông tin, hoàn

thành bài tập về nhà và giao tiếp, tương tác xã hội [26]

Trang 14

Đến giai đoạn lớn hơn, theo báo cáo của Livingstone, Sonia and Haddon, và cộng sự (2011), việc sử dụng Internet đã đi sâu vào cuộc sống thường nhật của trẻ Trẻ từ 9 – 16 tuổi sử dụng Internet trung bình 88 phút mỗi ngày, trẻ từ 15 – 16 tuổi dành trung bình 118 phút mỗi ngày Trung bình 7 tuổi là độ tuổi mà trẻ sử dụng Internet lần đầu tiên ở Đan Mạch và Thụy Điển, còn ở các quốc gia Bắc Âu là 8 tuổi

và châu Âu nói chung là 9 tuổi 49% trẻ truy cập Internet trong phòng riêng, 33% truy cập qua điện thoại và thiết bị cầm tay 87% trẻ sử dụng Internet tại nhà và có

63% trẻ sử dụng tại trường [32]

Khi trẻ bắt đầu sử dụng Internet, việc đầu tiên 100% trẻ làm là học bài và chơi điện tử một mình hoặc nghịch máy tính Theo thống kê, 23% trẻ ghé thăm các phòng trò chuyện (chat), chia sẻ tệp tin, viết blog và dành thời gian trong thế giới ảo 1/5 trẻ 9 – 12 tuổi và chỉ 1/3 trẻ 15 – 16 tuổi thực hiện một số hoạt động này Ở mọi lứa tuổi, khoảng một phần ba trẻ em ở Thụy Điển, Síp, Hungary và Slovenia thực hiện hoạt động này khi sử dụng Internet Tại các nước châu Âu, hơn một nửa số trẻ dùng Internet từ 9 – 16 tuổi chơi với những người khác trực tuyến, tải phim và nhạc và chia sẻ nội dung (ví dụ: qua webcam hoặc bảng tin), mặc dù chỉ một phần ba trẻ từ 9 – 10 tuổi và dưới một nửa số trẻ từ 11 – 12 tuổi làm được như vậy Hầu hết trẻ em sử dụng Internet tương tác để liên lạc (mạng

xã hội, nhắn tin, email) và đọc/ xem tin tức 2/3 trẻ từ 9 – 10 tuổi và 1/4 trẻ từ 15 – 16 tuổi thực hiện hoạt động này Một nửa số trẻ từ 9 – 10 tuổi, một phần ba trẻ

từ 11 – 12 tuổi làm bài tập ở trường, chơi trò chơi, xem các clip trực tuyến (ví dụ: YouTube) Đây là tất cả những cách sử dụng Internet như một phương tiện đại chúng – để thông tin và giải trí

Liên quan đến sử dụng mạng xã hội, theo thống kê, có 59% trẻ từ 9 – 16 tuổi

sử dụng Internet ở châu Âu có tài khoản mạng xã hội [32] Cụ thể, có 77% trẻ từ 13

– 16 tuổi sử dụng mạng xã hội, và có 38% trẻ từ 9 – 12 tuổi sử dụng mạng xã hội

Trang 15

Biểu đồ 1.1 Thực trạng sử dụng mạng xã hội của trẻ em (theo quốc gia và độ tuổi)

Nguồn: Livingstone, Ólafsson & Staksrud (2011)

Trong đó, Facebook là nền tảng mạng xã hội được trẻ em và thanh thiếu niên

sử dụng phổ biến nhất ở 17 trong số 25 quốc gia và phổ biến thứ hai ở năm quốc gia khác ở châu Âu Trong tất cả trẻ em sử dụng Internet ở châu Âu, Facebook có 1/3 trẻ từ 9 – 16 tuổi và 1/5 trẻ từ 9 – 12 tuổi sử dụng

Trang 16

Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ sử dụng các nền tảng mạng xã hội của trẻ em

tại các quốc gia châu Âu Nguồn: Livingstone, Ólafsson & Staksrud (2011)

Tại Việt Nam, theo kết quả từ một số nghiên cứu của Tổ chức Tầm nhìn Thế Giới và Viện Nghiên cứu Quản lí Phát triển bền vững (MSD), một số phát hiện về hành vi sử dụng Internet và MXH của trẻ em tại 3 quận Hải Châu, Cẩm Lệ, Sơn Trà tại Đà Nẵng và Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông (2017):

Trang 17

Về độ tuổi bắt đầu sử dụng: Đa số trẻ em bắt đầu sử dụng Internet và tham

gia MXH một cách chủ động từ khi các em từ 9 – 11 tuổi Độ tuổi trẻ em bắt đầu sử dụng Internet ngày càng giảm, thậm chí có trẻ từ 2 – 3 tuổi đã bắt đầu

sử dụng các thiết bị có kết nối Internet Theo thống kê, hơn một phần ba số người sử dụng Internet và MXH ở Việt Nam là người chưa thành niên và thanh niên, trong độ tuổi từ 15 – 24

Về thời gian sử dụng Internet:

o Trẻ em (từ 6 tuổi) trung bình sử dụng Internet 2 – 3 giờ/ngày Lớn hơn, tỉ lệ sử dụng trung bình lên tới trên 5 giờ/ngày, thậm chí 6 – 7 giờ/ ngày

o Trẻ thường sử dụng Internet ở nhà vào buổi tối, trừ các giờ học vi tính tại trường, một số trẻ, chủ yếu là trẻ em trai sử dụng Internet để chơi điện tử tại các cửa hàng sau giờ học ở trường

Qua đó, có thể thấy rằng, Việt Nam có chỉ số hiệu năng cao (tỉ lệ sở hữu thiết

bị di động, điện thoại thông minh, kết nối Internet, thời gian sử dụng thiết bị hằng ngày…) Không chỉ có vậy, Việt Nam đang được đánh giá là một quốc gia trẻ đầy triển vọng trong chuỗi tiến trình phát triển trở thành quốc gia số DigCom, UNESCO, UNICEF đều nhấn mạnh đến xoá mù số, tạo cơ hội tiếp cận số cho trẻ Ngoài giờ học tập, điện thoại/máy tính,… là thiết bị công nghệ phổ biến và gần gũi nhất Do đó, chúng ta cần tận dụng các thiết bị công nghệ và Internet và MXH để xây dựng và phát triển năng lực công dân số, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển hiện nay, khi mà trường học hướng đến việc giảng dạy được thực hiện với sự kết hợp, hỗ trợ của các phương tiện công nghệ và Internet, mở ra một thế giới số đầy

Trang 18

tiềm năng, cơ hội cho việc học hỏi, giao lưu, tiếp cận tri thức mới đa dạng, phong phú nhưng cũng đặt trẻ trong bối cảnh có khả năng phải đối mặt với nhiều nguy cơ

và MXH có thể khiến những trẻ bị lo lắng né tránh đối mặt với nỗi sợ hãi Trẻ có thể bị cám dỗ giao lưu trực tuyến để trốn tránh những khó khăn của thế giới xã hội thực Trẻ có thể thu mình khỏi các mối quan hệ, đôi khi hỗn loạn bởi cuộc sống thực và “trốn” vào các mối quan hệ trực tuyến Với vai trò là một thiết bị giải trí, Internet có thể khiến trẻ em rời xa việc học tập hay tương tác trong thế giới thực -

điều vốn cần thiết cho sự phát triển về nhiều mặt của trẻ [37]

Các kĩ năng xã hội và các mối quan hệ có thể bị ảnh hưởng do thời gian mà trẻ giao tiếp trực tuyến nhiều hơn thời gian dành để tương tác trực tiếp, chẳng hạn như việc tình bạn trong thế giới thực Kết quả từ một cuộc khảo sát với hơn 4 000 phụ huynh của Viện Nghiên cứu Định tính Xã hội Stanford từ năm 1999 đã cho thấy có 60% các bậc phụ huynh bày tỏ lo ngại rằng việc sử dụng Internet có thể dẫn đến việc con cái ngày càng bị cô lập Thời gian mỗi người báo cáo dành để tương tác trực tuyến càng nhiều thì thời gian họ dành để tương tác với mọi người trong thế giới thực càng ít [19]

Về mặt sức khoẻ về mặt thể chất, các nhà nghiên cứu đã có lo ngại rằng bản chất ít vận động của việc sử dụng máy tính, Internet nói chung đang góp phần vào

vấn đề thừa cân, béo phì ở trẻ em [10, 24, 29, 42] Ngoài ra, đã có thêm những lo

Trang 19

ngại về các vấn đề ở người dùng máy tính trưởng thành, bao gồm mỏi mắt, suy giảm thị lực, căng cơ lưng, cổ, vai và đau lưng dưới .Cụ thể, thời đại công nghệ dẫn đến việc trẻ em dành nhiều giờ trước ti vi và màn hình máy tính, kết quả nghiên cứu trên 3000 học sinh từ 6 – 18 tuổi đã xác nhận mối liên hệ tích cực giữa béo phì và thị lực kém do dành quá nhiều thời gian cho việc xem ti vi và sử dụng Internet Khái quát hơn, tổng hợp 9 nghiên cứu trên thế giới, Aghasi và cộng sự (2020) chỉ ra rằng việc sử dụng Internet có liên quan tích cực đến tỉ lệ thừa cân và béo phì gia tăng Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa thừa cân, béo phì và việc

sử dụng Internet cũng vẫn còn có những điểm chưa hoàn toàn nhất quán Ví dụ như một nghiên cứu của Úc tiến hành khảo sát những người có hành vi ít vận động, kể

cả sử dụng công nghệ, liên quan đến béo phì ở tuổi trẻ nhưng không cho thấy mối quan hệ đáng kể giữa béo phì và sử dụng công nghệ [10,14]

Về mặt sức khoẻ tâm thần, việc sử dụng Internet quá mức, không hợp lí cũng gây ra những tác động tiêu cực đến sự khoẻ mạnh về tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên Một số cuộc khảo sát, nghiên cứu đã thống kê tỉ lệ các vấn đề liên quan đến sử dụng Internet quá mức, “nghiện” Internet, “nghiện” game Martin Mihajlov

& Lucija Vejmelka (2017) trong báo cáo tóm tắt các nghiên cứu về nghiện Internet trong vòng 20 năm, bắt đầu từ 1996 cho thấy, tỉ lệ người nghiện Internet trên toàn

thế giới khoảng 6% [35]

Bảng 1.1 Tỉ lệ nghiện Internet trên thế giới

Trang 20

Quốc gia Nhóm tuổi Tỉ lệ phần trăm (%)

Tại châu Á, Mak & cộng sự (2014) đã tiến hành một nghiên cứu trên 5 266 thanh thiếu niên từ 12 – 18 tuổi tại 6 nước (Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin) cho thấy khoảng từ 6% đến 21% trong số đó nghiện

Internet [33] Theo dữ liệu được lấy từ Nghiên cứu Quốc gia về Trẻ em Trung Quốc

(NCSC), trong 24 013 học sinh từ lớp 4 đến lớp 9 từ 100 quận ở 31 tỉnh ở Trung Quốc, tỉ lệ nghiện Internet ở học sinh tiểu học (11,5%) thấp hơn không đáng kể so với tỉ lệ học sinh THCS (11,9%) [31] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Minh Công

(2011) cho thấy có khoảng 12,3% học sinh THCS nghiện Internet ở các cấp độ[1]

Nghiên cứu của Trần Xuân Bách và cộng sự (2017) trên 566 người từ 15 – 25 tuổi cho thấy có 21,2% nghiện Internet

Nghiện Internet gây ra những hệ quả tiêu cực, ảnh hưởng đến nhiều chức năng của con người:

(a) Ảnh hưởng đến sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm thần

Trang 21

Bảng 1.2 Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa nghiện Internet

và các vấn đề về sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm thần

Sinh viên Trung Quốc Việc sử dụng Internet quá mức tác động tiêu cực đến thói quen cuộc sống hằng

ngày, chẳng hạn như thiếu bữa ăn và thiếu ngủ

Sally (2006) Sinh viên Trung Quốc Người nghiện Internet thường sử dụng rất nhiều thời gian để phục vụ mục đích khác

nhau trên mạng Vì vậy, họ thường cắt giảm thời gian làm các việc khác như: ăn, ngủ, hay chơi thể thao để có nhiều thời gian hơn sử dụng Internet, từ đó cho thấy những dấu hiệu ảnh hưởng đến sức khoẻ như: tăng huyết áp, bệnh tim mạch, khó khăn trong việc ghi nhớ, thiếu tập trung, đau đầu, đau cơ, giảm thị lực, mệt mỏi do thiếu ngủ, bỏ ăn/ăn không đúng giờ

Choi và cộng sự

(2009)

Thanh thiếu niên

Hàn Quốc Những người nghiện Internet gặp các vấn đề liên quan đến giấc ngủ

Ghassemzadeh

và cộng sự

Thanh thiếu niên

Iran Người nghiện Internet là người cô đơn, có lòng tự trọng thấp hơn và kĩ năng xã hội

kém hơn người dùng ở mức độ trung bình

Trang 22

Trung Quốc So với người dùng Internet bình thường, thanh thiếu niên sử dụng Internet có nhiều

khả năng có các triệu chứng tâm thần, bao gồm thiếu năng lượng, rối loạn sinh lí, suy giảm miễn dịch, triệu chứng cảm xúc, triệu chứng hành vi và các vấn đề thích ứng xã hội

Thổ Nhĩ Kỳ Có sự tương quan thuận giữa sự cô đơn và nghiện Internet

Lin và cộng sự

(2014)

Thanh thiếu niên

Trung Quốc Nghiện Internet có liên quan đến ý tưởng tự sát Thanh thiếu niên nghiện Internet có

nguy cơ về ý tưởng tự sát cao hơn những người không nghiện Internet

Kim and cộng

sự (2006)

Thanh thiếu niên

Hàn Quốc Nghiện Internet có liên quan đến trầm cảm và hành vi tự sát

Ha và cộng sự

(2013)

Thanh thiếu niên

Hàn Quốc Có mối liên hệ giữa nghiện Internet và các triệu chứng trầm cảm

Al-Hantoushi, & Thanh thiếu Ả Rập Saudi Nghiện Internet có liên quan đến mức độ hoạt động ở trường thấp hơn, mức độ kiểm

Trang 23

Ấn Độ Những người sử dụng Internet quá mức có liên quan đến rối loạn lo âu và trầm cảm

Ấn Độ Nghiện Internet tương quan thuận với trầm cảm, lo âu và căng thẳng

Việt Nam Có tương quan thuận giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề sức khoẻ tâm thần

chung ở học sinh THCS, dự báo rằng nếu học sinh THCS sử dụng Internet ở mức độ càng cao thì mức độ gặp các vấn đề về sức khoẻ tâm thần càng cao và ngược lại

Trang 24

(b) Ảnh hưởng đến kết quả học tập

Bên cạnh những lợi ích của việc sử dụng Internet, các tác động tiêu cực của việc sử dụng nó cũng đã được xác định, bao gồm: hiệu suất học tập kém, các vấn đề sức khoẻ vấn đề về mối quan hệ và rối loạn chức năng xã hội Ví dụ, một số nghiên cứu đã có báo cáo điều này Chou và Hsiao (2000) đã phát hiện rằng những người nghiện Internet trải qua nhiều hậu quả tiêu cực hơn những người không nghiện Kết luận này song song với một nghiên cứu của Young (1996), những người nghiện Internet trải qua những vấn đề cá nhân, gia đình, nghề nghiệp và khó khăn trong học tập, gây ra điểm kém và cuối cùng bị trục xuất khỏi các trường đại học [16]

(c) Ảnh hưởng đến tương tác, giao tiếp và kết nối xã hội

Một tác động tiêu cực tiềm ẩn của việc sử dụng Internet ngày càng tăng là nó

sẽ phá hoại và làm suy giảm các mối quan hệ xã hội và giảm chất lượng tương tác

xã hội Có ba vấn đề tiềm ẩn đe dọa các mối quan hệ xã hội và cộng đồng do việc

sử dụng Internet tăng lên hoặc sử dụng quá mức: i) rút lui, thu mình khỏi các mối quan hệ/ cộng đồng xã hội; ii) thay thế các mối quan hệ / cộng đồng bằng các lựa chọn thay thế kém giá trị hơn; và iii) sử dụng Internet dẫn đến suy yếu các mối quan

hệ xã hội [48]

Bên cạnh các nghiên cứu nước ngoài, điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước cũng cho thấy một số hệ lụy của việc sử dụng mạng internet và MXH ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề sức khỏe tinh thần giống như các nghiên cứu ở nước ngoài Đơn cử một số nghiên cứu

Đặng Hoàng Minh và Nguyễn Thị Phương (2013) nghiên cứu trên 278 học

sinh từ lớp 6- lớp 9 lựa chọn ngẫu nhiên tại 4 trường THCS tại Hà Nội cho thấy mối tương quan thuận giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề SKTT chung ở học sinh THCS, dự báo rằng nếu học sinh THCS sử dụng Internet ở mức độ càng cao thì mức độ gặp các vấn đề về SKTT càng cao và ngược lại Cụ thể, mức độ sử dụng Internet cao tương quan thuận với tất cả các hội chứng có vấn đề về SKTT theo

YSR, trong đó tương quan ở mức độ mạnh với hành vi hung tính, lo âu/trầm cảm, Vấn đề Tư duy Kết quả này phần nào dự báo được nếu học sinh sử dụng Internet ở mức độ càng cao thì tần suất xuất hiện hành vi hung tính, lo âu/trầm cảm và vấn đề

Trang 25

tư duy càng cao Mối tương quan giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề SKTT

của học sinh THCS không chịu ảnh hưởng của trường học, giới tính, độ tuổi, điều

kiện kinh tế gia đình [7]

Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2015) chỉ ra hoạt động chủ yếu của sinh viên khi tham gia MXH là tương tác bạn bè, giải trí trực tuyến, thể hiện hình ảnh bản thân và nó chịu ảnh hưởng bởi số lượng giờ sử dụng (trên 5h), số lượng bạn có trên MXH và tần suất thường xuyên trao đổi với bạn Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy xu hướng đánh giá về lòng tự trọng của sinh viên sử dụng MXH đã giúp họ định hướng những loại hình hoạt động của mình trên mạng; khi sinh viên tự đánh giá về lòng tự trọng của mình cao, họ sẽ có những hành động tích cực hơn trên mạng xã hội, và ngược lại việc sinh viên nhìn nhận bản thân thấp kém, họ sẽ có nguy cơ hướng đến đến

những hành động không lành mạnh trên mạng xã hội [2]

1.1.2 Mối quan tâm về hình ảnh bản thân ở độ tuổi học sinh THCS

Các nghiên cứu đi trước khẳng định độ tuổi học sinh THCS đều rất quan tâm đến hình ảnh bản thân

Theo Presnell, Bearman, & Stice (2004) nghiên cứu ở Mỹ cho thấy khoảng 40% trẻ em gái vị thành niên không hài lòng với cơ thể của họ Tương tự trong số mẫu khảo sát ở Vương quốc Anh, 48% báo cáo là không hài lòng với hình thể của mình, với 22% báo cáo rằng họ quá béo và những con số này tăng lên khi 50%

trong số 11-16 tuổi [39]

Khor G L, Zalilah M S, Phan Y Y, Ang M, Maznah B, Norimah A K (2009), thực hiện nghiên cứu để điều tra mối quan tâm về hình ảnh cơ thể của nam và nữ thanh niên Malaysia từ 11–15 tuổi với 2.050 thanh thiếu niên (1.043 nam và 1.007 nữ) Kết quả cho thấy có 87% thanh thiếu niên quan tâm đến hình dạng cơ thể của họ

Vấn đề là trong khi phần lớn các đối tượng nhận biết tình trạng trọng lượng

cơ thể của họ một cách chính xác theo chỉ số khối cơ thể (BMI) thì có khoảng 35,4% nam giới và 20,5% nữ giới ở nhóm nhẹ cân nhận thấy mình có cân nặng bình thường, trong khi 29,4% và 26,7% nam giới và nữ giới có cân nặng bình thường lại cho rằng họ thừa cân Nữ giới có điểm số không hài lòng về cơ thể trung bình cao

hơn đáng kể so với nam giới [30]

Trang 26

Theo nghiên cứu của Akbarbegloo và cộng sự (2010) tại Iran về nhận thức về hình ảnh bản thân đã rằng học sinh bận tâm nhất về “cách những người khác nhận xét tiêu cực về ngoại hình của tôi” và “lo sợ rằng mọi người sẽ phát hiện ra khiếm khuyết trên cơ thể của tôi” Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phụ nữ bận tâm đến sự thu hút về mặt cơ thể hơn là nam giới do những ảnh hưởng của truyền thông trên mạng xã hội và truyền thông đại chúng về hình mẫu của cái đẹp Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng sinh viên Y khoa có ý thức về hình thức bên ngoài và hình ảnh cơ thể hơn những sinh viên không thuộc ngành Y do những định kiến của xã hội

về bác sĩ “là những người có hình thức bên ngoài hoàn hảo” [11]

Nghiên cứu của Amy Slater & Marika Tiggemann (2010 trên 714 thanh thiếu niên (332 trẻ em gái, 382 trẻ em trai) trong độ tuổi từ 12 đến 16 đã chỉ ra rằng cả trẻ

em gái và trẻ em trai đều cho biết bị bạn cùng giới trêu chọc về ngoại hình, bên cạnh đó, trẻ em gái cũng cho biết bị bạn bè khác giới (tức là trẻ trai) trêu chọc về ngoại hình Nghiên cứu này cũng phát hiện rằng sự hài lòng về cơ thể có tương quan thuận với quan niệm về bản thân, ngoại hình và các thuộc tính, cũng như hạnh phúc và sự hài lòng Đối với các nữ sinh lớp 6, quan niệm về bản thân của họ cũng tương quan với sự hài lòng về bộ ngực, cân nặng, sự lo lắng và sự nổi tiếng Cân nặng thực tế của họ có tương quan nghịch với tổng mức độ hài lòng của cơ thể Dữ liệu này kết luận rằng có mối tương quan của hình dáng bên ngoài đối với khái niệm

bản thân và hình ảnh cơ thể [12]

Nghiên cứu của Markey, C N (2010) thì cho biết tầm quan trọng của hình ảnh cơ thể đối với sự phát triển của thanh thiếu niên Phần lớn thanh thiếu niên trong mẫu nghiên cứu không hài lòng về cơ thể; nó có mối liên hệ với sự hiểu biết của họ về nội cá nhân (ví dụ: phát triển dậy thì, sứ khỏe, ) và các yếu tố liên cá

nhân (ví dụ: mối quan hệ gia đình, bạn bè, tình yêu, ) [34]

Helfert S & Warschburger P (2011) nghiên cứu dọc về các tác động của ba loại áp lực xã hội đối với những thay đổi sự hài lòng hình ảnh cơ thể ở vị thành niên

từ 11-16 tuổi ( trẻ em gái là 236 và trẻ em trai là 193) trong khoảng thời gian 1 năm cho thấy mức độ liên quan khi trao đổi đưa ra các tiêu chuẩn và thái độ với bạn bè

là một quá trình hàng ngày ảnh hưởng đến hầu hết thanh thiếu niên; cha mẹ đóng

Trang 27

một phần vai trò quan trọng tới mối quan tâm này, các phương pháp tiếp cận phòng ngừa cần xem xét các mối quan hệ cụ thể như khuyến khích thanh thiếu niên suy nghĩ về niềm tin và thực hành trước khi họ nhận chúng từ bạn bè của họ; hoặc các bậc cha mẹ có con có chỉ số BMI cao hơn cần lưu ý rằng ranh giới giữa hỗ trợ và áp lực nên thực hiện ngăn ngừa và các phương pháp điều trị phù hợp Hơn nữa, cảm giác bị loại trừ xuất hiện như một yếu tố dự báo quan trọng về những lo lắng về cân nặng ở trẻ em trai Tuy nhiên, nghiên cứu trong tương lai là cần thiết để giải thích tại sao chỉ có các bé trai mới bị loại trừ theo cách này và cần đánh giá chi tiết các loại tác động xã hội khác nhau nhằm xác định cụ thể mục tiêu để phòng ngừa và

điều trị hiệu quả các vấn đề liên quan đến cân nặng ở thanh thiếu niên [27]

Tại Việt Nam, Tô Thúy Hạnh (2016) nghiên cứu về hình ảnh bản thân của học sinh lớp 12 thông qua tự mô tả với số lượng 203 học sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội Kết quả thu được từ trắc nghiệm hoàn thiện 20 câu được bắt đầu với hai từ “ Tôi là ” cho thấy bên cạnh những thông tin như đặc điểm, tính cách, sở thích, mong muốn cá nhân, các em còn mô tả hình ảnh bản thân trong mối quan hệ với bạn bè, gia đình và chủ yếu các em chú ý nhiều hơn đến sở thích, dáng vẻ bề ngoài và tính cách của mình Tuy nhiên, nghiên cứu tập trung nhiều vào sự tự đánh giá của bản thân

chưa xét tới khía cạnh các yếu tố xã hội bên ngoài (bạn bè, gia đình, ) [3]

Tóm lại, các nghiên cứu đều chỉ rõ là tuổi học sinh THCS và tuổi vị thành niên đều rất nhạy cảm với hình ảnh bản thân của mình Các nghiên cứu đi trước cũng chỉ nữ giới luôn nhạy cảm và quan tâm cao hơn so với nam giới Kết quả các nghiên cứu chỉ ra sự không hài lòng về hình ảnh bản thân có mối tương quan với chỉ

số BMI, các vấn đề ăn uống, mức độ lo lắng ở học sinh THCS

1.1.3 Mối quan hệ giữa sử dụng mạng xã hội và sự hài lòng hình ảnh bản thân của học sinh trung học sơ sở

Mạng xã hội (MXH) có thể tạo ra những ảnh hưởng tích cực tới cách chúng

ta nhìn nhận cơ thể bản thân Những nội dung về sức khoẻ, thể dục, hay các chế độ

ăn chay đang trở thành những hình mẫu truyền cảm hứng cho một số người dùng Bằng việc xem những nội dung như vậy, người dùng MXH có thể duy trì một cái nhìn về cơ thể một cách lành mạnh và tích cực

Trang 28

Gần đây, tổ chức Eating Disorder Hope đã trình bày chi tiết việc MXH có thể đem lại nhiều ích lợi cho cách phụ nữ nhìn nhận cơ thể của mình Họ cho biết rằng sự lan truyền của làn sóng yêu cơ thể (body positivity) đã tạo ra một không gian mạng nơi mọi loại hình cơ thể đều được chấp nhận và thấu hiểu Chính vì vậy,

“sự ủng hộ dành cho mọi cơ thể trên MXH có thể tạo ra những ảnh hưởng to lớn đến những cá nhân đang tích cực đấu tranh với chứng rối loạn ăn uống.” Thêm vào

đó, thông qua tham gia nhóm hỗ trợ trên các nền tảng khác nhau, một số người dùng

có thể tháo gỡ những kì thị nặng nề về cách nhìn nhận cơ thể [25]

Bên cạnh đó, Instagram có khả năng giúp người dùng cảm thấy mạnh mẽ hơn bằng việc loại bỏ một số từ khoá và hashtag về rối loạn ăn uống để không ai có thể tìm chúng, theo tiến sĩ Sarah Gervais đã chia sẻ trên Psychology Today Khi các cụm từ này bị loại bỏ, mọi người tập trung chú ý hơn tới những cách thể hiện cơ thể lành mạnh trên MXH

Nghiên cứu về phong trào yêu cơ thể và MXH của Fardouly J., Willburger B., Vartanian L.R cho thấy “chỉ cần tiếp xúc với một bài đăng thể hiện việc yêu cơ thể trên Instagram dù là rất ngắn cũng có thể cải thiện cách tự nhìn nhận cơ thể ở nhóm phụ nữ trẻ, so với những bài đăng thể hiện ngoại hình được lý tưởng hoá hoặc trung tính.”

Tuy nhiên Fardouly J., Willburger B., Vartanian L.R cũng tìm ra rằng, những người phụ nữ được khảo sát trong nghiên cứu này cũng đồng thời suy nghĩ

về cơ thể mình nói chung nhiều hơn Theo cách khác, những bài đăng về việc yêu

cơ thể có thể khiến phụ nữ tự tin hơn, nhưng đồng thời cũng khiến phụ nữ phải suy

nghĩ nhiều hơn đến ngoại hình của mình [20]

Bên cạnh đó, các nghiên cứu đi trước cho thấy việc sử dụng mạng xã hội có những tác động nhất định đến mức độ hài lòng về hình ảnh cơ thể cũng như lòng tự trọng về hình ảnh cơ thể

Dự án Know, một tổ chức phi lợi nhuận được tạo ra để giúp đỡ những người

có hành vi nghiện, đã tìm hiểu xem MXH có thể làm chứng rối loạn ăn uống, cũng như một số đặc tính di truyền và tâm lý trở nên trầm trọng hơn Dù dự án chưa chứng minh được chắc chắn rằng MXH dẫn đến các rối nhiễu tâm lý, nó có thể làm các rối nhiễu tâm lý từ trước đó trở nên nghiêm trọng hơn

Trang 29

Ngoài ra, những phụ nữ trẻ thường so sánh ngoại hình của bản thân với những phụ nữ khác trên Facebook theo hướng tiêu cực Nghiên cứu trên 227 nữ giới đang học đại học chỉ ra rằng “những người phụ nữ trẻ dùng Facebook nhiều hơn có thể sẽ lo lắng

về cơ thể của mình hơn vì họ so sánh bản thân với người khác (đặc biệt là với bạn bè đồng trang lứa).” Chính vì vậy, việc dùng MXH có thể để lại những hậu quả về mặt

tâm lý trong cách phụ nữ nhìn nhận cơ thể của chính mình [22]

Chủ đề so sánh cơ thể trên MXH đang là một vấn đề ngày càng được quan tâm trong giới nghiên cứu “MXH đã tạo ra thêm một con đường để mọi người có thể tham gia vào quá trình so sánh cơ thể của mình với người khác một cách không lành mạnh Chúng ta cần phải làm truyền thông thêm về sức khoẻ, có thêm những biện pháp can thiệp hành vi để giải quyết vấn đề này, đặc biệt là trong những nhóm dân số dễ bị tổn thương”, theo Deanna Puglia, chuyên gia truyền thông và báo chí Những nghiên cứu cho vấn đề này thật sự cấp thiết, bởi ngày càng có nhiều phụ nữ trẻ tuổi so sánh cơ thể của mình với những phiên bản trên MXH

Một nghiên cứu bởi Florida House Experience cho thấy phụ nữ lẫn đàn ông đều so sánh cơ thể của mình với những hình mẫu trên phương tiện truyền thông Khảo sát có sự tham gia của 1000 người cả nam lẫn nữ, tập trung vào nghiên cứu cách họ nhìn nhận cơ thể, sự tự tin của họ và truyền thông Kết quả chỉ ra 87% phụ

nữ và 65% đàn ông so sánh cơ thể của mình với những hình ảnh họ thấy trên MXH

và các phương tiện truyền thông truyền thống Trong số đó, 50% phụ nữ và 37% đàn ông cho rằng cơ thể của mình thua kém hơn người khác

Một nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng những phần mềm chỉnh sửa có ảnh hưởng tới cách nhìn nhận bản thân thua kém như vậy: “Do sự xuất hiện của một loạt các ứng dụng chỉnh ảnh miễn phí, những người nghiện selfie giờ đây có thể biến đổi cơ thể của mình trong những bức ảnh dễ hơn cả trang điểm.” Việc chỉnh sửa ảnh một cách cực kì chi tiết và cẩn thận như vậy có thể cho người dùng một cảm giác ảo rằng mình đang là người được kiểm soát, rằng nếu họ biến đổi cơ thể mình họ sẽ được chú ý nhiều hơn Sự sai lệch giữa nhận thức và thực tế như vậy có thể làm gia tăng sự khác biệt trong cảm nhận của người dùng về bản thân ở bên

ngoài và trên mạng [22]

Trang 30

Nghiên cứu của Nadkarni & Hofmann 2012 cho thấy việc sử dụng Facebook

có ảnh hưởng đến các vấn đề về lòng tự trọng và hình ảnh cơ thể Tác giả sử dụng lý thuyết so sánh xã hội để lý giải mối quan hệ này là vì các cá nhân đánh giá khả năng của chính họ bằng cách so sánh họ với những người khác để giảm thiểu sự không chắc chắn và định vị những giá trị bản sắc của bản thân của

họ Việc một cá nhân xem hồ sơ Facebook của người khác rồi so sánh bản thân với họ luôn là một phản ứng phổ biến trong hành vi người dùng MXH Bên cạnh

đó, tác giả nhận thấy rằng các vấn đề tâm lý như lòng tự trọng thấp, lo âu, trầm cảm và không hài lòng với cuộc sống có liên hệ chặt chẽ với sự hài lòng về hình ảnh cơ thể Những cá nhân lòng tự trọng thấp, lo âu, trầm cảm và không hài lòng với cuộc sống sử dụng Facebook sẽ gợi ra những đánh giá xã hội tiêu cực khi cá

nhân tham gia “xu hướng so sánh hình ảnh bản thân trên mạng xã hội”[37]

Forest and Wood (2012) đã khảo sát 80 người dùng Facebook ở bậc

để kiểm tra xem liệu những người có lòng tự trọng thấp và tự ti hình ảnh cơ thể tham gia tương tác trên facebook như thế nào Kết luận của nghiên cứu cho thấy những người có lòng tự trọng thấp và tự ti về hình ảnh cơ thể thường có xu hướng

sử dụng MXH như một cách an toàn hơn để bộc lộ bản thân với thế giới Trước khi kết nối với những người khác, họ vào xem trang hồ sơ của người đó, xem ảnh của

người đó và đưa ra tiêu chí so sánh trước khi kết nối [23]

Còn tại Việt Nam, nghiên cứu của Tác giả Trần Thành Nam (2018) nghiên cứu xác định sự tương quan giữa ý thức diện mạo ở ngoài đời thực và trên mạng xã hội của các đối tượng tham gia khác nhau phát hiện ra những đặc điểm và biểu hiện khác nhau về sự thiếu hài lòng về cơ thể của nhóm học sinh và sinh viên Trong khi nhóm học sinh có xu hướng chú trọng đến hình ảnh trên facebook phải thật hoàn hảo so với bạn cùng trang lứa thì sinh viên có xu hướng cảm thấy mình cần giảm cân, so sánh số đo cơ thể đối với bạn cùng giới và cảm thấy bản thân cần tập gym nhiều hơn để đăng những tấm ảnh hoàn hảo trên facebook Khảo sát cho thấy sự tương quan giữa ý thức về diện mạo trên facebook của nhóm học sinh cao hơn nhóm sinh viên và tương tự ý thức diện mạo của nhóm học sinh ngoài đời thực cũng

cao hơn sinh viên [8]

Trang 31

Có thể nói, các nghiên cứu đi trước đã gợi ý rằng việc tiếp xúc với mạng xã hội có thể thúc đẩy sự không hài lòng về cơ thể và dẫn đến các hành vi ăn uống có hại bằng gieo vào trong họ niềm tin phi lý về chuẩn mực cái đẹp Cơ chế phổ biến nhất để diễn giải kết quả này là cơ chế so sánh xã hội dựa trên ngoại hình thông qua việc tiếp xúc hàng ngày với mẫu hình cơ thể lý tưởng trên các phương tiện truyền thông và MXH

Và những người cần phải nhận thức được những tác động tiêu cực của MXH đối với cách họ nhìn nhận cơ thể của mình, vì những hậu quả này có thể tàn phá sức khoẻ tâm thần của họ Chính điều này càng khiến chúng ta phải chú ý hơn đến vấn

đề tâm lý khi sử dụng mạng xã hội

1.2 Các khái niệm và lý thuyết liên quan tới đề tài

1.2.1 Khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1.1 Mạng xã hội

Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo (social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Mạng xã hội có nhiều tính năng giúp liên kết với nhau, cung cấp dịch vụ để các thành viên có thể tìm kiếm bạn bè, kết nối với nhau thông qua nhiều thiết bị bằng chia sẻ hình ảnh, video, blog, Mạng xã hội cung cấp nhiều tính năng để người dùng có thể xây dựng hồ sơ cá nhân, xem hồ

sơ cá nhân của các thành viên trong mạng, dễ dàng xem danh sách bạn bè, cho phép

người dùng thêm các nội dung đa phương tiện như hình ảnh, video [9, tr2].

Theo nhà xã hội học Laura Garton, nhà nghiên cứu chiến lược ở Trường Đại học Toronto (Canada) thì “khi một mạng máy tính kết nối mọi người hoặc các cá nhân, tổ chức lại với nhau thì đó chính là mạng xã hội” Theo cách định nghĩa đơn

giản này, mạng xã hội là một tập hợp người hoặc các tổ chức hoặc các thực thể xã hội khác được kết nối với nhau thông qua mạng máy tính Như vậy, trái với cách hiểu của nhiều người, mạng xã hội là mạng máy tính lớn, nhiều thành viên, mạng xã hội đơn giản là hệ thống của những mối quan hệ con người với con người Trên bình

diện đó, bản thân Facebook hay Twitter… không phải là mạng xã hội, mà chỉ

là những dịch vụ trực tuyến được tạo lập để xây dựng và phản ánh mạng xã hội [43]

Trang 32

Theo Boyd và Ellison định nghĩa mạng xã hội là các dịch vụ dựa trên web cho phép cá nhân xây dựng một hồ sơ công khai trong một hệ thống giới hạn, công khai một danh sách các người dùng mà họ đã có mối quan hệ, xem và đi qua danh

sách các kết nối được tạo ra bởi những người khác trong hệ thống của họ [15]

Như vậy, chúng tôi cho rằng: Mạng xã hội là các dịch vụ trên web giúp nối kết các thành viên có cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian

Mức độ sử dụng mạng xã hội là mức độ truy cập vào các trang mạng xã hội của người dùng

1.2.1.2 Hình ảnh bản thân

Trong văn học, một hình ảnh bản thân toàn cầu đã được phân biệt với hình ảnh bản thân Cái trước đề cập đến một cái nhìn đơn chiều khái niệm về bản thân, quan điểm chung mà người ta có về bản thân mình, sản phẩm của sự kết hợp giữa các phán đoán và niềm tin về cái tôi Cái sau đề cập đến các hình ảnh tự phân biệt trên các miền khác nhau Ngoại hình, ngang hàng sự chấp nhận, năng lực học tập và bản tóm tắt thể thao- do đó có thể đóng góp theo những cách khác nhau cho hình

ảnh bản thân toàn cầu thời niên thiếu [32]

Tô Thúy Hạnh (2015) hình ảnh bản thân là sự mô tả của cá nhân về chính mình Đó có thể là vóc dáng bề ngoài hay tính cách, thái độ yêu, ghét đối với những

sự vật, hiện tượng nhất định, [3, tr81]

Theo Di Blasi & cộng sự (2015) hình ảnh bản thân là nhận thức chủ quan về bản thân, cơ thể, hoạt động tinh thần, xã hội của chính mình và sự điều chỉnh trong

các khía cạnh khác nhau của cuộc sống [18]

Theo Ackerman (2019) cho rằng hình ảnh bản thân là cách một cá nhân nhận thức về bản thân; nó là một phần danh tính của họ Nếu cá nhân có một hình ảnh bản thân tích cực rõ ràng, họ sẽ tự tin hơn trong suy nghĩ của mình, ngoại hình và

họ cũng sẽ cảm thấy gần gũi hơn với bản thân lý tưởng của họ Ngược lại, nếu các

cá nhân có hình ảnh tiêu cực về bản thân, họ sẽ thiếu tự tin vào suy nghĩ, ngoại hình

của mình, họ cũng sẽ cảm thấy xa rời bản thân lý tưởng của họ [44]

Từ điển Random house định nghĩa hình ảnh bản thân là “ý tưởng, quan niệm hoặc hình ảnh tinh thần mà người ta có về chính mình.”

Trang 33

Trung tâm Sống độc lập của Bang Mountain giải thích thêm:“Hình ảnh bản thân là cách bạn nhận thức về bản thân Đó là một số ấn tượng về bản thân đã hình

thành theo thời gian… Những hình ảnh về bản thân này có thể rất tích cực, khiến một người tin tưởng vào suy nghĩ và hành động của họ, hoặc tiêu cực, khiến một người nghi ngờ về khả năng và ý tưởng của họ ”

Những gì bạn nhìn thấy khi soi gương và cách bạn hình dung trong đầu chính

là hình ảnh của chính bạn [17]

Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của tác giả Di

Blasi & cộng sự: Hình ảnh bản thân là nhận thức chủ quan về bản thân, cơ thể, hoạt động tinh thần, xã hội của chính mình và sự điều chỉnh trong các khía cạnh khác nhau của cuộc sống

Sự hài lòng về hình ảnh bản thân là sự thỏa mãn trong nhận thức chủ quan

về bản thân, cơ thể, hoạt động tinh thần, xã hội của chính mình

1.2.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

Sự phát triển thể chất

Theo Dương Thị Diệu Hoa bước vào lứa tuổi này có sự cải tổ lại rất mạnh mẽ

và sâu sắc về cơ thể, về sinh lí Đây được xem là giai đoạn phát triển nhanh thứ hai sau

giai đoạn sơ sinh trong quá trình trưởng thành và phát triển cơ thể của cá nhân Chiều cao của thiếu niên tăng rất nhanh: trung bình một năm, các em gái cao thêm 5-6cm, các em trai cao thêm 7-8cm Trọng lượng của các em tăng từ 2- 5kg/năm Bên cạnh đó,

có sự phát triển nhanh mạnh về hệ xương (xương châu, xương sống, khuôn mặt) và hệ

cơ khớp (các em trai cao nhanh, vai rộng ra, các cơ vai, bắp tay, bắp chân phát triển mạnh tạo sự mạnh mẽ; các em gái tròn trặn dần, ngực nở, xương chậu rộng, tạo sự mềm mại, duyên dáng), hệ tim mạch tuy nhiên sự phát triển này diễn ra không cân đối

hệ cơ phát triển chậm hơn hệ xương nên khiến các em lóng ngóng, vụng về trong các hoạt động Đặc biệt, giai đoạn này xuất hiện hiện tượng dậy thì thể hiện qua sự trưởng

thành về mặt sinh dục (ở em gái là sự phát triển của tuyến vú, xuất hiện kinh nguyệt, da

dẻ hồng hào, duyên dáng hơn, ; ở em trai là hiện tượng vỡ giọng, tăng lên của thể tích tinh hoàn, hiện tượng mộng tinh, ria mép, ) Ở Việt Nam, tuổi dậy thì của em gái vào

khoảng 12-13 tuổi; các em trai bắt đầu và kết thúc chậm hơn khoảng từ 1-2 năm Mặc

Trang 34

dù có sự phát triển cơ thể nhanh, mạnh mẽ nhưng không cân đối, xuất hiện yếu tố mới

là sự phát dục Tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự cải tổ thể chất – sinh lí lứa tuổi

này là các hoocmôn (ở nam là testosterone, nữ estrogen), chế độ lao động và dinh

dưỡng [4, tr169- 175]

Theo Đặng Hoàng Minh và cộng sự [6, tr4-5] cho rằng vị thành niên có một

số dấu hiệu thay đổi về thể chất dễ nhận thấy sau đây:

- Trẻ vị thành niên nữa phát triển chiều cao nhanh ở tuổi 10 đến 14,5, đạt đỉnh vào tuổi 12

Đối với nam

-Trẻ vị thành niên nam có thể nhận thấy tinh hoàn và bừu phát triển ở tuổi lên 9 Ngay sau đó, dương vật bắt đầu phát triển Ở 16- 17 tuổi, các cơ quan sinh dục đạt được hình dáng và kích cỡ như người trưởng thành

- Lông ở cơ quan sinh dục cũng như ở lông nách, chân, ngực, râu bắt đầu phát triển ở tuổi 12 và đạt được mức như người trưởng thành ở tuổi 15- 16

- Trẻ vị thành niên nam không dậy thì đột ngột, như trường hợp ở trẻ vị thành niên nữ lần đầu xuất hiện kinh nguyệt Sự xuất tinh ban đêm đều đặn (“giấc

mơ ướt”, “mộng tinh”) đánh dấu sự bắt đầu dậy thì ở nam giới Mộng tinh thường xuất hiện ở tuổi 13 đến 17

- Giọng nói của trẻ vị thành niên nam thay đổi (vỡ giọng) cùng lúc với dương vật phát triển Xuất tinh ban đêm xuất hiện cùng với sự đạt được tối đa về chiều cao

Đặc điểm phát triển về mặt xã hội

Theo Dương Thị Diệu Hoa và cộng sự (2008) lứa tuổi học sinh THCS có những

thay đổi cơ bản trong giao tiếp với người lớn và bạn cùng tuổi [4, tr 180- 186]:

Trang 35

-Tính chủ thể trong quan hệ giữa trẻ với người lớn rất cao, thâm chí cao hơn mức cần thiết thể hiện ở chỗ nhu cầu được tôn trọng cao, luôn đòi hỏi được bình đẳng, được hợp tác, được đối xử như người lớn trong quá trình giao tiếp

- Trong quan hệ với người lớn, các em thường xuất hiện nhiều mâu thuẫn bởi

vì có sự phát triển mạnh về thể chất, tâm lý nên các em có nhu cầu và mong muốn thoát li khỏi sự giám sát của người lớn, muốn độc lập

- Trong giao tiếp với người lớn các em thường có xu hướng cường điệu hóa,

“kịch hóa” các tác động của người lớn trong ứng xử hàng ngày

- Nhu cầu giao tiếp với bạn ngày càng phát triển mạnh

- Quan hệ với bạn của các em là hệ thống độc lập và bình đẳng

- Quan hệ với bạn của các em là hệ thống yêu cầu cao và máy móc

- Có xuất hiện màu sắc giới tính trong quan hệ với bạn của học sinh THCS,

đó là sự quan tâm tới các bạn khác giới

Một kết quả tất yếu của xu hướng tách ra khỏi bố mẹ để khẳng định bản sắc riêng, sự độc lập của bản thân mình, đó là việc các em tìm đến các bạn bè đồng trang lứa, những người đang gặp các vấn đề, quan điểm sống giống như các em để chia sẻ Chính vì vậy, bạn bè đồng trang lứa trong tuổi này lại trở nên quan trọng hơn với lứa tuổi học sinh THCS

Theo Đặng Hoàng Minh & cộng sự [6, tr9] học sinh THCS chuyển hướng

tới sự độc lập thể hiện qua một số đặc điểm:

- Vị kỉ, xen kẽ giữa những kì vọng cao không thực tế với quan niệm về bản thân nghèo nàn

- Phàn nàn bố mẹ, người lớn không tôn trọng độc lập

- Cảm thấy cơ thể và bản thân mình lạ

- Bận tâm nhiều về hình thức và cơ thể

- Ý niệm về cha mẹ giảm bớt, bớt quấn quít, gắn bó với cha mẹ

- Nỗ lực kết bạn mới

- Nhấn mạnh đến nhóm bạn với bản sác của nhóm có sự lựa chọn, cạnh tranh

- Thỉnh thoảng buồn, ngồi một mình

Trang 36

- Xem xét các trải nghiệm nội tâm, như viết nhật kí, tiểu thuyết

- Phát triển thần tượng và lựa chọn các mẫu lý tưởng

Hành vi

- Sự thay đổi thể chất nhanh chóng và đột ngột mà trẻ vị thành niên (học sinh THCS) trải qua khiến các em trở nên ý thức về bản thân, e dè, nhạy cảm và lo lắng

về sự thay đổi cơ thể mình Các em thường so sánh bản thân với các bạn đồng tuổi

- Giai đoạn này trẻ dần tách khỏi cha mẹ để tìm và khảng định bản sắc riêng,

sự độc lập của bản thân mình, bạn bè đồng trang lứa trở nên quan trọng

-Nhóm bạn có thể là nơi trú ẩn an toàn của các em Ở đó, trẻ vị thành niên có thể thử các ý tưởng mới

- Ở đầu giai đoạn học sinh THCS, các nhóm bạn thường không có các quan

hệ lãng mạn, thường mang tính chất là hội, nhóm Các thành viên của nhóm thường hành động giống nhau, ăn mặc giống nhau, có những bí mật hoặc nghi thức của nhóm và các thành viên cùng tham gia chung vào các hoạt động

- Khi bước vào giữa hoặc cuối giai đoạn học sinh THCS (14- 18 tuổi) các nhóm bạn có thể bao gồm các mối quan hệ lãng mạn, yêu đương

Cha mẹ, thầy cô giáo, những người khác và bạn bè cùng lứa hết thảy đều có ảnh hưởng đến trẻ Nhưng một hiện tượng đặc trưng cho lứa tuổi này là trẻ bắt đầu hình thành những thần tượng, những người và các em tôn sùng và “si mê”, Những thần tượng ày có những giá trị và các chuẩn mực thường khác biệt so với giá trị và các chuẩn mực của cha mẹ mà các em tuân theo một cách “ mù quáng” Chính sự khác biệt về chuẩn mực và giá trị này có thể làm nảy sinh mâu thuẫn gay gắt với

cha mẹ

1.2.1.4 Chỉ số BMI

BMI (chỉ số khối cơ thể) là chỉ số đáng tin cậy về sự mập ốm của một người

Chỉ số BMI được tính từ chiều cao và cân nặng [46].

Trong đó, chiều cao tính bằng m và cân nặng tính bằng kg

Trang 37

Bảng đánh giá theo chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới(WHO) và dành riêng cho người châu Á ( IDI&WPRO):

1.2.2 Lý thuyết về mức độ sử dụng mạng xã hội với sự hài lòng hình ảnh cơ thể

Phương tiện truyền thông đã là một lực lượng chi phối trong việc tạo ra nhận thức lý tưởng về cơ thể cả cơ thể nam và nữ; ngày càng gầy lý tưởng cho phụ nữ và

cơ bắp lý tưởng cho nam giới Hình tượng phụ nữ lý tưởng được mô tả trên mạng xã hội thường bao gồm của các mô hình; từ những năm 1950, kích thước của các mô hình ngày càng nhỏ hơn Trong những người mẫu những năm 1950 mỏng hơn khoảng 8% so với phụ nữ bình thường, điều này con số đã tăng lên 23% mỏng hơn Sử dụng phương tiện truyền thông quá mức có thể có hại cho sự hài lòng về hình ảnh cơ thể của một người, Solomon và cộng sự, 2001 báo cáo nam và nữ đánh giá cơ thể của họ phù hợp với hình ảnh được nhìn thấy trên mạng xã hội và từ các đồng nghiệp Người đàn ông lý tưởng thường được coi là người có vóc dáng vạm vỡ; cơ thể như thế này thường được cho là do những người xây dựng cơ thể hoặc vận động viên

Phương tiện truyền thông xã hội có tính trực quan và tương tác cao; nhiều phương tiện truyền thông xã hội nền tảng dựa trên tiền tệ của lượt thích và người theo dõi Sherman và cộng sự, (2016) đã thực hiện một nghiên cứu bằng cách sử dụng nền tảng truyền thông xã hội tương tự như ứng dụng chia sẻ ảnh Instagram, trong đó

32 thanh thiếu niên từ 11-16 tuổi đã được yêu cầu tham gia Trên nhận được số lượt

Trang 38

thích cao trên ảnh của họ, có mức độ hoạt động cao được nhìn thấy trên nhiều vùng khác nhau của não Một phần của thể vân, là một phần của mạch phần thưởng của não, đặc biệt tích cực, điều này cho thấy lượt thích từ nền tảng truyền thông xã hội chuyển sang mức thành tựu trong não Nghiên cứu này cũng báo cáo rằng khi hiển thị chính xác cùng một bức ảnh có nhiều lượt thích cho một nửa số người tham gia

và chỉ một vài lượt thích cho nửa còn lại, họ có nhiều khả năng thích chính nó trong ảnh với nhiều lượt thích hơn Thanh thiếu niên phản ứng khác với thông tin khi họ tin rằng nhiều chứng thực nó Mạng xã hội là cách chính những người trẻ tuổi kết nối và giao tiếp, nó có thể được coi là kênh chính của họ với thế giới bên ngoài Nó

có trước đây đã được báo cáo rằng việc sử dụng nhiều hơn các phương tiện phản cảm tình dục có thể liên quan đến mức độ tự khách quan hóa cao hơn Phương tiện truyền thông xã hội cho phép người dùng nhìn thế giới thông qua một bộ lọc thay vì đời thực

Lý thuyết so sánh xã hội của Festinger (1954) tin rằng mọi người liên tục đánh giá bản thân và đánh giá khả năng và đặc điểm của họ (điều này có thể trở thành một thách thức khi cố gắng đánh giá các khía cạnh nhất định trong cuộc sống của họ vì thường không có phân tích rõ ràng đo đạc Trong trường hợp không có bất

kỳ phép đo nào như vậy, sự so sánh xã hội sẽ xảy ra sau đó bằng cách so sánh khả năng và đặc điểm của họ với những người khác Những người mà mọi người chọn

so sánh bản thân để thay đổi tùy theo tình huống nhất định, nhưng nói chung mọi người so sánh mình với những người được coi là tương tự Theo lý thuyết này, có hai loại so sánh xã hội, một so sánh xã hội hướng xuống và một so sánh xã hội hướng lên So sánh hướng xuống là khi một cá nhân xem người mà họ đang so sánh với mình là ít hơn hoặc tệ hơn và điều này có thể dẫn đến để nâng cao lòng tự trọng So sánh xã hội hướng lên là khi một người so sánh mình với ai đó mà họ được coi là vượt trội hơn họ và điều này có thể dẫn đến cảm giác tiêu cực về trầm cảm và lòng tự trọng thấp Festinger (1954) tin rằng trong khu vực mọi người có thói quen so sánh hướng lên để một người có mục tiêu và kế hoạch để đạt được

những kết quả như vậy [21].

So sánh xã hội đề cập đến một xu hướng cảm nhận tốt hay xấu về bản thân

Trang 39

dựa trên cách chúng ta nhìn nhận người khác Người ta cho rằng bản thân mọi người nhìn vào những người khác để đáp ứng nhu cầu tự đánh giá, được coi là

mong muốn cơ bản của con người [38]

Trong thế kỷ 21, lý thuyết này quan trọng bởi vì so sánh xã hội được cho là một yếu tố chính của sự lo lắng về hình ảnh cơ thể và do đó cần được xem xét khi tiến hành nghiên cứu về hình ảnh cơ thể Khi các cá nhân đánh giá bản thân, họ nhìn

vào những người khác và so sánh với họ [40]

Tự đánh giá được liên kết chặt chẽ với hình ảnh cơ thể Do đó, so sánh xã hội là

một yếu tố chính trong sự hài lòng hoặc không hài lòng về hình ảnh cơ thể [28]

Lý thuyết chỉ ra rằng con người học tập và phát triển là một quá trình xã hội Trẻ em trong thế kỷ XXI dành ít thời gian hơn để giao tiếp trực tiếp, một phần

do thực tế là các trang web truyền thông xã hội cho phép giao tiếp trực tuyến khi nhấp chuột Các phương tiện truyền thông đã trở thành một khía cạnh của xã hội

Do đó, khi các bạn trẻ đang giao lưu nhiều hơn thông qua các nền tảng truyền thông

xã hội, họ được dạy các chuẩn mực và giá trị xã hội, thông qua các trang web này Mọi người thường học tập quan sát cách ăn mặc từ bạn bè của họ trên phương

tiện truyền thông xã hội [41].

Moy (2015) nói rằng những người trẻ tuổi tiếp tục cố gắng và bắt chước các bạn cùng lứa tuổi của họ, chủ yếu về hình ảnh cơ thể Việc xem hình ảnh của người khác trên mạng xã hội ảnh hưởng đến mối quan tâm về hình ảnh cơ thể có thể dẫn đến lo lắng về quy tắc ăn mặc và ngoại hình cá nhân Trong thời niên thiếu, bắt đầu thảo luận hình ảnh cơ thể hoàn hảo Do đó, trong thời gian này cá nhân bắt đầu cảm

thấy áp lực từ bạn bè của họ [36].

Lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura ( 2001) nêu rõ vai trò quan trọng của truyền thông xã hội trong việc định hình nhận thức và hành vi của cá nhân Lý thuyết nhận thức xã hội lập luận rằng các cá nhân học hỏi từ các biểu tượng phương tiện truyền thông và việc sử dụng phương tiện truyền thông đó, không phụ thuộc vào chế

độ, không bao giờ bị động So với các phương tiện thông thường, chẳng hạn như truyền hình, truyền thông xã hội nói riêng liên quan đến sự tham gia tích cực hơn các phương tiện truyền thống, hầu hết các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại sử

Trang 40

dụng chủ yếu dựa vào sự tham gia tích cực vào các trang mạng xã hội [13]

Boyd và Ellison (2007) định nghĩa các trang mạng xã hội như sau: Các dịch

vụ dựa trên web cho phép các cá nhân (1) xây dựng công khai hoặc bán hồ sơ công khai trong một hệ thống có giới hạn, (2) nêu rõ danh sách những người dùng khác với người mà họ chia sẻ kết nối và (3) xem và duyệt qua danh sách kết nối của họ

và những thứ do những người khác trong hệ thống tạo ra [15]

Theo lý thuyết, tiếp xúc với các ảnh hưởng văn hóa xã hội (ví dụ: phương tiện truyền thông) sẽ làm tăng khả năng một cá nhân sẽ áp dụng lý tưởng ngoại hình như tiêu chuẩn cá nhân và đóng góp vào xu hướng lớn hơn để thực hiện so sánh ngoại hình xã hội với những hình ảnh như vậy Do bản chất không giống nhau của

lý tưởng ngoại hình, một cá nhân so sánh bản thân với những tiêu chuẩn này có thể

sẽ cảm thấy rằng họ không phù hợp với ngoại hình lý tưởng, dẫn đến sự hài lòng cơ

thể thấp hơn và tác động tới tâm lý [30]

về sự hài lòng hình ảnh cơ thể

Ngày đăng: 21/09/2022, 09:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Thị Minh Đức & Bùi Thị Hồng Thái (2015), Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Trần Thị Minh Đức & Bùi Thị Hồng Thái
Năm: 2015
3. Tô Thúy Hạnh (2016), “Hình ảnh bản thân của học sinh lớp 12 tại Hà Nội”, Tạp chí tâm lý học, số 5 (206), 5-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh bản thân của học sinh lớp 12 tại Hà Nội
Tác giả: Tô Thúy Hạnh
Năm: 2016
4. Dương Thị Diệu Hoa, Đỗ Thị Hạnh Phúc, (2009), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa, Đỗ Thị Hạnh Phúc
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
5. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, (2008), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm. Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2008
6. Đặng Hoàng Minh, Nguyễn Cao Minh, Trần Thành Nam (2012) Tư vấn tâm lý học đường, Tài liệu lưu hành nội bộ, Vụ giáo dục trung học Trường đại học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn tâm lý học đường
7. Đặng Hoàng Minh & Nguyễn Thị Phương (2013), “Tương quan giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học cơ sở”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, 29(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương quan giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học cơ sở
Tác giả: Đặng Hoàng Minh & Nguyễn Thị Phương
Năm: 2013
8. Trần Thành Nam (2018), nghiên cứu về Facebook và các vấn đề tâm lý của giới trẻ, chương trình nghiên cứu internet và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu về Facebook và các vấn đề tâm lý của giới trẻ
Tác giả: Trần Thành Nam
Năm: 2018
13. Bandura, A. (2001). Social cognitive theory: An agentic perspective. Annual review of psychology, 52(1), 1-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annual review of psychology, 52
Tác giả: Bandura, A
Năm: 2001
19. Duffy, B., Smith, K., Terhanian, G., & Bremer, J. (2005). Comparing data from online and face-to-face surveys. International journal of market research, 47(6), 615-639 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International journal of market research, 47
Tác giả: Duffy, B., Smith, K., Terhanian, G., & Bremer, J
Năm: 2005
21. Festinger, L. (1954). A theory of social comparison processes. Human relations, 7(2), 117-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human relations, 7
Tác giả: Festinger, L
Năm: 1954
23. Forest, A. L., & Wood, J. V. (2012). When social networking is not working: Individuals with low self-esteem recognize but do not reap the benefits of self- disclosure on Facebook. Psychological science, 23(3), 295-302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychological science, 23
Tác giả: Forest, A. L., & Wood, J. V
Năm: 2012
27. Helfert, S., & Warschburger, P. (2011), A prospective study on the impact of peer and parental pressure on body dissatisfaction in adolescent girls and boys, Body image, 8(2), 101-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Body image, 8
Tác giả: Helfert, S., & Warschburger, P
Năm: 2011
28. Jones, D. C. (2001). Social comparison and body image: Attractiveness comparisons to models and peers among adolescent girls and boys. Sex roles, 45(9), 645-664 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sex roles, 45
Tác giả: Jones, D. C
Năm: 2001
35. Mihajlov, M., & Vejmelka, L. (2017). Internet addiction: A review of the first twenty years. Psychiatria Danubina, 29(3), 260-272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychiatria Danubina, 29
Tác giả: Mihajlov, M., & Vejmelka, L
Năm: 2017
36. Moy, G. (2015). Media, family, and peer influence on children's body image (Doctoral dissertation, Rutgers University-Camden Graduate School) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Media, family, and peer influence on children's body image
Tác giả: Moy, G
Năm: 2015
39. Presnell, K., Bearman, S. K., & Stice, E. (2004), Risk factors for body dissatisfaction in adolescent boys and girls: A prospective study, International Journal of eating disorders, 36(4), 389-401 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of eating disorders, 36
Tác giả: Presnell, K., Bearman, S. K., & Stice, E
Năm: 2004
40. Seidel, T. (2009). Klassenfỹhrung. In Pọdagogische psychologie (pp. 135-148). Springer, Berlin, Heidelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pọdagogische psychologie
Tác giả: Seidel, T
Năm: 2009
41. Tehranian, Y. (2013). Social Media, Social Kids: Sociocultural Implications of 21st Century Media for Development in the Preteen Period (Doctoral dissertation, UCLA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Media, Social Kids: Sociocultural Implications of 21st Century Media for Development in the Preteen Period
Tác giả: Tehranian, Y
Năm: 2013
44. Ackerman, C. (2019, July 04). What is Self-Image and How Do We Improve it? Definition Quotes. Retrieved from https://positivepsychology.com/self-image/ Link
45. Báo cáo nghiên cứu thói quen sử dụng mạng xã hội của của người Việt Nam https://vinaresearch.net/public/news/2201-bao-cao-nghien-cuu-thoi-quen-su-dung-mang-xa-hoi-cua-nguoi-viet-nam-2018.vnrs) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BISS Thang đo trạng thái hình ảnh cơ thể BMI  Chỉ số khối cơ thể - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
hang đo trạng thái hình ảnh cơ thể BMI Chỉ số khối cơ thể (Trang 4)
Bảng 1.1. Tỉ lệ nghiện Internet trên thế giới - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 1.1. Tỉ lệ nghiện Internet trên thế giới (Trang 19)
Bảng 1.2. Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa nghiện Internet - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 1.2. Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa nghiện Internet (Trang 21)
• Hình thức đầu t. - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Hình th ức đầu t (Trang 27)
Bảng đánh giá theo chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới(WHO) và dành riêng cho người châu Á ( IDI&WPRO): - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
ng đánh giá theo chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới(WHO) và dành riêng cho người châu Á ( IDI&WPRO): (Trang 37)
Bảng 2.1. Đặc điểm của nhóm khách thể - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 2.1. Đặc điểm của nhóm khách thể (Trang 41)
Bảng 2.2. Chiều cao của nhóm khách thể nghiên cứu - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 2.2. Chiều cao của nhóm khách thể nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 2.4. Chỉ số BMI trên nhóm khách thể - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 2.4. Chỉ số BMI trên nhóm khách thể (Trang 44)
Bảng 2.7. Độ tin cậy của bảng hỏi/thang đo - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 2.7. Độ tin cậy của bảng hỏi/thang đo (Trang 50)
Bảng 3.1. Thực trạng sử dụng MXH của nhóm khách thể nghiên cứu - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 3.1. Thực trạng sử dụng MXH của nhóm khách thể nghiên cứu (Trang 52)
Bảng 3.3. Số lượng tài khoản trong MXH - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 3.3. Số lượng tài khoản trong MXH (Trang 53)
Bảng 3.6. Mức độ gắn bó với MXH Hoàn - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 3.6. Mức độ gắn bó với MXH Hoàn (Trang 55)
phần mềm, ứng dụng chụp hình/ tạo video mới nhất. - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
ph ần mềm, ứng dụng chụp hình/ tạo video mới nhất (Trang 58)
3.2. Thực trạng sự hài lịng về hình ảnh bản thân của nhóm khách thể nghiên cứu - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
3.2. Thực trạng sự hài lịng về hình ảnh bản thân của nhóm khách thể nghiên cứu (Trang 59)
Bảng 3.9. Sự khác biệt giữa nam và nữ về hình ảnh bản thân trên MXH - MỐI QUAN hệ GIỮA mức độ sử DỤNG MẠNG xã hội và sự hài LÒNG về HÌNH ẢNH bản THÂN ở học SINH TRUNG học cơ sở
Bảng 3.9. Sự khác biệt giữa nam và nữ về hình ảnh bản thân trên MXH (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w