Học sinh ở độ tuổi này khác với độ tuổi tiểu học vì việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức có thể vượt xa phạm vi nhà trường như học thông qua các nhóm bạn khác nhau, qua tiếp xúc mạng intern
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỒNG NGỌC
DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN NGỮ VĂN 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỒNG NGỌC
DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN NGỮ VĂN 2018
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
MÃ SỐ: 81402171.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS LÃ PHƯƠNG THUÝ
HÀ NỘI – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và tranh web theo danh mục tài liệu tham khảo của luân văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Nguyễn Hồng Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Cơ sở lí luận 14
1.1.1 Dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướng phát triển năng lực 14
1.1.2 Văn bản thông tin và dạy học văn bản thông tin 16
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 22
1.2.1 Vị trí, vai trò của văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn lớp 10 22
1.2.2 Thực trạng dạy học văn bản thông tin tại trường THPT hiện nay 31
Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018 39
2.1 Một số nguyên tắc dạy học văn bản thông tin cho học sinh lớp 10 39
2.2 Đề xuất một số biện pháp dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 43
2.2.1 Xây dựng chủ đề dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 43
2.2.2 Tích hợp dạy học trải nghiệm trong DH văn bản thông tin cho HS lớp 10 62
2.2.3 Sử dụng một số phần mềm công nghệ trong dạy học VB thông tin cho HS lớp 10 72
Tiểu kết chương 2 84
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1 Mục đích thực nghiệm 85
3.2 Đối tượng thực nghiệm 85
3.3 Nội dung thực nghiệm 85
3.4 Tổ chức thực nghiệm 86
Trang 53.5 Kết quả thực nghiệm 86
3.5.1 Kết quả định tính 86
3.5.2 Kết quả định lượng 89
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Khuyến nghị 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Thứ tự Chữ viết tắt Viết đầy đủ
2 CNTT Công nghệ thông tin
3 CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung và năng lực [50] 15
Bảng 1.2 Bảng yêu cầu cần đạt khi đọc hiểu văn bản thông tin trong chương trình tiếng Anh Singapore [11;7] 19
Bảng 2.1 Yêu cầu cần đạt khi dạy VBTT trong chương trình GDPT Ngữ văn 2018 [4] 40
Bảng 2.2 Bảng đề xuất chủ đề dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 46
Bảng 2.3 Bảng kế hoạch dạy học trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu VBTT 66
Bảng 2.4 Rubric tiêu chí đánh giá sản phẩm học tập trải nghiệm 68
Bảng 3.1 Trình độ học sinh sau thực nghiệm 88
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Đánh giá vai trò văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn THPT 33 Biểu đồ 1.2 Phương pháp dạy học văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông 34 Biểu đồ 1.3 Khảo sát mức độ hứng thú của HS khi học VB thông tin 35 Biểu đồ 1.4 Phương pháp và cách thức học tập của học sinh đối với văn bản thông tin 36 Biểu đồ 3.1 Kết quả học tập sau thực nghiệm 88
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong mấy thập niên gần đây, đổi mới giáo dục đào tạo là xu thế toàn cầu Tiếp thu quan điểm đó, giáo dục Việt Nam đang có nhiều thay đổi để đáp ứng sự vận động của xã hội, đặc biệt phải kể đến sự thay đổi được coi là cú hích trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực Bởi trong nhiều thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển, đạt thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã dựa trên quan điểm xây dựng chương trình môn Ngữ văn có tính kế thừa, phát huy những ưu điểm của các chương trình đã có, đặc biệt là chương trình năm 2006, tuân thủ qui định cơ bản được nêu trong Chương trình tổng thể Nhìn chung, quan điểm xây dựng chương trình dựa trên nền tảng lí luận và thực tiễn, có cập nhật các công trình nghiên cứu, thành tựu giáo dục, tâm lí, văn học, xây dựng chương trình theo hướng mở, lấy việc rèn luyện các kĩ năng làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học (Tiểu học – Trung học cơ sở - Trung học phổ thông)
Mục tiêu của chương trình môn Ngữ văn gồm: Một, mục tiêu chung; Hai, mục tiêu cấp tiểu học; Ba, mục tiêu cấp trung học cơ sở; Bốn, mục tiêu cấp trung học phổ thông Trong phạm vi đề tài lựa chọn Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh lớp 10, người viết sẽ tập trung vào mục tiêu chung và mục tiêu cấp
trung học phổ thông Về mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông năm
2018 kể trên coi người học là trung tâm, chú trọng hình thành, phát triển những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; hình thành nhân cách và phát triển cá tính [4;35] Qua môn Ngữ văn học sinh sẽ khám phá được bản thân mình để có thể thấu hiểu con người và hình thành quan điểm, cách ứng xử nhân văn; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và có khả năng hội nhập quốc tế Ngoài phát triển phẩm chất chủ yếu mục tiêu chương trình
Trang 10còn định hướng phát triển năng lực chung: tự chủ, tự học, giao tiếp, hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo, đặc biệt là sự phát triển ngôn ngữ, năng lực văn học (nghe - nói - đọc - viết), có kiến thức nền tảng về tiếng Việt, văn học để phát triển
tư duy hình tượng, logic và có đủ năng lực tiếp nhận, đánh giá các loại văn bản trong môn Ngữ văn Về mục tiêu cấp Trung học cơ sở sẽ tiếp tục phát triển những phẩm chất tốt đẹp được hình thành từ bậc Tiểu học trước đó
Trong chương trình năm 2006 môn Ngữ văn chủ yếu chú trọng yêu cầu đọc hiểu về văn bản văn học trong khi đó văn bản thông tin là loại văn bản cần thiết trong đời sống của học sinh nói riêng và đời sống xã hội nói chung Đặc biệt với HS lớp 10, đây là đối tượng đầu cấp trung học phổ thông, có sự biến đổi về tâm lý trong đặc điểm hoạt động học tập Học sinh ở độ tuổi này khác với độ tuổi tiểu học vì việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức có thể vượt xa phạm vi nhà trường như học thông qua các nhóm bạn khác nhau, qua tiếp xúc mạng internet, công nghệ thông tin,… Qua
đó, HS có sự so sánh, đối chiếu các lĩnh vực, các hình thức thu nhận kiến thức để đánh giá và nhận ra được sự đa dạng về cách học, phương pháp học, cách giao tiếp
xã hội,… Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 tập trung dạy học ba kiểu loại văn bản là: Văn bản văn học; Văn bản nghị luận; Văn bản thông tin Và thực tế trong Chương trình năm 2006 đã cho thấy hai kiểu loại văn bản (văn bản văn học và văn bản nghị luận) được chú trọng nhiều hơn nên yêu cầu của xã hội đặt ra với môn Ngữ văn trong thế kỉ 21 là vấn đề của sự bùng nổ của các kiểu loại văn bản có kèm ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, kí hiệu,…[12;21] Và đây chính là thách thức đối với cả GV và HS trong kỉ nguyên công nghệ 4.0 Vì vậy, việc lựa chọn văn bản thông tin- một loại văn bản mới được đưa vào trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 để nghiên cứu là việc làm rất có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu vấn đề dạy học văn bản thông tin trong môn Ngữ văn ở nước ngoài
Thuật ngữ “VBTT” xuất hiện trong nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới
từ trước những năm 2000 VBTT có mục đích chủ yếu nhằm cung cấp thông tin, không sử dụng yếu tố hư cấu VBTT có vai trò rất quan trọng trong nhịp sống của
Trang 11xã hội hiện đại và tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau: tờ rơi, phiếu thu ngân, đơn thuốc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, bảng báo giá, quảng cáo chào hàng, clip, biển thông báo
Hàng ngày, con người thường xuyên tiếp xúc với loại văn bản này để giải quyết công việc hoặc đơn thuần là đáp ứng các nhu cầu về thông tin trong thời đại công nghệ 4.0
Tuy nhiên, cách hiểu về khái niệm, vai trò và đặc điểm của loại văn bản này lại không hoàn toàn đồng nhất Khảo sát tư liệu nước ngoài, có thể thấy nhiều khá nhiều quan niệm về VBTT:
Quan niệm thứ nhất: VBTT thuộc phạm trù của văn bản phi hư cấu
(non-fiction texts) Tiêu biểu cho quan niệm này là các công trình nghiên cứu của các tác giả như Nell K Duke, I wai Y, Katie Surber, Andrew Sedillo:
“VBTT là một tập hợp con của các phạm trù rộng lớn phi hư cấu Mục đích chính của nó là để thông báo cho người đọc về thế giới tự nhiên hay xã hội” [32]
Đây là loại văn bản được viết ra để truyền đạt, mô tả hay giải thích những thông tin phi hư cấu, chứa nhiều lớp từ vựng kĩ thuật và yêu cầu người đọc phải có một kiến thức nền phù hợp
“Các VBTT là một loại phi hư cấu, đề cập đến các vấn đề thực tiễn” (Katie
Surber) [39]
Tác giả Andrew Sedillo cho rằng: VBTT là văn bản phi hư cấu, được viết với ý định thông báo cho độc giả về một chủ đề cụ thể; thường được tìm thấy trong tạp chí, sách khoa học hoặc lịch sử, sách tự truyện và hướng dẫn sử dụng Nó được viết bằng các tính năng văn bản đặc biệt, cho phép người đọc dễ dàng tìm thấy thông tin quan trọng và hiểu được chủ đề chính Tác giả sẽ thực hiện việc này bằng cách cung cấp tiêu đề cho các phần nhất định, bằng cách đặt từ vựng quan trọng, bằng kiểu chữ đậm và sử dụng các biểu diễn trực quan với phụ đề Những hình ảnh đại diện có thể là hình ảnh hoặc thậm chí đồ họa, bao gồm các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị và biểu đồ Trong một số trường hợp, tác giả sẽ cung cấp cho người đọc một bảng mục lục hoặc một bảng thuật ngữ để giúp họ tìm kiếm thông tin dễ dàng (trích
từ: “What Are Informational Texts?”)
Trang 12Chưa hoàn toàn tán thành với quan điểm này, Nell K Duke và nhóm cộng sự (2003) nêu ý kiến: Có một số loại văn bản là văn bản phi hư cấu nhưng không phải
là VBTT, chẳng hạn như tiểu sử hay văn bản mô tả các quy trình… [37;8]
Theo Non-fiction texts explained for primary school parents (Giải thích về văn bản phi hư cấu dành cho phụ huynh tiểu học) đăng trên Theschollrun.com, VB
phi hư cấu là tất cả các VB “dựa trên sự thật và cuộc sống thực, chứ không phải là một câu chuyện hư cấu” (Phi hư cấu giải thích cho phụ huynh Truy xuất từ: https://www.theschoolrun.com/ english/non-fiction) Trong khi, “VBTT là một loại của văn bản phi hư cấu cung cấp thông tin về một điều cụ thể (ví dụ: Ai Cập cổ đại, tái chế hoặc núi lửa) Các VBTT đôi khi được gọi là báo cáo không theo trình tự thời gian (không theo niên đại) bởi chúng cung cấp thông tin về một cái gì đó mà không đề cập đến thứ tự xảy ra Đặc điểm không theo niên đại này của VBTT đối lập với một số loại VB khác (thuộc VB phi hư cấu) và được viết theo trật tự thời gian (theo niên đại) như: Văn bản giải thích (explanation, loại văn bản nói về những điều xảy ra theo thời gian, ví dụ trật tự thời gian một trận thi đấu), văn bản tường thuật (recount - ví dụ diễn biến một sự kiện), văn bản hướng dẫn (instructions - ví dụ gợi ý một số điểm quan trọng về việc phải làm như thế nào), văn bản thuyết phục (persuasive texts - mục đích chính là đưa ra một quan điểm
và thuyết phục người đọc, người xem hoặc người nghe”), văn bản tiểu sử và tự truyện (biography and autobiography), văn bản báo chí (journalistic writing), văn bản tranh biện (argument texts)
- Quan niệm thứ hai: VBTT bao gồm nhiều loại văn bản khác nhau, trong đó
có cả văn bản phi hư cấu
VBTT gồm 4 loại là văn bản phi hư cấu, văn bản thuyết trình, văn bản tranh luận (hoặc thuyết phục) và văn bản thủ tục (ý kiến của các tác giả: I.L Beck, MG,
MeKeown, C.Sandora, L.Kucan và J.Worthy) Theo đó, văn bản phi hư cấu bao
gồm các văn bản ngắn hơn, chẳng hạn như “tiểu luận cá nhân, bài phát biểu, các bài phê bình, tiểu luận về nghệ thuật hoặc văn học, tiểu sử, hồi kí, báo chí và các tài khoản lịch sử, khoa học, kĩ thuật hoặc kinh tế được viết cho nhiều đối tượng: tự truyện, tiểu sử, các bài tường thuật khác, sách ảnh thông tin, thơ thông tin thường
Trang 13phù hợp với thể loại này; văn bản thuyết trình sử dụng các cấu trúc văn bản khác
nhau như mô tả, nguyên nhân và kết quả, so sánh và tương phản, vấn đề và giải
pháp, câu hỏi và câu trả lời, chuỗi thời gian; văn bản tranh luận (hoặc thuyết phục)
cung cấp bằng chứng với dụng ý gây ảnh hưởng đến niềm tin hoặc hành động, mục
tiêu của đối tượng; văn bản thủ tục hướng dẫn từng bước và mô tả cách hoàn thành
một tác vụ, chúng thường bao gồm một phần tư liệu cần thiết và minh hoạ quá trình này (Iwai, Y)
VBTT được định nghĩa là văn bản với mục đích chính để trình bày thông tin
về nghệ thuật, khoa học hoặc nghiên cứu xã hội Văn bản này bao gồm từ các bài báo, tạp chí đến sách thương mại phi hư cấu, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo (Young, Terrell A và Barbara A Ward là những người đưa ra quan điểm này)
Theo nhà nghiên cứu Pappas (2006), VBTT được phân chia thành bốn tiểu loại là: Văn bản trình bày chủ đề (topic presentation), văn bản miêu tả (descriptive attributes), văn bản trình bày sự kiện (characteristic events) và văn bản tổng kết (final summary) [46]
- Quan niệm thứ ba: VBTT là một trong 2 loại văn bản chính xét theo
phương diện nội dung Đó là VBTT và văn bản văn chương (hay văn bản nghệ thuật) Langer, Michael R.Graves là những tác giả tiêu biểu cho quan niệm này
Khi nghiên cứu về văn bản, Langer (1992) cho rằng văn bản được phân chia thành 2 loại là VBVC và VBTT (Langer, J.A) [41]
VBTT khác với VBVH, chủ yếu được viết để truyền đạt thông tin hoặc kiến thức Về cơ bản, chúng ta đọc loại VB này “để chuyển hóa các thông tin hoặc kiến thức trong văn bản thành tri thức của mình với mục đích sử dụng trong học tập và đời sống hoặc làm tư liệu cho mai sau”, “người đọc sẽ có hai tư tưởng khi đọc VBTT, một là để trải nghiệm; hai là để định vị và ghi nhớ thông tin Do đó, với hầu hết các VBTT, sự chú ý của người đọc sẽ tập trung chủ yếu vào những điều họ thu được từ việc đọc tức là thông tin chứa đựng trong văn bản” (Michael R.Graves) [43]
Như vậy, ngay ở vấn đề khái niệm “VBTT” cũng là điều mà các nhà nghiên cứu còn tranh luận Quan niệm thứ hai, có những điểm khác biệt rõ rệt so với quan niệm thứ nhất và thứ ba Trong khi, quan niệm thứ nhất cho rằng “VBTT thuộc
Trang 14phạm trù rộng lớn của văn bản phi hư cấu” thì quan niệm thứ hai lại khẳng định:
VBTT bao chứa cả văn bản phi hư cấu Tuy nhiên, trong sự khác nhau đến đối lập giữa các quan niệm, vẫn có thể nhận thấy sự thống nhất của các tác giả ở đặc điểm chung là: VBTT không sử dụng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng và mục đích chính
là cung cấp thông tin VBTT tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau (sách giáo khoa, báo chí, tạp chí, áp phích, tờ rơi quảng cáo, bảng chỉ dẫn công việc, phiếu thanh toán, trang mạng hay đĩa CD, )
Trên thế giới đã có nhiều tác giả nổi tiếng, nhiều công trình nghiên cứu đề cập vấn đề dạy học đọc hiểu VBTT như:
Nghiên cứu “Common Core Teaching and Learning Strategies English & Language Arts Reading Informational Text Grades 6-12” của Ban Giáo dục tiểu Bang Illinois đã đưa ra được những chiến thuật dạy đọc hiểu VBTT trong môn tiếng
Anh nghệ thuật từ lớp 6-12) [34], ,
Lorioczkus khi đưa ra công trình “Best ever literacy tips for teaching informational text structures” cũng cung cấp cho người học những mẹo đọc, viết
hay nhất để dạy các cấu trúc VBTT [42]
Ngoài ra, Nell K Duke và cộng sự của mình cũng đăng tải hai bài báo
Informational text and young children: When, Why, What, Where, and How? và Essential Elements of Fostering and Teaching Reading Comprehension đã chỉ ra
những cách tiếp cận của trẻ với VBTT qua các khía cạnh Khi nào, Tại sao, Cái gì, Ở đâu, Khi nào? cũng như các yếu tố thiết yếu của bồi dưỡng và dạy đọc hiểu [38]
Joan Barnatt qua nghiên cứu Using informational text to support literacy in special populations nêu lên cách sử dụng VBTT để hỗ trợ kiến thức cho các nhóm
đặc biệt [40]
Công trình Informational texts: Organizational Feature & Structures của
Surber [39] đã công bố những đặc trưng của VBTT: Tính năng tổ chức và cấu trúc
hay Ana M Taboada qua Reading to learn for ELS Motivation practices and comprehension strategies for informational texts giúp người học đọc để học cho
thực hành ELS và các chiến thuật đọc hiểu VBTT [33],…
Những công trình nghiên cứu này đã khẳng định tầm quan trọng, chỉ rõ đặc điểm, cấu trúc và cách trình bày của VBTT Nhấn mạnh vai trò của việc dạy đọc
Trang 15hiểu VBTT từ cấp tiểu học trở lên và nêu rõ yêu cầu đọc hiểu đối với từng lớp, từ lớp 6 đến lớp 12 Thậm chí, có nghiên cứu còn khẳng định VBTT “là chìa khóa dẫn đến thành công” trong học tập của học sinh
2.2 Nghiên cứu vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong môn Ngữ văn ở trong nước
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về VBTT và vấn đề dạy học đọc VBTT chưa nhiều Trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2006, các nhà khoa học chưa đề cập khái niệm “VBTT” (mặc dù, số lượng loại văn bản này được đưa vào chương trình Ngữ văn và các môn học khác chiếm tỉ lệ lớn)
Khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy có một số công trình đã bàn tới vấn đề
dạy học đọc hiểu VBTT như: Giáo trình phương pháp dạy đọc văn bản (Nguyễn Thị Hồng Nam và Dương Thị Hồng Hiếu) [23], Hướng dẫn ôn luyện trung học phổ thông Quốc gia Ngữ văn (Lê Quang Hưng và cộng sự), bài viết Xây dựng hệ thống câu hỏi đánh giá năng lực đọc hiểu VBTT của học sinh trong môn Ngữ văn (lớp 12)
của Nguyễn Thế Hưng [17]
Những nghiên cứu của các tác giả trên dù xuất phát từ những góc nhìn khác nhau nhưng đều gặp nhau ở một điểm: VBTT là kiểu loại VB khác văn bản văn học Điều này giúp độc giả có sự phân định rạch ròi giữa hai loại văn bản
Quan tâm đến VBTT, tác giả Trịnh Thị Lan đã có một số bài viết đề cập nhiệm vụ dạy học VBTT và định hướng vận dụng ngôn ngữ học văn bản vào dạy
học đọc hiểu VBTT cho học sinh phổ thông: Ngôn ngữ học văn bản với việc dạy đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông; Đề xuất một khái niệm VBTT gắn với phong cách ngôn ngữ của văn bản cho chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông [21]
Bài viết Chuẩn chương trình cốt lõi của Mĩ và một số liên hệ với việc đổi mới chương trình Ngữ văn của Việt Nam của tác giả Bùi Mạnh Hùng chỉ ra những thay đổi cơ bản trong Chuẩn đọc hiểu chương trình môn Ngữ văn của Mĩ và đề xuất định hướng dạy học VBTT cho học sinh phổ thông Việt Nam[14] Bài viết Đề xuất
về việc dạy đọc hiểu VBTT ở trường trung học của Việt Nam trong thời gian tới của
tác giả Phạm Thị Thu Hiền cũng thể hiện quan điểm cần đưa nội dung này vào chương trình mới để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và xu thế quốc tế về dạy học đọc
hiểu văn bản [11]
Trang 16Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục Dạy học đọc hiểu VBTT cho học sinh dân tộc Mông trong môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở của tác giả Lã Thị Thanh
Huyền chỉ rõ tầm quan trọng của VBTT và đưa ra những kiến giải có tính thực tiễn cao khi tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu VBTT cho học sinh trung học cơ sở ở một vùng dân tộc [12]
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thúy với bài viết VBTT trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới, đã chia sẻ về một số kinh nghiệm thu được từ
việc khảo sát chương trình giảng dạy VBTT trong khung chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới như: Mĩ, Singapore, Úc Tác giả cho biết, ở những nước này, “chuẩn đầu ra của việc giảng dạy VBTT được thiết kế rất chi tiết, cụ thể; chủ yếu hướng đến việc hình thành và rèn luyện năng lực đọc hiểu VBTT” [32]
Năm 2018 và 2019, tác giả Đỗ Ngọc Thống và các cộng sự cho ra mắt độc
giả hai cuốn sách: Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học cơ sở và Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông Theo đó, đặc điểm
của VBTT trong nhà trường trung học, yêu cầu và quy trình dạy đọc hiểu VBTT đã được các tác giả đề cập và có giới thiệu bài dạy minh họa
Việc đổi mới cách ra đề khâu kiểm tra, đánh giá của Bộ GD-ĐT trong môn Ngữ văn những năm trở lại đây càng cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển năng lực dạy đọc hiểu VBTT cho GV Ngữ văn, nhằm giúp họ hướng dẫn học sinh đọc hiểu tốt loại VBTT Đề thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia môn Ngữ văn các năm
2014, 2015, 2016, đề minh họa năm 2016, 2017, 2018, 2019; đề thi chính thức năm
2017, 2018, 2019 của Bộ đều có phần đọc hiểu với nội dung là các VB ngoài chương trình sách giáo khoa Trong đó, VBTT được người ra đề rất quan tâm
Có thể nói, những nghiên cứu trên của các tác giả là những gợi mở ban đầu
về vấn đề dạy học đọc hiểu VBTT Phía sau đó là “vỉa tầng”, những “khoảng trống” đòi hỏi giới nghiên cứu phải khai thác bao quát trên nhiều góc độ, nhiều bình diện mới có thể ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn dạy và học khi thực hiện chương trình Ngữ văn trung học phổ thông mới
Trong bài viết của tác giả Trần Thị Ngọc được in trên Tạp chí Giáo dục số 64
(số đặc biệt) tháng 4/2016 viết về Văn bản đa phương thức và tầm quan trọng của
Trang 17đọc hiểu văn bản này, chúng tôi nhận thấy trong văn bản thông tin còn tồn tại ở
dạng văn bản đa phương thức, nghĩa là văn bản thông tin hình thành dưới nhiều dạng/loại khác nhau trong đời sống như: văn bản thuần túy (ngôn ngữ), văn bản kết hợp ngôn ngữ với hình ảnh, văn bản kết hợp hình ảnh với âm thanh, hoặc chỉ mỗi hình ảnh hay âm thanh,…Văn bản thông tin với đặc trưng cung cấp thông tin nhưng trong đời sống thông tin có thể chứa đựng ở nhiều dạng/loại khác nhau mà vẫn đạt được muc đích giao tiếp vì vậy chúng tôi đồng tình khi tác giả đã chỉ ra những đặc điểm, phân loại văn bản thông tin Từ đó tác giả đánh giá tầm quan trọng của việc dạy học văn bản thông tin trong đời sống xã hội, trong giáo dục để đáp ứng xu thế quốc tế của các nước có nền kinh tế, giáo dục phát triển như Mĩ, Úc, Anh, Hàn Quốc Tóm lại, bài viết khẳng định dạy học văn bản thông tin là cơ sở cho việc đọc hiểu trong môn Ngữ văn nói riêng và cho các môn học khác nói chung
Tác giả Phạm Thị Thu Hiền cho rằng chương trình dạy học văn bản văn học
và văn bản thông tin của bang California, NAEP (Hội đồng chỉ đạo đánh giá cấp quốc gia) với chương trình dạy học văn bản văn học và văn bản thông tin của Việt Nam có sự phân bố khác nhau Đối với Chương trình bang California và NAEP yêu cầu học sinh chú trọng đọc các văn bản không hư cấu để phục vụ cho yêu cầu của đời sống xã hội Với từng cấp lớp cụ thể sự phân loại các văn bản thông tin trong hệ thống kĩ năng đọc của NAEP cũng có sự thay đổi dễ nhận thấy, cụ thể đối với lớp 4 VBTT là 50% bằng với VBVH; Lớp 8 thì Văn bản thông tin chiếm 55%; Lớp 12 VBTT là 70% Từ đó, chúng ta có thể thấy sự biến động về tầm quan trọng của VBTT trong dạy học đọc hiểu môn Ngữ văn là cần được chú trọng và đề cao để đáp ứng như cầu của xã hội thực tiễn đề ra
Ngoài ra, trong bài viết Một số vấn đề đổi mới dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông của tác giả Bùi Mạnh Hùng có nêu ra bốn yếu tố cần
triển khai đồng bộ để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và bắt kịp xu thế quốc tế đó là: mục tiêu đọc hiểu, chuẩn đọc hiểu, văn bản đọc hiểu, phương pháp dạy học đọc hiểu, đánh giá kết quả đọc hiểu Một, với mục tiêu đọc hiểu cần có định hướng mới tức là định hướng theo cách tiếp cận năng lực để phát triển bốn kĩ năng (nghe – nói – đọc – viết) chứ không tập trung cung cấp kiến thức như CT năm 2006; Hai, văn
Trang 18bản đọc hiểu cần phải được mở rộng chứ không bó hẹp theo phân phối giảm dần của CT năm 2006 mà cần làm phong phú nguồn tài liệu của văn bản thông tin như các văn bản thuần túy ngôn ngữ, văn bản đa phương thức kết hợp giữa âm thanh, hình ảnh,…ở cả hai hình thức in và kĩ thuật số; Ba, chuẩn đọc hiểu cần phải xây dựng với những mục tiêu cả về kiến thức lẫn kĩ năng bằng những động từ cụ thể tránh lỗi diễn đạt chung chung, mơ hồ cả về cách hiểu lẫn hành động như trong CT năm 2006 Từ đó người đọc hoàn toàn có thể hiểu được mục đích cũng như lợi ích sau khi đọc/học văn bản thông tin theo chuẩn đọc hiểu đã được xây dựng trước đó; Bốn, đổi mới phương pháp dạy học đọc hiểu trong bài viết tác giả cũng phân biệt thuật ngữ “dạy học đọc hiểu” khác với “giảng văn” Hiểu một cách đơn giản là dạy học đọc hiểu sẽ thiên về dạy phương pháp đọc cho HS (lấy người học làm trung tâm); Cuối cùng đánh giá kết quả đọc hiểu là khâu quan trọng để thu thập thông tin phản hồi giúp người dạy nắm bắt được chất lượng để từ đó có điều chỉnh phù hợp cho công tác giảng dạy
Việc chương trình chú trọng đến vấn đề VBTT càng cho thấy, loại văn bản này có vai trò và vị trí quan trọng cả trong nhà trường và đời sống Tuy nhiên, thực
tế dạy học VBTT của giáo viên Ngữ văn ở các nhà trường cấp trung học còn có những khó khăn nhất định Yêu cầu phát triển năng lực VBTT cho học sinh trong chương trình mới đặt ra cho họ những thử thách, đòi hỏi họ phải thích ứng và thay đổi; phải tích cực nghiên cứu, hiểu thấu đáo về VBTT, phân biệt VBTT với các loại
VB khác, tích cực đổi mới phương pháp dạy học để tổ chức tốt hoạt động dạy học đọc hiểu loại văn bản này
Những năm gần đây, việc đào tạo lại và bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên được tiến hành mạnh mẽ trên cơ sở huy động các nguồn lực khác nhau Mục tiêu của việc làm này nhằm đáp ứng được chuẩn đầu ra và chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên “Chương trình bồi dưỡng đã giúp giáo viên cập nhật các phương pháp mới và vận dụng vào thực tiễn dạy học Nội dung các khóa bồi dưỡng đã có sự thống nhất và bổ sung cho sự thiếu hụt trong chương trình đào tạo ở các trường sư phạm khi tập trung vào các phương pháp/kĩ thuật dạy học môn học”
Tuy vậy, thực tế thu hoạch của các đợt tập huấn chưa được như mong muốn Chương trình bồi dưỡng chưa giúp được nhiều cho giáo viên trong việc chuẩn bị
Trang 19dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới Vấn đề phát triển năng lực cho giáo viên nói chung, giáo viên Ngữ văn nói riêng càng cần được đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài Dạy học văn bản thông tin cho học sinh lớp 10 theo chương trình
giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 người viết xây dựng, đề xuất những biện
pháp để dạy học văn bản thông tin theo định hướng Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 cho học sinh lớp 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đưa ra, đề tài thực hiện những nhiệm vụ chính sau:
3.2.1 Nghiên cứu những vấn đề lí luận về dạy học đọc hiểu; khái niệm, đặc
trưng của văn bản thông tin
3.2.2 Khảo sát chương trình và thực tế dạy học các văn bản thông tin trong
chương trình Ngữ văn lớp 10 năm 2006
3.2.3 Đề xuất một số biện pháp dạy học văn bản thông tin cho học sinh lớp
10 theo chương trình giáo dục phổ thông môn ngữ văn 2018
3.2.4 Thực nghiệm sư phạm dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 ở
trường THPT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài hướng vào việc tìm hiểu quy trình dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 và việc đề xuất một số biện pháp dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 ở trường THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Văn bản thông tin được phân phối giảng dạy ở cả hai cấp THCS và THPT Tuy nhiên trong luận văn này, đề tài chỉ nghiên cứu, thực nghiệm sư phạm đối với phần văn bản thông thuộc khối 10 trong chương trình Ngữ văn THPT
Trang 205 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: xử lý thông tin định lượng và định
tính, phương pháp này được sử dụng trong quá trình phân tích, tổng hợp cơ sở lí luận và thực tiễn, đánh giá khả năng ứng dụng của những phương pháp, đề xuất xây dựng chủ đề, phát huy năng lực tự học cho HS lớp 10
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: được sử dụng trong việc thu thập
những thông tin về xu hướng phát triển Chương trình giáo dục Phổ thông môn Ngữ văn của Việt Nam và một số nước phát triển trên thế giới, thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông hiện nay
- Phương pháp thống kê: thống kê kết quả thu được từ việc khảo sát nhằm
đưa ra những kết luận khách quan nhất về thực trạng dạy và học văn bản đa phương thức, làm cơ sở thực tiễn của đề tài
- Phương pháp điều tra, khảo sát: thực hiện phỏng vấn, phát phiếu khảo
sát để tìm hiểu thực trạng dạy và học văn bản đa phương thức cho HS lớp 10
- Phương pháp thực nghiệm: Vận dụng những đề xuất trong luận văn vào
việc dạy học cụ thể để rút ra ý nghĩa của nó
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận và khuyến nghị, Thư mục tham khảo, luận văn được triển khai thành những chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương này chủ yếu tìm hiểu về chương trình, nội dung và phương pháp dạy học định hướng văn bản thông tin, dạy học tiếp cận năng lực người học tạo tiền đề lí luận cho việc vận dụng các biện pháp dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 Ngoài ra, chúng tôi còn dựa vào những khảo sát thực tế để đánh giá thực trạng dạy
và học văn bản thông tin trong nhà trường nhằm tạo cơ sở khoa học vững chắc cho
đề tài
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10
Trang 21Dựa trên những cơ sở khoa học của chương 1, chương 2 tập trung đề xuất, định hướng và đưa ra một số biện pháp dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 Xây dựng qui trình, các bước dạy học với loại văn bản này nhằm phát triển năng lực cho HS Ở mỗi phần người viết sẽ phân tích mức độ ứng dụng, những lưu ý thực hiện để thấy được mức độ khả thi của những biện pháp mà chúng tôi đưa ra
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Đây là chương thực hiện những đề xuất, định hướng dạy học văn bản thông tin cho HS lớp 10 bằng những văn bản, chủ đề dạy học cụ thể Trong quá trình thực nghiệm người viết còn thu tập thông tin, ý kiến phản hồi của GV và HS; từ đó phân tích đánh giá kết quả để có những điều chỉnh kịp thời cho đề tài nghiên cứu
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướng phát triển năng lực
Từ cuối thế kỉ XX đã có rất nhiều công trình khoa học của các nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kì, Australia, New Zealand,… nghiên cứu và công bố những kết quả đáng kể góp phần trong dạy học định hướng phát triển năng lực nói chung và dạy học đọc hiểu văn bản nói riêng Theo đó, thiết kế chương trình
có hai cách tiếp cận chính là tiếp cận nội dung biết cái gì? và tiếp cận theo kết quả đầu ra – biết làm gì từ những điều đã biết, cụ thể là:
Chương trình theo kết quả đầu ra của NIER (National Institute for
Educational Research – Viện nghiên cứu Giáo dục Quốc gia Nhật Bản) [28;34] đã bàn đến năng lực của người học khá cụ thể Mục tiêu chương trình này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh biết và có thể làm được gì? Nghĩa là chương trình được thiết kế để tiếp cận khả năng, kĩ năng mà HS mong muốn đạt được khi học các môn học tại nhà trường
Chương trình Québec của Canada [11;29] cũng chuyển sang chương trình
phát triển năng lực vì sự thành công của người học là sử dụng tri thức của mình giành được vào việc hiểu thế giới xung quanh và chủ động với hoạt động của bản thân mình
Ngoài ra, Chương trình của New Zealand [32;19] cũng đã tập trung vào bốn
năng lực (Sử dụng ngôn ngữ nói và viết trong giao tiếp và học tập; Trình bày việc viết và nói thông qua các phương tiện thông tin đại chúng khác nhau; Đọc và nghe các văn bản viết, nói và văn vản thông tin đại chúng; Viết được các thể loại khác nhau với những mục đích cá nhân và xã hội) Nhìn chung 1/4 tổng số năng lực quan trọng mà chương trình New Zealand thiết kế và xây dựng chương trình thì kĩ năng Đọc và nghe các văn bản viết, nói và văn vản thông tin đại chúng là một kĩ năng có vai trò quan trọng trong chương trình của nước này
Tuy nhiên, có một số nước dạy học theo cách tiếp cận kết hợp cả hai hướng một cách đa dạng gồm: Hoa Kì, Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,…
mà vẫn đạt được hiệu quả giáo dục đáng khâm phục trên trường quốc tế
Trang 23Giáo dục định hướng năng lực (định hướng phát triển năng lực) hay còn gọi
là định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày này đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng năng lực nhằm phát triển năng lực của người học Từ đó, đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các vấn đề của cuộc sống và nghề nghiệp và nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình định hướng năng lực tập trung vào việc mô tả đầu ra (sản phẩm cuối cùng) của quá trình dạy học Việc quản lí chất lượng dạy học chuyển từ việc “điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi đưa
ra bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng năng lực từ đó sẽ rút ra ưu điểm vượt trội của chương trình định hướng năng lực so với định hướng nội dung:
Bảng 1.1 Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung và năng lực [50]
Tiêu chí Chương trình định hướng nội
Kết quả cần đạt được mô tả chi tiết
và có thể quan sát, đánh giá được, thể hiện được mức độ tiến bộ của
HS một cách liên tục
Nội dung
Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiến
Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được năng lực đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết
Phương Giáo viên là người truyền thụ tri Giáo viên chủ yếu là người tổ
Trang 24Tiêu chí Chương trình định hướng nội
dung
Chương trình định hướng năng
lực pháp dạy
học
thức, là trung tâm của quá trình dạy học Học sinh tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn
chức, hỗ trợ, học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn
đề, giao tiếp,…
Đánh giá
Tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn
1.1.2 Văn bản thông tin và dạy học văn bản thông tin
1.1.2.1 Văn bản thông tin
Khái niệm:
Ở nước ngoài, khái niệm văn bản thông tin đã được nhắc đến trong bài viết
“Reading and writing information text in the primary grades” của tác giả Duke &
Bennet – Armistead, đó là một tập hợp con của danh mục phi hư cấu lớn hơn Mục đích chính của nó là để thông báo cho người đọc về thế giới tự nhiên và xã hội Các loại văn bản thông tin có thể kể đến như: SGK, tự truyện và tiểu sử, sách phi hư cấu, tài liệu tham khảo bao gồm internet [37;45] Tất cả văn bản thông tin phải được coi là phi hư cấu, nhưng không phải tất cả các văn bản phi hư cấu là văn bản thông tin Tóm lại, văn bản thông tin nói chung được định nghĩa là văn bản với mục đích chính là thể hiện thông tin về nghệ thuật, khoa học hoặc văn bản cung cấp thông tin thuộc mọi lĩnh vực của đời sống
Ở Việt Nam, trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm
2006, khái niệm văn bản thông tin chưa được sử dụng một cách chính thức để chỉ một loại hay một kiểu văn bản riêng biệt mà thay vào đó là khái niệm văn bản nhật
dụng Tuy nhiên, văn bản nhật dụng được hiểu “không phải là một thể loại văn học hay một kiểu văn bản Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết với đới sống
Trang 25trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng dân số, quyền trẻ em, ma túy,… Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản” [19;21] Sở dĩ gọi văn bản nhật
dụng là xuất phát từ nội dung đề tài (gắn với những vấn đề có tính thời sự)… và vì thế những văn bản này có thể thuộc bất kì thể loại nào của văn học hoặc không phải văn bản văn học
Như vậy, khái niệm “văn bản thông tin” chỉ mới xuất hiện trong chương trình GDPT môn Ngữ văn mới (2018) Đó là một trong ba kiểu văn bản: văn bản
văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống: “Văn bản thông tin (informational text) là văn bản chủ yếu dùng để cung cấp thông tin về con người, sự vật, hiện tượng hoặc hướng dẫn thực hiện hoạt động dựa trên các số liệu, sự kiện khách quan và kiến thức khoa học Văn bản thông tin rất phổ biến trong xã hội dưới dạng các bài báo, tạp chí, từ điển, SGK, sách viết về danh nhân, sách hướng dẫn (du lịch, sử dụng thuốc, nấu ăn, ), pa nô, áp phích, Văn bản thông tin thường được trình bày bằng kênh chữ kết hợp với các kênh khác như hình ảnh, âm thanh, nên VBTT thường là VB đa phương thức (multimodal text)” [47]
Trong bài báo “Văn bản thông tin và vấn đề phát triển năng lực dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho giáo viên ngữ văn trung học” in trên Tạp chí Giáo dục số
461, tác giả Vũ Thị Thu Hương – giáo viên trường THPT Minh Quang, Hà Nội có chỉ
ra những đặc điểm chung của VBTT là: “VBTT không sử dụng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng và mục đích chính là cung cấp thông tin VBTT tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau (SGK, báo chí, tạp chí, áp phích, tờ rơi, quảng cáo, bảng chỉ dẫn công việc, phiếu thanh toán, tời rơi quảng cáo, trang mạng hay đĩa CD,…) [20, 26]
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi quan niệm: VBTT là VB được viết ra nhằm cung cấp thông tin, kiến thức về đối tượng một cách khách quan, trung thực giúp người đọc/nghe hiểu chính xác những gì được mô tả, giới thiệu VBTT gồm các thể loại đa dạng như: niên giám, tiểu sử, hợp đồng, hướng dẫn sử dụng, nội quy, nhãn dán, báo cáo, biển quảng cáo,…
Trong chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước trên thế giới, văn bản thông tin có vị trí quan trọng và chiếm tỉ lệ lớn, là nguồn ngữ liệu để giáo viên
Trang 26hướng dẫn HS đọc hiểu nhằm góp phần hình thành và phát triển năng lực cho người học Trong chương trình Ngữ văn mới của Việt Nam, văn bản thông tin cũng có vai trò tương tự
Đặc điểm:
Văn bản thông tin là một dạng văn bản được viết để truyền đạt thông tin hoặc kiến thức Văn bản thông tin thường trình bày thông tin một cách khách quan cung cấp thông tin về đối tượng một cách trung thực giúp người đọc, người nghe hiểu chính xác những gì được mô tả, giới thiệu Thông tin thường được tổ chức theo một trong các mô hình như: nguyên nhân và kết quả; nguyên nhân và ảnh hưởng; vấn đề và giải pháp; trật tự thời gian, so sánh và phân loại, Vì vậy, văn bản thông tin có thể là một bảng biểu, chỉ số, kí hiệu, hình ảnh, âm thanh,…giúp người đọc, người nghe dễ dàng hơn trong việc xác định vị trí của thông tin cũng như mối quan
hệ của các thông tin để hiểu nội dung của nó
Dựa vào Chương trình Ngữ văn 2018 có thể chia văn bản thông tin thành 3
loại: Một, văn bản thông tin tổng hợp: thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu
tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận; Hai, báo cáo kết quả nghiên cứu về một
vấn đề tự nhiên hoặc xã hội, có sử dụng sơ đồ, bảng biểu, có thuyết minh các hình
minh hoạ, có sử dụng trích dẫn, cước chú và phần tài liệu tham khảo; Ba, văn bản
đa phương thức (kịch bản sân khấu hoá một tác phẩm có trong chương trình môn Ngữ văn được chuyển thể)
Từ khái niệm, đặc điểm, phân loại của văn bản thông tin chúng ta có thể thấy vai trò của văn bản này đối với việc phát triển năng lực cho HS như: có tác dụng trong việc hình thành và bồi dưỡng kĩ năng sống, phát triển toàn diện trong một
Trang 27hoàn cảnh cụ thể; khẳng định được mục tiêu dạy học đồng thời nâng cao hiểu biết những vấn đề cuộc sống, xã hội cho HS trong thời đại công nghệ 4.0 Đồng thời, qua quá trình đọc văn bản thông tin, tìm kiếm và sử dụng thông tin từ những văn bản đó HS chủ động chiếm tri thức và phát triển khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, hình ảnh, kí hiệu, âm thanh,…
1.1.2.2 Dạy học văn bản thông tin
Nghiên cứu vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản thông tin, chúng tôi nhận thấy chương trình Tiếng Anh của Singapore đã xác định rõ những kỹ năng, chiến lược, thái độ và hành vi cần phải đạt được khi đọc và quan sát văn bản thông tin (informational texts)/ văn bản chức năng (functional texts) ở bậc trung học như sau:
Bảng 1.2 Bảng yêu cầu cần đạt khi đọc hiểu văn bản thông tin trong chương trình
tiếng Anh Singapore [11;7]
Bố cục của văn bản
- Xác định những đặc điểm thuộc về kỹ thuật in ấn và trực quan (tiêu đề, đề mục, hình ảnh minh họa, sử dụng logo,…)
- Xác định những đặc điểm của văn bản (nhan đề/tiêu đề,
đề mục lớn, đề mục nhỏ, lời chú thích và tên của hình vẽ, biểu đồ, bảng biểu,…)
- Nhận diện mô hình cấu trúc của văn bản (liệt kê chuỗi sự việc, nguyên nhân – kết quả,…)
- Dự đoán nội dung của văn bản dựa vào:
+ Kiến thức nền + Những đặc điểm thuộc về kỹ thuật in ấn và trực quan + Mô hình tổ chức văn bản
+ Cấu trúc tổ chức văn bản (Cấu trúc theo mô hình một câu chuyện, định hướng – mâu thuẫn – cao trào – giải
quyết mâu thuẫn,…)
Sự phản hồi đối với
văn bản
Giải thích những dự đoán về nội dung của văn bản có thể chấp nhận được không hay phải thay đổi, điều
Trang 28Tiêu chí Nội dung
chỉnh Tại sao?
Trình bày lại ý tưởng chính và những chi tiết quan trọng Kiểm tra/ nghiên cứu những ý kiến tranh luận, trái chiều đối với một vấn đề, bao gồm cả chất lượng của những tranh luận ấy
Xác định và đưa ra những bằng chứng chứng minh cho những tranh luận, gồm có:
+ Sự kiện + Nguyên nhân + Yêu cầu đặt ra đối với những người có thẩm quyền + Sử dụng phương pháp logic trong tranh luận
Nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả (VD: cách lựa chọn từ ngữ, câu hỏi tu từ, ….) đã thay đổi như thế nào cho phù hợp với mục đích và đối tượng hướng đến của văn bản để đạt được hiệu quả như mong
Nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống và cộng sự có trình bày các bước cơ bản của
việc dạy học VBTT trong cuốn Dạy học phát triển năng lực Ngữ văn THCS [26;28]
như sau:
- Tìm hiểu, thu thập, lựa chọn thông tin về văn bản: GV cần tìm hiểu, thu
thập thông tin về người viết/tác giả, đề tài/ chủ đề, cách thức và phương tiện trình bày, nguồn in xuất bản văn bản … Những thông tin này rất quan trọng, giúp GV
Trang 29hiểu được mục đích sử dụng của văn bản và có cách thức hướng dẫn HS đọc văn bản cho phù hợp
- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ của bài học: GV dựa vào yêu cầu cần đạt của
chương trình về việc dạy học văn bản thông tin ở từng khối lớp, khả năng/trình độ của HS trong lớp, mục đích dạy học ở địa phương…để xác định mục tiêu và nhiệm
vụ của bài học cho phù hợp Mục tiêu của bài học có thể được trình bày khái quát hoặc cụ thể thành từng mức độ nhận thức tương ứng với những kiến thức, kĩ năng, thái độ Tuy nhiên, dù trình bày theo cách nào, mục tiêu bài học cũng phải hướng tới việc góp phần hình thành và phát triển các năng lực chuyên biệt và năng lực chung cho người học
- Xây dựng kế hoạch dạy học: GV soạn giáo án cho bài dạy để cụ thể hóa
mục tiêu và nhiệm vụ của bài học Giáo án có thể được trình bày theo nhiều hình thức khác nhau, song, phải chỉ ra được: các hoạt động GV tổ chức để HS đạt được mục tiêu bài học; các phương pháp, phương tiện dạy học tích cực; các phương án kiểm tra đánh giá quá trình và đánh giá kết quả học tập của HS,… Trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu kiểu văn bản này là rất cần thiết và cũng có nhiều thuận lợi
Kế hoạch dạy học được cụ thể hóa như sau:
Chuẩn bị cho bài dạy
- Tìm hiểu, thu thập, lựa chọn thông tin về văn bản: GV cần tìm hiểu, thu thập, lựa chọn thông tin về người viết/tác giả, đề tài/chủ đề, cách thức và phương tiện trình bày, nguồn in/xuất bản văn bản,…
- Xác định mục tiêu và nhiệm vụ của bài học
Quy trình lên lớp:
- Những công việc khởi động chuẩn bị vào bài giảng
+ Nêu mục tiêu của bài học
+ Giới thiệu đề tài, chủ đề, thể loại của văn bản và đặt câu hỏi xoay quanh những yếu tố làm bộc lộ những điều đã biết, chưa biết, muốn biết mà văn bản đặt ra
+ Cho HS quan sát tranh ảnh, clip, âm thanh,… (đã chọn lọc, cắt ghép phù hợp thời gian, phù hợp lứa tuổi) có nội dung liên quan đến thông tin văn bản dẫn dắt
Trang 30+ Yêu cầu học sinh phát biểu ngắn gọn vấn đề đời sống có liên quan đến nội dung văn bản thông tin thể hiện
+ Cung cấp cho học sinh các nguồn tư liệu lấy từ nhiều nguồn khác nhau + Định hướng cách đọc cho học sinh đối với những tiểu loại của văn bản thông tin hoặc những lưu ý khi đọc những văn bản thông tin đó
- Tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản thông tin
+ Hướng dẫn học sinh xem xét các đặc điểm của văn bản về hình thức
+ Hướng dẫn học sinh xem xét các đặc điểm của văn bản về nội dung
+ Hướng dẫn học sinh đánh giá về hình thức và nội dung của văn bản
+ Hướng dẫn học sinh rút ra các lưu ý về cách đọc và gợi mở những vấn đề cần tiếp tục suy nghĩ, đọc thêm để củng cố, phát triển kĩ năng đọc
Thiết kế bài giảng: có sử dụng các công cụ, phương tiện hỗ trợ bài giảng và
thực hiện giảng dạy đọc hiểu VBTT tại lớp học thực tế
Như vậy, qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy việc dạy học VBTT đã được đề cập, nghiên cứu trong và ngoài nước Các tác giả đã đưa ra những yêu cầu, lưu ý và quy trình chung để thực hiện dạy học đọc hiểu VBTT Tất cả sẽ là những gợi ý giúp chúng tôi nghiên cứu và đưa ra những biện pháp cụ thể để dạy học VBTT dựa trên tình hình thực tế
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Vị trí, vai trò của văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn lớp 10
Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2006 của Việt Nam, ở bậc THPT học sinh được hướng dẫn đọc hiểu hai loại văn bản: văn bản văn học và văn bản nhật dụng Trong đó, văn bản nhật dụng “không phải là một thể loại văn học hay một kiểu văn bản Sở dĩ gọi văn bản nhật dụng là xuất phát từ nội dung
đề tài (gần với những vấn đề có tính thời sự - chúng tôi nhấn mạnh)…và vì thế những văn bản này có thể thuộc bất kì thể loại nào của văn học hoặc không phải văn bản văn học” Như vậy, khái niệm “văn bản thông tin” chưa xuất hiện trong chương trình Ngữ văn THPT năm 2006 Tuy nhiên, trong chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước trên thế giới, văn bản thông tin có vị trí quan trọng mà chiếm tỉ lệ lớn, là nguồn ngữ liệu để giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu nhằm góp phần
Trang 31hình thành và phát triển năng lực đọc cho người học Trong chương trình môn Ngữ văn mới của Việt Nam, văn bản thông tin cũng có vai trò tương tự
Dựa vào đặc điểm của văn bản thông tin, có thể thấy, hầu hết các văn bản trong sách giáo khoa các môn học đều có thể coi là văn bản thông tin; riêng đối với sách giáo khoa các môn Ngữ văn trung học phổ thôngc có những văn bản được xếp vào nhóm văn bản thông tin như sau:
Ngữ văn
10
Các bài khái quát văn học sử về nền văn học, thời kì văn học, giai đoạn văn học, tác gia văn học, tác giả văn học
Tổng quan nền văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử
Khái quát văn học dân gian Việt Nam
Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
Truyện Kiều của Nguyễn Du Khái quát lịch sử tiếng Việt
Các bài về lí luận văn học
Văn bản văn học Nội dung và hình thức của văn bản văn học
Các bài tiểu dẫn ở phần đọc hiểu văn bản văn học
Giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Thuật hoài trong bài học về văn bản Thuật hoài Giới thiệu về tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi trong văn bản Bảo kính cảnh giới, bài 43 Giới thiệu về tác giả Trương Hán Siêu và bài Bạch Đằng giang phú trong bài học về văn bản Bạch Đằng giang phú
Ngữ văn Các bài khái quát văn học sử về Khái quát văn học Việt Nam từ
Trang 32Lớp Loại văn bản thông tin Tên bài học
11 nền văn học, thời kì văn học, giai
đoạn văn học, tác gia văn học, tác giả văn học
đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945
Nguyễn Khuyến Nam Cao
Xuân Diệu Nhật kí trong tù Hồ Chí Minh
Các bài về lí luận văn học
Một số thể loại văn học: Thơ, truyện
Một số thể loại văn học: Kịch, Văn nghị luận
Các bài tiểu dẫn ở phần đọc hiểu văn bản văn học
Giới thiệu về tác giả Lê Hữu Trác
và bài kí Vào phủ chúa Trịnh trong bài học về văn bản Vào phủ chúa Trịnh
Giới thiệu về tác giả Tú Xương
và bài thơ Thương vợ trong bài học về văn bản Thương vợ
Giới thiệu về tác giả Hồ Xuân Hương và bài thơ Tự tình trong bài học về văn bản Tự tình
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Công Trứ và bài thơ Bài ca ngất ngưởng trong bài học về văn bản Bài ca ngất ngưởng
Giới thiệu về tác giả Cao Bá Quát
và bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát trong bài học về văn bản Bài
ca ngắn đi trên bãi cát
Trang 33Lớp Loại văn bản thông tin Tên bài học
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu và bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong bài học về văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Giới thiệu về tác giả Ngô Thì Nhậm và bài Chiếu cầu hiền trong bài học về văn bản Chiếu cầu hiền
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân và truyện ngắn Chữ người
tử tù trong bài học về văn bản Chữ người tử tù
Giới thiệu về tác giả Thạch Lam
và truyện ngắn Hai đứa trẻ trong bài học về văn bản Hai đứa trẻ Giới thiệu về tác giả Nguyễn Huy Tưởng và văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trong bài học về văn bản Vình biệt Cửu Trùng đài
Ngữ văn
12
Các bài khái quát văn học sử về nền văn học, thời kì văn học, giai đoạn văn học, tác gia văn học, tác giả văn học
Khái quát Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX
Tố Hữu Nguyễn Tuân
Hồ Chí Minh
Các bài về lí luận văn học
Giá trị văn học và tiếp nhận văn học
Quá trình văn học và phong cách
Trang 34Lớp Loại văn bản thông tin Tên bài học
Các bài tiểu dẫn ở phần đọc hiểu văn bản văn học
Giới thiệu về tác giả Quang Dũng
và bài thơ Tây tiến trong bài học
về văn bản Tây tiến Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm và bài thơ Đất nước trong bài học về văn bản Đất nước
Giới thiệu về tác giả Xuân Quỳnh
và bài thơ Sóng trong bài học về văn bản Sóng
Giới thiệu về tác giả Thanh Thảo
và bài thơ Đàn ghi ta của Lor –ca trong bài học về văn bản Đàn ghi
ta của Lor –ca
Giới thiệu về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông trong bài học
về văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông
Giới thiệu về tác giả Tô Hoài và truyện ngắn Vợ chồng A Phủ trong bài học về văn bản Vợ chồng A Phủ
Giới thiệu về tác giả Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt trong bài học về văn bản Vợ nhặt
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trung Thành và truyện ngắn
Trang 35Lớp Loại văn bản thông tin Tên bài học
Rừng xà nu trong bài học về văn bản Rừng xà nu
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Thi
và truyện ngắn Ngững đứa con trong gia đình trong bài học về văn bản Ngững đứa con trong gia đình
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa trong bài học về văn bản Chiếc thuyền ngoài xa Giới thiệu về tác giả Lưu Quang
Qua những thống kê ở trên, có thể thấy, so với văn bản văn học, số lượng văn bản thông tin được dạy trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn năm
2006 ở trung học phổ thông ở Việt Nam không nhiều Hơn nữa, các văn bản thông tin chủ yếu được trình bày nội dung bằng chữ, ít văn bản có thêm các hình ảnh, sơ
đồ, ghi chú, bảng biểu,…; đặc biệt thể loại của văn bản thông tin chưa đa dạng, chưa có nguồn văn bản kĩ thuật số để hướng dẫn học sinh hiểu
Trong thời gian tới, để phát triển năng lực đọc hiểu của HS, cần bổ sung thể loại và đa dạng hóa nguồn văn bản để việc dạy học đọc hiểu trong nhà trường phổ thông đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và xu hướng quốc tế
Ngoài ra, để tìm hiểu cách thiết kế bài học các VB nhật dụng trong SGK, chúng
Trang 36tôi đã tiến hành phân tích mục tiêu dạy học các văn bản này Dưới đây là bảng trích dẫn mục tiêu dạy học những văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 10 (Chương trình năm 2006):
2 Khái quát văn học dân
gian Việt Nam
Nắm được các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian và khái niệm về các thể loại của văn học dân gian Việt Nam
Hiểu rõ vị trí, vai trò và những giá trị to lớn của văn học dân gian trong mối quan hệ với văn học viết và đời sống văn hoá dân tộc
Nắm vững một số đặc điểm lớn về nội dung
và hình thức của văn học trung đại Việt Nam trong quá trình phát triển
Yêu mến, trân trọng, giữ gìn và phát huy di sản văn hoá dân tộc
4 Truyện Kiều của Nguyễn
Du
Hiểu được ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội
và các nhân tố thuộc cuộc đời riêng đối với
sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du; nắm vững những điểm chính trong sự nghiệp
Trang 375 Khái quát lịch sử tiếng
Việt
Nắm được một cách khái quát nguồn gốc, các mối quan hệ họ hàng, quan hệ tiếp xúc, tiến trình phát triển của tiếng Việt và hệ thống chữ viết của tiếng Việt
Thấy rõ lịch sử phát triển của tiếng Việt gắn
bó với lịch sử phát triển của đất nước, của dân tộc
Bồi dưỡng tình cảm quý trọng tiếng Việt – tài sản lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc
Như vậy, trong chương trình năm 2006, mục tiêu dạy học các VB nhật dụng
được cụ thể hóa bằng các động từ như: nắm được, thấy được, hiểu được… Điều này
cho thấy việc dạy học các văn bản nhật dụng đang được chú trọng vào nội dung văn
Trang 38bản mà chưa quan tâm đúng mức đến việc phát triển năng lực HS và kết nối thông tin trong văn bản với thực tế đời sống Điều đáng nói là ranh giới của việc dạy các văn bản này với các văn bản văn học chưa được thấy rõ GV thường dạy VB nhật dụng giống như dạy các VB nghệ thuật khác
Trong khi đó, ở chương trình Ngữ văn 2018 việc dạy học văn bản thông tin được hướng dẫn rất cụ thể Về cơ bản, chúng ta đọc loại văn bản này để chuyển hóa các thông tin, kiến thức trong văn bản thành tri thức của mình với mục đích sử dụng trong học tập và đời sống hoặc làm tư liệu cho mai sau Chỉ nguyên mục đích đó đã làm cho việc dạy văn bản thông tin trở nên khác với dạy văn bản văn học
Dưới đây là bảng yêu cầu cần đạt đối với VBTT theo CTGDPT môn Ngữ văn mới ở lớp 10 [4]:
Văn bản thông tin
Đọc hiểu nội dung
- Biết suy luận và phân tích mối liên
hệ giữa các chi tiết và vai trò của
chúng về việc thể hiện thông tin
chính của văn bản
- Phân tích và đánh giá được đề tài,
thông tin cơ bản của văn bản, cách
đặt nhan đề của tác giả, nhận biết
được mục đích của người viết
Đọc hiểu hình thức
- Nhận biết được một số dạng văn bản
thông tin tổng hợp: thuyết minh có
lồng ghép một hay nhiều yếu tố như
miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
giải thích được mục đích của việc
lồng ghép các yếu tố đó vào văn bản
Kiến thức
Va n bản tho ng tin: sự kết hợp giữa phu o ng tiẹ n ngo n ngữ và các phu o ng tiẹ n giao tiếp phi ngo n ngữ; sự kết hợp các phu o ng thức biểu đạt; cách đu a tin
và quan điểm của ngu ời viết; va n bản thuyết minh tổng hợp; nọ i quy, bản
hu ớng dẫn ở no i co ng cọ ng
Ngữ liệu
– Báo cáo nghie n cứu; va n bản thuyết minh có lồng ghép mọ t hay nhiều yếu tố mie u tả, tự sự, biểu cảm, nghị luạ n – Nọ i quy, va n bản hu ớng dẫn
Trang 39Yêu cầu cần đạt Nội dung
- Nhận biết và phân tích được sự kết
hợp giữa phương tiện giao tiếp ngôn
ngữ và các phương tiện giao tiếp phi
ngôn ngữ để biểu đạt nội dung văn
bản một cách sinh động, hiệu quả
- Phân tích, đánh giá được cách đưa tin
và quan điểm của người viết ở một
bản tin
Liên hệ, so sánh, kết nối
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của
văn bản thông tin đã đọc đối với bản
thân
Đọc mở rộng
- Trong một năm học, đọc tối thiểu 18
văn bản thông tin (bao gồm cả văn
bản được hướng dẫn đọc trên mạng
Internet) có đội dài tương đương các
văn bản đã học
Qua phân tích VBTT ở cả hai chương trình, tôi nhận thấy cả hai chương trình đều đề cập đến DH VBTT Tuy nhiên, nếu ở chương trình năm 2006 việc dạy học VBTT còn rất mờ nhạt thì ở CT năm 2018 đã có bước chuyển mạnh trong việc thay đổi khái niệm về VBTT, mục đích và vai trò của việc dạy học loại VB này cũng được nêu rõ ràng
1.2.2 Thực trạng dạy học văn bản thông tin tại trường THPT hiện nay
Ở trên chúng tôi đã nghiên cứu về vị trí và vai trò của văn bản thông tin trong chương trình môn Ngữ văn năm 2006, trước hết chúng tôi nhận thấy về kết cấu chương trình, các văn bản thông tin được phân phối dạy học đều ở các khối 10,
11, 12 Các loại văn bản thông tin chủ yếu là: Các bài khái quát văn học sử về nền
Trang 40văn học, thời kì văn học, giai đoạn văn học, tác gia văn học, tác giả văn học; Các bài về lí luận văn học; Các bài tiểu dẫn ở phần đọc hiểu văn bản văn học Ngoài ra, riêng khối 12 có thêm phần văn bản nhật dụng Nhìn chung, các văn bản thông tin được lựa chọn đều đề cập đến vấn đề quan trọng, cần thiết trong quá trình nhận thức, tìm hiểu các thời kì, giai đoạn lịch sử văn học cũng như tìm hiểu tác phẩm; nội dung, sự phức tạp của vấn đề phù hợp với đặc điểm tâm lí, nhận thức của HS ở từng lớp học Qua đó, chúng tôi tiếp tục khảo sát về thực trạng dạy và học văn bản thông tin trong nhà trường THPT tạo cơ sở tiền đề cho những nghiên cứu và đề xuất dạy học văn bản này cho HS
- Mục đích khảo sát: đánh giá thực trạng dạy học và thực tế rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản thông tin cho HS lớp 10 trường THPT
- Đối tượng và phạm vi khảo sát: để thực hiện khảo sát, thu thập thông tin, từ đó đi đến phân tích và có những kết luận khoa học, chúng tôi đã liên hệ và tiến hành nghiên cứu trên một số trường như: THPT Phúc Lợi, THPT Cao Bá Quát Gia Lâm, THPT Dương Xá, TCN Cơ Khí xây dựng Gia Lâm Đây đều là những ngôi trường nằm trên địa bàn thủ đô Hà Nội, những trường THPT này gồm cả HS chuyênvà HS đại trà nên thực tế nhận thức của HS và cách thức giảng dạy của GV ở mỗi trường là khác nhau Vì vậy, việc khảo sát trên những trường THPT trên có thể đảm bảo được tính khách quan và khoa học Do đó, những kết quả nghiên cứu được
sẽ là cơ sở mà chúng tôi có những định hướng nghiên cứu, đề xuất biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho HS lớp 10 trường THPT Cụ thể chúng tôi khảo sát trên 163 HS và 20 GV thuộc 4 trường như đã kể trên
- Nội dung khảo sát: Thực tế giảng dạy văn bản thông tin; Hứng thú học tập của HS; Cách thức và phương pháp dạy học với những văn bản thông tin trong chương trình; Phiếu hỏi; Khảo sát giáo án; Phỏng vấn
- Phương pháp khảo sát: dùng phiếu hỏi, quan sát
- Kết quả khảo sát:
Về phía GV:
Trước hết chúng tôi khảo sát đánh giá của GV về vai trò của VB thông tin trong chương trình Ngữ văn THPT, đặc biệt là khi khái niệm VBTT đã được cập