1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm PHÂN bố và BIẾN đổi của GIÓ và NHIỆT độ bề mặt nước BIỂN TRÊN KHU vực nước TRỒI VÙNG BIỂN NAM TRUNG bộ TRONG năm EL NINO

42 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Phân Bố Và Biến Đổi Của Gió Và Nhiệt Độ Bề Mặt Nước Biển Trên Khu Vực Nước Trồi Vùng Biển Nam Trung Bộ Trong Năm El Nino
Trường học Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Biển
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 652,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những dữ liệu mới này, lần đầu tiên đã có hiểu biết rõ ràng về một số yếu tố cơ bản của vùng nước trồi ven bờ Nam Trung Bộ và đã xác định được những nguyên nhân cơ bản của sự hình th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

BỘ MÔN QUẢN LÝ BIỂN

ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ BIẾN ĐỔI CỦA GIÓ VÀ NHIỆT

ĐỘ BỀ MẶT NƯỚC BIỂN TRÊN KHU VỰC NƯỚC TRỒI VÙNG BIỂN NAM TRUNG BỘ TRONG NĂM EL NINO

Chuyên ngành: QUẢN LÝ BIỂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN :

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3260 km, 12 đầm phá Trong hệ đầm phá thì dải rừng ngập mặn có vai trò qua trọng về kinh tế cũng như xã hội đặc biệt là trong bối cảnh sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng vai trò của rừng ngập mặn trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Theo nguyên cứu, Việt Nam là một trong những quốc gia bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu ước tính đến năm 2100 Việt Nam có thể bị mất 12,2% diện tích đất do biến đồi khí hậu, thiệt hại về kinh tế có thể lên tới 17 tỉ USD ( theo công bố báo cáo về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp và an ninh lương thực do Tổ chức Hành động viện trợ (ActionAid) 9/12/2008, tại Hà Nội)

Hiện tượng nước trồi ở biển nước ta đã được phát hiện và chú ý nghiên cứu từ lâu Những dấu hiệu về nước trồi ở vùng biển ven bờ miền Trung đã được các nhà khoa học Pháp (Chevey, 1933, 1934; Krempt và Chevey, 1936)

ở Viện Hải dương học Đông Dương phát hiện từ đầu những năm 30 của thế kỷ trước Ý tưởng này còn được củng cố qua phân tích số liệu đo đạc thu được trong Chương trình NAGA (1959-1961) ở vùng biển phía Nam Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu tương đối toàn diện về nước trồi, với nội dung nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh, chỉ được thực sự tiến hành có kết quả trong các Chương trình nghiên cứu biển cấp Nhà nước, cụ thể là các Chương trình: 48B (1981-1990), và nhất là Chương trình KT.03 (1991-1995) với đề tài KT.03, 05

do Viện Hải dương học tổ chức thực hiện Với những dữ liệu mới này, lần đầu tiên đã có hiểu biết rõ ràng về một số yếu tố cơ bản của vùng nước trồi ven bờ Nam Trung Bộ và đã xác định được những nguyên nhân cơ bản của sự hình thành nước trồi ở vùng biển này là tác động của gió mùa Tây Nam, chế độ dòng chảy, địa hình bờ và đáy biển, sự phân tầng nước biển Qua phân tích các số

Trang 3

vùng biển này, như phạm vi không gian có ảnh hưởng của nước trồi trải dài từ Ninh Thuận tới Bình Thuận, thời gian tồn tại từ tháng 5 đến tháng 9, mạnh nhất vào tháng 7-8, tốc độ trồi đạt giá trị lớn nhất ở các tầng 100-125m, đây cũng có thể coi là tầng xuất phát của nước trồi Đồng thời, cũng bước đầu đánh giá được tác động tích cực của nước trồi đối với nguồn lợi hải sản cũng như môi trường sống ở khu vực chịu ảnh hưởng nước trồi, như tạo nên những điều kiện môi trường sống thuận lợi, cơ sở thức ăn của hải sản phong phú hơn, một số đối tượng hải sản có sản lượng tăng cao hơn và chất lượng tốt hơn

Việc nghiên cứu sự biến đổi của gió và nhiệt độ trên vùng biển Việt Nam nói chung và vùng biển Nam Trung Bộ nói riêng có ý nghĩa vai trò vô cùng to lớn đặc biệt trong những năm có hiện tượng El nino, điều này giúp cho việc dự báo thêm các cơ sở khoa học từ đó đưa ra được các giải pháp làm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của El nino tới các vùng biển Việt Nam Xuất phát từ vai

trò và ý nghĩa đó em đã chọn đề tài: “Đặc điểm phân bổ và biến đổi của gió

và nhiệt độ bề mặt nước biển trên khu vực nước trồi vùng biển Nam Trung

Bộ trong năm El nino” làm đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đưa ra được biểu đồ biến đổi của gió và nhiệt độ bề mặt nước biển trên khu vực biển Nam Trung Bộ trong các năm El nino từ đó đưa ra một số gợi ý

để dự báo về những tác động tiêu cực của hiện tượng này tới vùng biển Nam Trung Bộ

1.3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến đổi của gió và nhiệt độ bề mặt nước biển

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 5

PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 khái niệm vùng nước trồi

2.1.2 Vai trò và đặc điểm của rừng ngập mặn

Đối với tự nhiên

Rừng ngập mặn là rừng nhiệt đới ven biển, có vai trò bảo vệ bờ biển chống lại xói mòn do gió bão, mưa lũ, sóng và thủy triều Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn có tính đa dạng sinh học rất cao Lượng mùn bã phong phú là nguồn thức ăn dồi dào cho nhiều loài động vật ở nước sống trong RNM [Phan Nguyên Hồng, 1999]

Rừng ngập mặn góp phần gia tăng sản lượng của nhiều quần thể thủy sinh vật sống gần dãy san hô ngầm [Mumby et al., 2004] Ngoài ra rừng ngập mặn còn

có những vai trò quan trọng khác như :

Rừng ngập mặn là “lá phổi xanh” rất quan trọng trong việc làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nó giúp tiêu thụ một lượng đáng kể các khí thải độc hại và làm tăng lượng ôxy cho chúng ta, giúp giảm thiểu hiện tượng nóng lên của trái đất và ngăn ngừa tình trạng nước biển dâng gây ảnh hưởng đến đời sống của những người dân ven biển[Phan Nguyên Hồng và cs, 2008]

Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, cung cấp chất hữu cơ để tăng năng suất nuôi trồng, phát triển kinh tế vùng ven biển[Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012]

Rừng ngập mặn giúp ổn định bờ biển và thúc đẩy quá trình bồi đắp phù sa, phân tán bớt năng lượng của sóng, gió và thuỷ triều Giúp bảo vệ động vật khi nước

Trang 6

mặt bùn khi điều kiện thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây

để tránh sóng như cá Lác, các loại Còng, Cáy, Ốc Giúp cho tính đa dạng trong

hệ sinh thái rừng ngập mặn tương đối ổn định) [Phan Nguyên Hồng và cs, 2007]

Nhờ bộ rễ chằng chịt đã giúp lắng đọng trầm tích, giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ làm tăng chất dinh dưỡng cho đất

Vậy rừng ngập mặn có vai trò hết sức to lớn đối với tự nhiên Do đó, bảo vệ rừng ngập mặn là nhiệm vụ quan trọng trong mỗi con người chúng ta

Đối với con người

Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu người dân nghèo ven biển Việt Nam Rừng ngập mặn cung cấp cho con người rất nhiều sản phẩm và dịch vụ môi trường Gỗ, thân, cành cây rừng ngập mặn được sử dụng làm vật liệu làm nhà, củi đun và quan trọng đây chính là nơi sinh sản, nuôi dưỡng các loài sinh vật đem lại lợi ích kinh tế cao, cung cấp nguồn hải sản phong phú để sử dụng trong nước và xuất khẩu [Lee, 1995; Rasolofo, 1997; Slim et al., 1997; Athithan & Ramadhas, 2000]

Theo ước tính mỗi hecta rừng ngập mặn có thể cung cấp 91 kg thủy sản/năm (Snedaker, 1975) Riêng đối với các loài tôm, cá, cua… sống trong rừng ngập mặn, hàng năm thu hoạch khoảng 750.000 tấn Trong năm 1978, Indonesia đánh bắt được 550.000 tấn cá trực tiếp có quan hệ với rừng ngập mặn cửa sông (Salm, 1981)

Ngoài ra có thể thu nhập từ các nguồn khác như: nuôi ong lấy mật, bán cây giống, khai thác gỗ cốp pha và số lượng lớn than củi…

Mặt khác, rừng ngập mặn là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái hết sức quý giá Tại Việt Nam, những năm gần đây khách du lịch ngày càng có xu hướng tìm

Trang 7

thành đối tượng tiềm năng đối với hoạt động khai thác phát triển du lịch nói riêng, kinh tế

- xã hội nói chung

Bên cạnh những lợi ích trên, rừng ngập mặn còn có tác dụng giải quyết công

ăn việc làm, tận dụng được lao động phụ từ người già đến trẻ em vào việc mò cua, bắt ốc, tôm, cá… trong rừng ngập mặn, thông qua đó cũng góp phần đáng

kể trong việc nâng cao mức sống cho người dân trong vùng

Theo báo cáo của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) thuộc Liên hợp quốc, về sự nóng lên toàn cầu cho biết nhờ vai trò quan trọng của rừng ngập mặn như hấp thụ các bon, điều hòa khí hậu, lọc sinh học, xử lý chất dinh dưỡng

từ đất liền và giữ vai trò vùng đệm chống lại các dòng chảy ô nhiễm bằng cách lưu giữ chúng, vì thế cho đến nay các hiện tuợng biến đổi khí hậu như hiệu ứng nhà kính, băng tan đã được giảm nhẹ[Bộ NN&PTNT, 2011]

Theo nhóm khảo sát của Phan Nguyên Hồng (Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn, Đại học Sư Phạm Hà Nội) cho thấy độ cao sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải rừng ngập mặn với mực biến đổi từ 75% đến 85% từ 1,3m xuống 0,2m - 0,3m Tương tự, đợt sóng thần khủng khiếp ngày 26-12-2004 hơn

2 triệu người ở 13 quốc gia Châu Á và Châu Phi bị thiệt mạng, môi trường bị tàn phá nặng nề, nhưng kết quả khảo sát của IUCN ( Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới) và UNEP (Chương trình Môi trường thế giới) cùng các nhà khoa học cho thấy, những làng xóm ở phía sau “bức tường xanh” rừng ngập mặn với băng rừng rộng gần như còn nguyên vẹn vì năng lượng sóng đã được giảm từ 50% đến 90%, nên thiệt hại về người rất thấp hoặc không bị tổn thất… Cụ thể như rừng ngập mặn ở Ấn Độ, cách làng xóm khoảng 1km đã giảm thiệt hại 50%-80% so với nơi không có rừng Các nghiên cứu tương tự về tác dụng chắn sóng của RNM ở xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình của Y Mazda

và cộng sự (2006) và ở xã Bàng La, Đồ Sơn, Hải Phòng của Vũ Đoàn Thái

Trang 8

(2006) cũng đều thấy rằng: Độ cao và năng lượng sóng giảm mạnh khi đi qua dải RNM [Phan Nguyên Hồng và nnk, 2007] Ngư dân còn lợi dụng các vùng

có cây ngập mặn để neo thuyền trong suốt mùa mưa [Miththapala S, 2008] Theo số liệu của chi cục bảo vệ đê điều và phòng chống lụt bão thành phố Hải Phòng, trước đây chi phí tu bổ đê điều trung bình hằng năm là 5 triệu đồng/mét dài nhưng kể từ khi có rừng ngập mặn bảo vệ phía ngoài đê chi phí này đã giảm xuống còn 1,2 triệu đồng/mét dài [Chi cục bảo vệ đê điều và phòng chống bão lụt TP Hải Phòng, 2010]

Tóm lại, qua những nguyên cứu trên ta thấy được vai trò quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn Vì vậy bảo vệ được hệ sinh thái này là bảo vệ được độ ổn định, cân bằng của cả hệ thống kinh tế và hệ thống môi trường trong quá trình phát triển khu vực

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU RỪNG NGẬP MẶN

2.2.1 Các nghiên cứu về rừng ngập mặn trên thế giới

Theo đánh giá của Hiệp hội nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn quốc tế (ISME) thì nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng ngập mặn mới chỉ được thực hiện ở một số nước; đây cũng là một trong những nguyên nhân gây cản trở công tác bảo vệ và khôi phục các hệ sinh thải rừng ngập mặn trên thế giới Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập mặn ở vùng Châu Á Thái Bình Dương cho rằng:

Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việc khai thác tài nguyên rừng và đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêu cực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất rừng ngập mặn, cần phải có biện pháp hữu hiệu

để khắc phục tình trạng này bằng các giải pháp như: Xây dựng các hệ thống

Trang 9

cứu các biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ kết hợp xây dựng các mô hình lâm ngư kết hợp mà ít có những nghiên cứu về quản lý RNM dựa vào cộng đồng Bên cạnh đó một số Quốc gia cũng đã có những nghiên cứu và áp dụng các mô hình quản lý bảo tồn RNM dựa vào cộng đồng, tiêu biểu có các mô hình như:

Mô hình của Philippin [Nguyễn Thiên Hương, 2012]

Trong các nghiên cứu điển hình ở Philip-pin do tác giả J.H Primavera và Agbayani (1996) thuộc ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS), trung tâm Phát triển thủy sản Đông Nam Á (SEAFDEC), Iloilo, Philippin đều đề cập đến những yếu

tố tác động đến thành công hay thất bại của chương trình quản lý RNM Những nghiên cứu này đều dùng kỹ thuật “Đánh giá nhanh nông thôn” để thu thập số liệu bao gồm phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát trực tiếp, khảo sát khu vực, lập bản đồ và biểu đồ có sự hỗ trợ của số liệu thứ cấp

Dự án trồng lại RNM Buswang được khởi động qua một hợp đồng “Được tài trợ bởi DENR năm 1990 dành cho chính quyền huyện Kalibo Aklan thông qua hội bảo tồn RNM Kalibo 28 gia đình là những người được hưởng lợi của

dự án Dự án được thực hiện tại một vùng 50 ha ven biển gần với cửa sông Barangay thuộc Kalibo Tổ chức phát triển Uswag (tổ chức phi chính phủ) đã tham gia hoạt động phát triển cộng đồng làm việc trực tiếp với cộng đồng tại đây, đóng vai trò cầu nối giữa những người dân địa phương với các cơ quan chính phủ Kết quả là dự án đã trồng thành công 45 ha đước và 5 ha dừa nước Mỗi gia đình tham gia dự án được nhận 1-2 ha trồng, chăm sóc và bảo vệ cây trong 3 năm Dự án cũng đã tạo cho nhân dân một vùng đệm

2.2.2 Các nghiên cứu về rừng ngập mặn ở Việt Nam

Trung tâm nghiên cứu RNM Cà Mau thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Phía Nam cũng đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu về giao đất giao rừng, xây dựng

mô hình sản xuất kết hợp rừng - tôm Các phương án và dự án được triển khai

Trang 10

và đã có một số thành công nhất định trong thực hiện phục hồi rừng và quản lý tài nguyên rừng Tuy nhiên theo đánh giá của nhiều tác giả thì nhiều chương trình dự án quản lý rừng ngập mặn chưa thành công Nguyên nhân được đưa ra

đó là việc quy hoạch sử dụng đất mang tính chủ quan, nguồn vốn ít, cùng với chủ trương chính sách của địa phương chưa đồng bộ… đã dẫn đến thất bại của công tác quy hoạch rừng ngập mặn ở nhiều địa phương

Đặng Trung Tấn (1998) trong báo cáo về “Mô hình Lâm - Ngư kết hợp tại rừng

Cà Mau” đã đưa ra kết luận: Mô hình sản xuất Lâm - Ngư kết hợp là mô hình thích hợp để quản lý bền vững hệ sinh thái RNM

Nguyễn Hoàng Trí (1999) nghiên cứu cấu trúc chức năng hệ thống tự nhiên và vai trò của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn lợi RNM trong khu bảo tồn đất ngập nước Xuân Thủy và những vấn đề kinh tế xã hội hỗ trợ việc xây dựng các phương án bảo vệ và quản lý RNM sau khi rừng được phục hồi lại

Tháng 01/1996, Hội thảo Quốc tế (UNESCO, MaB, Trung tâm nghiên cứu hệ sinh thái RNM Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh bàn về vấn đề “Cộng đồng nông thôn tham gia vào bảo tồn, sử dụng bền vững

và phục hồi RNM ở Đông Nam Châu Á”

Tại tỉnh Sóc Trăng, các hợp đồng bảo vệ rừng được tiến hành giữa năm 2000

và 2007 với các hộ gia đình riêng lẻ và với các hội xã hội địa phương (xã An Thạnh Nam); tiền chi trả hằng năm là 50.000 đồng/ha Báo cáo đánh giá của Joffre và Lưu (2007), Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam bộ (2009) kết luận là các hợp đồng bảo vệ rừng dựa trên các hộ gia đình riêng lẻ không có tác động mong muốn cho đai rừng ngập mặn hẹp tỉnh Sóc Trăng Hình thức quản

lý rừng ngập mặn này không chỉ không thành công mà còn không bền vững về mặt tài chính Đồng thời tác giả giới thiệu đồng quản lý như một hình thức mới

Trang 11

cho quản lý rừng ngập mặn Đồng quản lý dựa trên hợp đồng tiến hành với các nhóm người hơn là các hộ gia đình riêng lẻ

Trong những năm gần đây, nhiều nơi đã áp dụng các phương thức quản lý rừng cộng đồng và đồng quản lý rừng vào quản lý rừng ngập mặn Kết quả cho thấy theo phương thức đồng quản lý, chẳng những rừng ngập mặn được quản lý bảo

vệ tốt hơn mà đời sống người dân vùng rừng cũng được nâng lên nhờ khai thác bền vững các nguồn lợi từ rừng Một số mô hình đã áp dụng thành công mà mang lại hiệu quả cao như:

Dự án nuôi ong trong RNM [Nguyễn Thiên Hương, 2012]

RNM trổ hoa đại trà một năm một lần (đối với cây trang Kandelia obovata) kéo dài từ tháng 5 đến hết tháng 8 dương lịch Đây là một nguồn mật rất lớn nếu có được các đàn ong làm mật và được đem vào khai thác Mỗi tổ ong 5 cầu mật

có thể làm được 19 kg mật trong một vụ Riêng RNM của vườn quốc gia Xuân Thủy đã có lúc làm được 50 tấn mật/vụ Nếu nuôi được ong thì việc bảo tồn hay sử dụng bền vững RNM sẽ không còn gặp nhiều khó khăn vì chính rừng

đã góp phần làm nên thu nhập ngắn hạn cho người dân nơi đây Tuy nhiên thu nhập do đàn ong mang lại không thể so với nuôi tôm trong RNM, vì lợi ích trước mắt mà một bộ phận người dân sẵn sàng “hy sinh” RNM để nhằm đạt được “siêu lợi nhuận” và đồng “đô la nóng”, do đó đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế , xã hội và môi trường Vì việc làm này mà tác động đến người nghèo cũng không phải nhỏ, vì vậy công cuộc xóa đói giảm nghèo khó thực hiện được

Để góp phần giảm thiểu mâu thuẫn trên, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội đã phối hợp với UBND huyện Tiền Hải

và Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Tiền Hải tổ chức thực hiện dự án nhỏ “Nuôi ong trong RNM dựa vào cộng đồng” Tổ chức địa phương chịu trách nhiệm quản lý và duy trì kết quả của dự án là hội Cựu chiến binh

Trang 12

(CCB) huyện Tiền Hải Sở dĩ hội CCB được chọn làm nhiệm vụ trên là do họ

từ mặt trận trở về không có công ăn việc làm đồng thời vẫn mang trong người hình ảnh “Anh bộ đội cụ Hồ” nên dễ huy động nhân công và duy trì kỷ luật, tổ chức của dự án đồng thời họ cũng rất tích cực trong việc bảo vệ RNM và tiếng nói cũng có sức nặng trong cộng đồng Cũng vì một lý do đơn giản là mất RNM

sẽ không còn nguồn hoa cho ong làm mật, muốn có nhiều mật thì phải trồng thêm RNM

Trang 13

PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM RỪNG NGẬP MẶN LƯU VỰC SÔNG RÀO CÁI

TỈNH HÀ TĨNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh

3.1.1.1 Vị trí địa lý vùng ven biển

Vùng ven biển nằm ở phía Đông, phía Bắc giáp TX Cửa lò tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình, phía Ðông giáp Biển Ðông với

bờ biển có chiều dài hơn 137 km Bao gồm 4 cửa sông chính từ Bắc vào Nam là: cửa Hội (Nghi Xuân), Cửa Sót (Thạch Hà, Lộc Hà), Cửa Nhượng (Cẩm Xuyên), cửa Khẩu (Kỳ Anh) Tính trung bình cứ 34km có một con sông chảy qua Địa hình vùng ven biển Hà Tĩnh được đặc trưng là những dải cát chạy dọc theo bờ biển, nhìn chung đây là những cồn cát thấp, có khi bằng phẳng (độ chênh cao 0.5 - 1 vài mét) nhưng bị chia cắt bởi những sông lạch và các dãy núi có tuổi trước Mezozoi đến sát Triat bậc Anizi đâm ngang ra phía biển Vùng ven biển hay còn gọi là đới bờ biển, bao gồm vùng đồng bằng ven biển (Coastal plain) là một hệ thống tự nhiên phức tạp đặc trưng bởi quá trình hình thành, phát triển, tiến hoá theo các niên đại địa chất trước và sau Đệ tứ (Q) thuộc giới Kainozoi (Tân sinh)

Thuộc địa bàn 5 huyện (Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh)

và thị xã Kỳ Anh; gồm 33 xã, phường; với tổng diện tích tự nhiên toàn vùng 45.518,3 ha (chiếm 7,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh) Hiện trạng sử dụng như sau:

- Ðất sản xuất nông nghiệp 14.022 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 10.048,7

ha (chiếm 71,7% đất sản xuất nông nghiệp và 22,1 % đất tự nhiên), trong đất

Trang 14

trồng cây hàng năm có 7.313,7 ha đất trồng Lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi 36,9 ha; đất trồng cây lâu năm 3.973,3 ha, chủ yếu là vườn tạp

- Ðất dùng vào lâm nghiệp 14.375,4 ha, trong đó đất lâm nghiệp quy hoạch cho phòng hộ là 8.341,4ha, sản xuất 6.033,9 ha

- Đất nuôi trồng thủy sản 1.146,1 ha, chiếm 2,5%

- Ðất chưa sử dụng có 3.980 ha, chiếm 8,8% diện tích tự nhiên của vùng, đây là tiềm năng, điều kiện để hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn; thuận lợi cho việc giải phóng mặt bằng, san nền, sản xuất và thu hoạch

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh

Trang 15

1.5 Đất nông nghiệp khác 14,5 0,0

3.1.1.1 Địa hình vùng ven biển

Địa hình ven biển tỉnh Hà Tĩnh được chia ra làm 2 phần rõ rệt Phần ven biển các huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh thấp, bằng phẳng và bị chia cắt bởi những sông suối và lạch nhỏ Một phần thấp thường bị ngập mặn khi có bão kết hợp với triều cường Phần ven biển thuộc các huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Kỳ Anh có địa hình cao hơn gồm những dải cát tương ứng với bậc thềm biển cổ hơn (Độ cao có nơi đạt 4 - 5m như Kỳ Xuân (Kỳ Anh), Bắc Hoà (Cẩm Xuyên) chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Phần lớn vùng bờ biển Hà Tĩnh chưa có đê chắn sóng ở một số nơi có đê chắn sóng thì phía ngoài đê đã quy hoạch được 1974 mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

và 1.000ha đất làm muối Hệ thống rừng ngập mặn trước đây bị tàn phá nặng

nề Gần đây, nhờ sự hỗ trợ của Oxpham Anh, một số rừng ngập mặn được trồng thêm và bảo vệ tốt như ở Thạch Hà, Kỳ Anh

Đặc trưng với dạng địa hình bằng phẳng; với một số cồn cát thấp sát biển, xen lẫn một số đồi núi đá thấp nằm dọc ven biển; địa hình bị chia cắt khá mạnh bởi các sông lạch, các cửa sông lớn có hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, chủ yếu là sinh vật nước mặn lợ Một số vùng thấp, trũng sẽ chịu ảnh hưởng của triều cường, nước biển dâng, ngập mặn và chịu tác động lớn của biến đỏi khí hậu cũng như các hiện tượng thời tiết bão, hạn hán sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cây trồng, vật nuôi

a) Đặc điểm địa hình đáy

Trang 16

Đáy vùng bờ biển tỉnh Hà Tĩnh có độ dốc tăng nhanh so với các tỉnh phía Bắc Đặc biệt càng đi dần về phía Nam từ độ sâu 40 - 80 m, độ dốc của nền đáy giảm dần; các đường đẳng sâu có xu thế song song, thưa đều đặn Nhìn chung từ bờ đến độ sâu 40m là khu vực nền đáy an toàn và tương đối bằng phẳng, không gặp đá ngầm và bãi cát ngầm, nhất là vùng Bắc Hồng Lĩnh từ Cương Gián ra đến Cửa Hội

Từ độ sâu 40m xa khơi bắt đầu xuất hiện đá ngầm và các vật chướng ngại khác Biển Hà Tĩnh sâu và bằng phẳng (ví dụ cảng Vũng áng) và có độ sâu tăng dần

từ bờ ra khơi Bờ biển Hà Tĩnh có nhiều sông suối nhỏ, lạch đổ ra biển và thông thương với Vịnh, bởi vậy nó cũng có ảnh hưởng nguồn nước từ đại dương xâm nhập vào hàng năm, đặc biệt là thuỷ triều

Biển và vùng ven biển Hà Tĩnh bị ảnh hưởng bởi 2 luồng gió chính là Đông Bắc và Tây Nam cho nên bồi lở, lắng đọng bờ biển thường theo quy luật lở Nam bồi Bắc chủ yếu là các cửa sông như Cửa Hội, Cửa Khẩu, Cửa Nhượng, Cửa Sót nhưng sự biển tiến, biển thoái của tỉnh Hà Tĩnh ít hơn rất nhiều so với các tỉnh Nghệ An và Quảng Bình (Khu vực Bàu Tró và Lạch Quán, Lạch Thơi, Bắc Cửa Hội (Nghệ An) Tuy nhiên, do kinh phí có hạn nên việc nghiên cứu đới bờ biển tiến, biển thoái ở tỉnh ta là điều rất quan trọng cần thiết cho việc đánh giá những tác động của biển đối với vùng đất liền còn rất nhiều hạn chế cần phải được đẩy mạnh tiếp tục

b) Địa hình dải đất ven biển

Về địa hình địa mạo vùng đất nhiễm mặn ven biển của Hà Tĩnh có thể chia ra làm 3 vùng:

- Vùng Cửa Hội, Nghi Xuân đến Thạch Kim - Bắc Cửa Sót

- Vùng từ Thạch Bàn đến Thiên Cầm

Trang 17

Vùng Cửa Hội, Nghi Xuân đến Thạch Kim - Bắc Cửa Sót

Địa hình không phức tạp, chủ yếu là vùng đồng bằng cát thạch anh, cát vụn thô, thực vật ven biển, bờ biển khá rộng và bằng phẳng thuộc hệ tầng trầm tích Nghi Xuân có tuổi trước Kainozoi Chỉ có một quần sơn gồm các đá granite tuổi Pécmi phức hệ Nậm Kiên

Vùng từ Thạch Bàn đến Thiên Cầm

Địa hình tương đối phức tạp Chủ yếu là các trầm tích sét cát, cát thạch anh ven biển chứa quặng Titan giàu với diện tích vài ngàn hecta thuộc tầng Can Lộc có tuổi Kainozoi Vùng này bị chia cắt 2 lần bởi 2 dãy quần sơn: Núi Nam Giới

và quần sơn đá granite thuộc phức hệ Nậm Kiên, các trầm tích lục nguyên màu

đỏ thuộc hệ tầng Triat bậc Anizi hệ tầng Đồng Trầu

Vùng Nam Cẩm Nhượng đến đèo Hải Vân

Đây là vùng đất cát sét, vụn sinh vật, đôi khi có chứa quặng Titan (Kỳ Xuân,

Kỳ Phú) thuộc tầng Can Lộc Vùng này bị chia cắt bởi nhiều quần sơn đá granite nhô ra biển như khối granite Tuấn Tượng, Kỳ Xuân, Kỳ Khang, Kỳ Lợi, Vũng áng tạo nên địa hình rất phức tạp đồng bằng hẹp dạng song song với bờ biển khúc khuỷu lồi lõm ở đây cũng có nhiều con sông nhỏ thông thương với biển nên các vùng đất ở đây bị nhiễm mặn nhiều hơn

Nhìn chung bờ biển Hà Tĩnh tương đối bằng phẳng, các thành tạo trầm tích cát, cát - sét, cát thạch anh màu vàng đến xám, sinh vật có tuổi từ Holoxen đến Pleixtoxen phủ trực tiếp lên nền các đá có tuổi Paleozoi - Mezozoi Các doi cát ngầm phân bố ở độ sâu 4 - 6 m ở các cửa sông Đây là kiểu địa hình đồng bằng tích tụ Các dòng phù sa của các sông: Sông Cả, sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố, sông Nghèn, sông Cày, sông Rào Cái, Khe Ông đã cung cấp cho vùng này lượng trầm tích đáng kể, đã nuôi sống con cháu Lạc Hồng địa phương từ đời này qua đời khác

Trang 18

Số ngày nắng nhiều, trung bình hàng năm vào khoảng 110 - 119 ngày (Tương đương 1.400 - 1.700 giờ nắng trong năm), khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, khai thác biển Đặc điểm khí tượng thuỷ văn Hà Tĩnh được thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2: Một số đặc điểm khí tượng thuỷ văn vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh

Nhiệt độ bình quân năm

Số ngày nắng nhiều, trung bình hàng năm vào khoảng 150 - 170 ngày (Tương đương 1.500 - 1.800 giờ nắng trong năm), khá thuận lợi không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho cả sản xuất muối và khai thác cá biển

Bảng 1.3: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm ở Hà Tĩnh

Trang 20

- Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt ở Hà Tĩnh:

+ Bão và áp thấp nhiệt đới: Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng nặng nề của bão Trong

giai đoạn 1956 - 2011, có hơn 20 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào địa phận Hà Tĩnh Hoạt động của bão hoặc áp thấp nhiệt đới thường tập trung vào khoảng tháng

IX đến tháng

XI Bão ảnh hưởng hoặc đổ bộ trực tiếp vào thường gây ra những đợt mưa lớn,

có thể đạt 100 - 200 mm, có nơi 400 - 500 mm, gây lũ lụt, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt của người dân [14, 15]

+ Gió Tây khô nóng: nằm ở khu vực ven biển miền Trung, gió Tây khô nóng

hay còn được gọi là “gió Lào” thường hoạt động rất mạnh ở Hà Tĩnh trong các tháng từ tháng IV đến tháng IX, cao điểm là tháng VI, VII Vào những ngàycó gió Tây khô nóng, nhiệt độ không khí thường cao trên 35°C và độ ẩm tương đối xuống dưới 55%

Ở khu vực thấp, các thung lũng sông, hoặc đồng bằng thấp venbiển bình quân hàng năm có tới 39 - 58 ngày gió Tây khô nóng Cụ thể, ở dải đồng bằng ven biển kéo dài khoảng 39 ngày, còn ở thung lũng sông Cả lên đến 58 ngày Gió Tây khô nóng làm cây cối khô héo, giảm năng suất, tích luỹ nhiều sắt, nhôm gây thoái hoá đất, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân

Trang 21

+ Dông: thường xuất hiện ở Hà Tĩnh, chủ yếu ở vùng núi Số ngày dông trung

bình khoảng 34 - 46 ngày dông/năm, thời kỳ nhiều dông thường bắt đầu từ tháng IV đến hết tháng IX

+ Sương mù: Số ngày có sương mù ở Hà Tĩnh tương đối lớn, từ 15 - 60

ngày/năm, thường xảy ra chủ yếu trong các tháng mùa đông (tháng X, XI, XII) Đặc biệt, ở Hương Sơn, hàng năm có tới 63 ngày, ở Hương Khê là 61,5 ngày

+ Gió mùa Đông Bắc:Thường xuất hiện bình quân khoảng 30 đợt mỗi năm,

mỗi đợt vài ngày trong khoảng thời gian từ tháng X đến tháng IV

+ Ánh sáng: Ánh sáng ảnh hưởng đến sự quang hợp và các quá trình sinh lý

khác của cây như hô hấp, thoát hơi nước… Cường độ ánh sáng thích hợp cho cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển từ 3.000 - 3.800 kcal/m2/ ngày (Aksornkoae, 1993) Ở miền nam Việt Nam CNM sinh trưởng tốt vì có cường

độ ánh sáng từ 3.000

- 3.800 mm kcal/m2/ngày

Tuy nhiên về mùa khô, ánh sáng mạnh là nhân tố hạn chế sự sinh trưởng của cây ngập mặn vì làm tăng nhiệt độ không khí, đất, nước, nước bốc hơi nhiều khi triều xuống khiến cho đất và cây vốn thiếu nước ngọt lại còn thiếu thêm

+ Mây: Mây có liên quan đến lượng mưa Mây dày sẽ giảm cường độ ánh sáng,

nhiệt độ không khí và đất, giữ độ ẩm cao nên hàm lượng muối trong đất không tăng, cây giảm thoát hơi nước, kéo theo sự hạ thấp lượng muối thừa xâm nhập vào cơ thể

Qua phân tích những đặc điểm khí hậu, thời tiết trên cho thấy, khí hậu Hà Tĩnh vẫn mang nét đặc thù của khí hậu miền Bắc – khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, tuy nhiên có sự phân hóa đa dạng Sự phân hóa khí hậu và biến động thời tiết theo mùa ở Hà Tĩnh tác động đến sự hiện diện và phát triển của thực vật nói chung và thực vật ngập mặn nói riêng

Ngày đăng: 21/09/2022, 08:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất vùng venbiển tỉnh Hà Tĩnh - ĐẶC điểm PHÂN bố và BIẾN đổi của GIÓ và NHIỆT độ bề mặt nước BIỂN TRÊN KHU vực nước TRỒI VÙNG BIỂN NAM TRUNG bộ TRONG năm EL NINO
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất vùng venbiển tỉnh Hà Tĩnh (Trang 14)
3.1.1.1. Địa hình vùng venbiển - ĐẶC điểm PHÂN bố và BIẾN đổi của GIÓ và NHIỆT độ bề mặt nước BIỂN TRÊN KHU vực nước TRỒI VÙNG BIỂN NAM TRUNG bộ TRONG năm EL NINO
3.1.1.1. Địa hình vùng venbiển (Trang 15)
Bảng 1.4: Tổng lượng mưa trung bình tháng và nă mở vùng venbiển tỉnh Hà Tĩnh - ĐẶC điểm PHÂN bố và BIẾN đổi của GIÓ và NHIỆT độ bề mặt nước BIỂN TRÊN KHU vực nước TRỒI VÙNG BIỂN NAM TRUNG bộ TRONG năm EL NINO
Bảng 1.4 Tổng lượng mưa trung bình tháng và nă mở vùng venbiển tỉnh Hà Tĩnh (Trang 19)
Bảng 2.2: Sự chênh lệch giữa thời gian triều cường và triều kiệt - ĐẶC điểm PHÂN bố và BIẾN đổi của GIÓ và NHIỆT độ bề mặt nước BIỂN TRÊN KHU vực nước TRỒI VÙNG BIỂN NAM TRUNG bộ TRONG năm EL NINO
Bảng 2.2 Sự chênh lệch giữa thời gian triều cường và triều kiệt (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w