nguyên và BVMT biển; Ưu tiên giải quyết vấn đề quản lý tổng hợp không gian biển, tạo chuyển biến căn bản trong ngăn chặn, đẩy lùi và kiểm soát ô nhiễm môi trường, góp phần thúc đẩy phát
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một quốc gia có vùng biển rộng (gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền),
bờ biển dài (trên 3260 km, không kể bờ các đảo) bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa), đây là những tiền đề cho phép hoạch định một chiến lược biển, phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển Tuy nhiên vùng bờ biển ở nước ta đang đứng trước những thách thức trong phát triển, nguy cơ gây ô nhiễm
và suy thoái môi trường biển đã và đang không ngừng gia tăng với tính chất ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sinh thái và nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội đặc biệt ở các khu vực cửa sông, ven biển[1]
Nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cách thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng khoảng 90
km, lại có 72km bờ biển nên Nam Định có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội và một nền kinh tế biển, và thực sự kinh tế biển đã chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Tuy nhiên trong quá trình phát triển đó môi trường biển khu vực này đã và đang phải chịu nhiều tác động do ô nhiễm, đặc biệt
ở vùng ven biển huyện Hải Hậu, một trong ba huyện giáp biển của tỉnh bị chia cắt bởi cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) và cửa Hà Lạn (sông Sò); Là một trong 18 khu kinh tế biển quốc gia được Thủ tướng Chính phủ quy hoạch phát triển với nhiều hoạt động cầu cảng, nhà máy nhiệt điện, khu công nghiệp, khu đô thị du lịch biển thành phố Thịnh Long, các hoạt động nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy hải sản,v.v được hứa hẹn là nơi có hoạt động kinh tế sôi động, tăng trưởng nhanh,
đa dạng và phong phú trở thành trung tâm kinh tế quan trọng của khu vực phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, nên nguy cơ ô nhiễm môi trường cửa sông ven biển khu vực này trong thời gian tới là rất cao [2]
Trang 2nguyên và BVMT biển; Ưu tiên giải quyết vấn đề quản lý tổng hợp không gian biển, tạo chuyển biến căn bản trong ngăn chặn, đẩy lùi và kiểm soát ô nhiễm môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước hiện nay[3] là phải đẩy mạnh hơn nữa phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm thông qua việc không để phát sinh cơ sở gây ô nhiễm mới, đồng thời giảm các nguồn thải đang gây ô nhiễm; phải chú trọng công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động đổ thải do hoạt động du lịch, dịch vụ cầu cảng, hàng hải, khai thác, vận chuyển, khai thác khoáng sản, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, thải đổ, nhận chìm bùn nạo vét luồng giao thông thủy, công trình biển…giảm thiểu các tác hại của ô nhiễm, đảm bảo hài hòa giữa với phát triển kinh tế, xã hội với BVMT góp phần phát triển bền vững có rất nhiều biện pháp, giải pháp được quan tâm sử dụng, trong đó truyền thông BVMT biển, một trong những công cụ, giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường ven biển…
Thực tế trong thời gian qua, hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về BVMT nói chung, BVMT ven biển nói riêng tại huyện Hải Hậu đã được các cấp, ngành, địa phương quan tâm và thu được một số thành quả khả quan góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng Hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về BVMT đã đa dạng hơn; nguồn lực đầu tư cho hoạt động nêu trên được tăng cường; Tuy nhiên, do người dân nơi đây chủ yếu làm nông nghiệp, khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản, trình độ dân trí chưa cao, sự hiểu biết pháp luật về BVMT còn hạn chế, các hoạt động truyền thông chủ yếu tập trung vào việc phổ biến pháp luật về an ninh, chủ quyền biển đảo, truyền thông vận động cộng đồng tham gia BVMT biển mới được lồng ghép trong các buổi họp thôn, xóm những cũng chưa được thường xuyên, liên tục và chưa có chiều sâu nên sự hiểu biết về quản lý tổng hợp không gian biển, việc ngăn ngừa và kiểm soát quản lý tổng hợp không gian biển của cộng đồng người dân khu vực này chưa cao Để cộng đồng
Trang 3hiểu rõ và quan tâm hơn đến biển, đặc biệt một chương trình, kế hoạch truyền thông cụ thể để truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách, pháp luật liên quan đến khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, BVMT biển rất cần quan tâm, chú ý đẩy mạnh
Từ những thực trạng trên, đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trình truyền
thông nâng cao nhận thức cộng đồng về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường ven biển huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2017 - 2020 ” đã được
lựa chọn nghiên cứu và hoàn thành
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng các hoạt động truyền thông về BVMT biển, NN& KSONMTB tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
- Xây dựng được chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng
về NN& KSONMTB huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2017 – 2020;
3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thực trạng các nguồn gây quản lý tổng hợp không gian biển tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển, NN& KSONMTB
- Đề xuất chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về NN& KSONMTB huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giai đoạn 2017 – 2020;
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Các xã ven biển: Hải Phú, Hải Lý, Hải Đông, Hải Hòa, Hải Triều, Thịnh Long được giới hạn trong phạm vi ranh giới hành chính huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trang 4- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu số liệu và phân tích số liệu từ năm 2011 –
2015
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực địa, điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi: Thông qua các bảng hỏi, phiếu khảo sát, các cuộc trao đổi, phỏng vấn với nhiều đối tượng khác nhau để thu thập thông tin từ các ngư dân, cư dân ven biển, cán bộ công chức
hộ gia đình đã được lựa chọn
- Phương pháp kế thừa: Phương pháp này được sử dụng nhằm kế thừa các thông tin, tài liệu, chương trình, báo cáo liên quan khác đã có về khu nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, dự báo ngoại suy được sử dụng để phân tích, tổng hợp đưa ra những dự báo ô nhiễm có thể phát sinh để có giải pháp xử lý cho phù hợp
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ TRUYỀN THÔNG VỀ NGĂN NGỪA VÀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VEN BIỂN
1.1 Một số khái niệm về thông tin, truyền thông
1.1.1 Thông tin, tuyên truyền
- Thông tin là phổ biến những tin tức, thông đến các cá nhân, nhóm, tổ chức Phương tiện phổ biến có thể là sách báo, loa, radio, TV…
Trong thông tin người ta ít hoặc không quan tâm đến mức độ tiếp thu và phản ứng của người nhận
- Tuyên truyền là việc truyền thông tin một chiều đến người nhận nhằm tác động đến quan diểm của họ và kêu gọi họ chấp nhận thực hiện một hành vi nào
đó Các hình thức tuyên truyền là: báo chí, đài phát thanh, tivi, phân phát tranh cổ động, giảng bài[4]
1.1.2 Truyền thông, các hình thức truyền thông
- Có nhiều định nghĩa về truyền thông: Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền
thông đại chúng” đưa ra định nghĩa: Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn
nhau[5] Các tác giả cuốn “Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản” đưa ra một
định nghĩa chung nhất như sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm , chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã
Trang 6hội [6] Trong cuốn “Sổ tay truyền thông” do Trung tâm Đào tạo và Truyền thông môi trường, Tổng cục Môi trường cho rằng: Truyền thông là việc truyền thông tin hai chiều trong đó bên truyền tin cố gắng cung cấp thông tin và kêu gọi thay đổi hành vi, còn bên nhận tin sẽ cung cấp một số phản hồi như là kết quả của việc nhận tin Các phản hồi này có thể được thực hiện thông qua hội thoại hoặc hoạt động[4] Theo TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội: Truyền thông là một công cụ thiết yếu để đạt được các mục tiêu của chính sách hay một dự án và đòi hỏi một cách tiếp cận có hệ thống được lên
kế hoạch từ trước, liên quan đến các bên liên quan và đặc biệt là những người chịu ảnh hưởng của chính sách hay dự án[8]
- Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông: (i) Nguồn: Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông; (ii) Thông điệp: Là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận thông tin; (iii) Kênh truyền thông (còn gọi là hình thức/biện pháp): Là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận; (iv) Người nhận: Là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông; (v) Phản hồi: Là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp
từ người nhận trở về nguồn phát; (vi) Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin trong quá trình truyền thông[4]
- Về mặt hình thức truyền thông: (i) Truyền thông trực tiếp: Được thực hiện giữa người với người, mặt đối mặt; (ii) Truyền thông gián tiếp: Được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông như sách báo, loa, radio, TV
- Có 3 kênh truyền thông chính[4]: (i) Truyền thông cho cá nhân: Phỏng vấn, đối thoại, điện thoại, gửi thư, v.v…; (ii) Truyền thông cho nhóm: Họp, thảo luận, hội thảo, tập huấn, cổ động có thảo luận, v.v…; (iii) Truyền thông đại chúng:
Phương tiện điện tử (truyền hình và radio), báo chí, trang web, sách, điện ảnh, phát
thanh, quảng cáo, băng đĩa, v.v…
Trang 7- Chiến lược truyền thông: Là sự kết hợp nhiều yếu tố truyền thông sao cho tiếp cận với các đối tượng một cách hiệu quả nhất nhằm đạt được các mục tiêu truyền thông đã đề ra Chiến lược truyền thông bao gồm các yếu tố: thông điệp, cách tiếp cận và kênh truyền thông[4]
Hình 1 Các bước để đạt mục tiêu truyền thôngTóm lại: Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ, kinh nghiệm giữa hai hay một nhóm người với nhau để tạo ra một
sự đồng thuận cao hơn, một sức mạnh lớn hơn Truyền thông đóng một vai trò quan trọng trong lập chương trình hay xác định dự án, ban hành, thực thi, kiểm soát, đánh giá chính sách hoặc dự án và duy trì sự điều khiển Ở mỗi phần khác nhau của một dự án, một chiến lược hay chính sách, truyền thông có những vai trò khác nhau Điều quan trọng là cần xác định dự án, chiến lược, chính sách đang ở giai đoạn nào để có những hoạt động truyền thông thích hợp
1.2 Khái quát về truyền thông môi trường
1.2.1 Khái quát về truyền thông môi trường
Trang 8- Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác hai chiều giúp cho các đối tượng tham gia được cùng chia sẻ với nhau các thông tin về môi trường nhằm đạt được những hiểu biết chung nhất về các chủ đề môi trường có liên quan, từ đó nâng cao năng lực và ý thức trách nhiệm trong bảo vệ môi trường của mỗi cá nhân cũng như tập thể Truyền thông môi trường góp phần cùng với giáo dục môi trường nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của người dân về vấn đề môi trường, xác định tiêu chí và hướng dẫn cách lựa chọn hành vi môi trường có tính bền vững[4]
- Giáo dục môi trường là quá trình phát triển một cộng đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến môi trường cũng như các vấn đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ và sẵn sàng làm việc độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện tại và phòng chống các vấn đề có thể nảy sinh trong tương lai[7]
1.2.2 Mục tiêu của truyền thông môi trường:
- Nâng cao nhận thức của công dân về bảo vệ môi trường và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường, từ đó thay đổi thái độ, hành vi về môi trường, tạo lập cách ứng cử thân thiện với môi trường, tự nguyện tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường;
- Phát hiện các tấm gương, mô hình tốt, đấu tranh với các hành vi, hiện tượng tiêu cực xâm hại đến môi trường;
- Xây dựng nguồn nhân lực và mạng lưới truyền thông môi trường, góp phần thực hiện thành công xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường
1.2.3 Các hình thức ruyền thông môi trường
- Giao tiếp giữa các cá nhân và nhóm nhỏ: Giao tiếp, trao đổi thông tin giữa các cá nhân và nhóm nhỏ cho phép các cuộc đối thoại sâu, cởi mở và có phản hồi Phương pháp này tỏ ra thích hợp với việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp với địa
Trang 9phương, giải thích các vấn đề phức tạp, thuyết phục hoặc gây ảnh hưởng tới nhóm đối tượng, và đặc biệt hữu hiệu trong trường hợp đánh giá hiệu quả của một chiến dịch truyền thông môi trường
- Họp cộng đồng – hội thảo: Các cuộc họp cộng đồng (tổ dân phố, nhóm, phường, trường học, cơ quan ) thuận lợi cho việc bàn bạc và ra quyết định về một
số vấn đề của cộng đồng Hội thảo thường giải quyết một vấn đề sâu hơn một cuộc họp thông thường
- Truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, báo chí, phát thanh, internet, facebook, phim ảnh ) có khả năng tiếp cận một phạm vi đối tượng rất rộng và có uy tín cao trong việc phổ biến, tuyên truyền các nội dung của chiến dịch truyền thông môi trường
- Chiến dịch truyền thông môi trường là một đợt hoạt động tập trung, đồng
bộ, phối hợp nhiều phương tiện truyền thông, các kênh truyền thông nhằm truyền tải các thông điệp cần thiết để tác động đến một hay nhiều nhóm đối tượng Chiến dịch truyền thông môi trường được tổ chức trong một thời gian ngắn tập trung vào một nội dung ưu tiên, có tác dụng phát huy thế mạnh của các tổ chức BVMT, các ngành, các cấp, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, gây tác động mạnh đến nhóm đối tượng truyền thông
- Triển lãm và trưng bày: Triễn lãm môi trường có quy mô rất khác nhau,
từ các cuộc triển lãm lớn cho đến các vật trưng bày nhỏ lẻ đặt tại các vị trí đông người Không nhất thiết phải có nhân viên thuyết minh và trong nhiều trường hợp,
tự thân vật trưng bày đã dễ hiểu và nói lên những điều cần truyền thông
- Câu lạc bộ môi trường: Hình thức Câu lạc bộ môi trường rất phù hợp với các đối tượng thanh, thiếu niên và các cụ đã về hưu Câu lạc bộ bảo tồn hoặc các Hiệp hội bảo tồn cũng là những dạng đặc biệt của Câu lạc bộ môi trường Những
Trang 10Câu lạc bộ này có khả năng thu hút sự tham gia các các thành viên trong cộng đồng vào các vấn đề bảo vệ môi trường rất có hiệu quả
- Nhân các sự kiện đặc biệt: Ngày Môi trường thế giới (ngày 5/6), Tuần lễ Biển và Hải đảo, Tuần lễ Nước sạch - Vệ sinh môi trường, Ngày Trái đất, Chiến dịch làm cho cho thế giới sạch hơn, v.v là những sự kiện đặc biệt Các sự kiện này sẽ tăng thêm nhận thức của cộng đồng, thu hút sự chú ý của cộng đồng về vấn
đề liên quan với sự kiện Sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Trung ương hay địa phương làm tăng tính thuyết phục của hoạt động truyền thông môi trường
- Tổ chức các cuộc thi về môi trường: Có nhiều hình thức thi: thi viết, sáng tác ca khúc, thi vẽ, thi tuyên truyền viên, thi ảnh ; tuỳ đối tượng dự thi là người lớn hay trẻ em mà đề ra tiêu chuẩn cho phù hợp
1.3 Vai trò của truyền thông về ngăn ngừa và kiểm soát quản lý tổng hợp không gian biển
1.3.1 Khái niệm quản lý tổng hợp không gian biển
Theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi
của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường
và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [9] Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển định nghĩa: Quản lý tổng hợp không gian biển
là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, gồm các cửa sông khi việc gây ra đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến các nguồn lợi sinh vật, đến hệ động vật và thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người, gây trở ngại cho các hoạt động
ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển[10] Theo các nhà khoa học, tác nhân gây ô nhiễm
Trang 11và suy thoái môi trường biển là do con người và tự nhiên, được phân thành các nhóm:
- Từ lục địa mang ra: Các hoạt động phát triển trên đất liền, đặc biệt trên các
lưu vực sông như đô thị hóa, phát triển các khu công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản nước lợ, các khu dân cư, khai khoáng, Các chất thải không qua xử lý đổ ra sông suối và cuối cùng “trăm sông đều đổ về biển cả” Lượng thải từ đất liền ra biển ở nước ta chiếm khoảng 50-60%[11]
- Từ trên biển: Các hoạt động trên biển như hàng hải, nuôi trồng và đánh bắt
hải sản, phát triển cảng và nạo vét đáy biển, du lịch biển, thăm dò và khai thác khoáng sản biển (chủ yếu dầu, khí), nhận chìm tàu và các sự cố môi trường biển khác (tràn dầu, thải dầu, đổ dầu cặn bất hợp pháp, đổ thải phóng xạ, hóa chất độc hại, )
- Từ không khí đưa xuống: Các hoạt động tương tác biển – khí cũng kéo
theo hiện tượng lắng các chất gây ô nhiễm xuống biển Loại này khó theo dõi và quản lý vì thường phát tán trên diện rộng
- Từ đáy biển đưa lên: Chủ yếu ở những khu vực có hoặc chịu ảnh hưởng
của các hoạt động địa động lực mạnh như động đất, núi lửa, sóng thần,
Trong thực tế, quản lý tổng hợp không gian biển do con người là chủ yếu và nghiêm trọng nhất, điển hình cho cấp độ này là hoạt động xả thải trái phép, trên quy mô lớn của công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, đã gây sự cố môi trường biển đặc biệt nghiêm trọng cho 4 tỉnh miền Trung vào tháng 4 năm
2016 Do đó bảo vệ môi trường biển được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm, triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, với sự vào cuộc của các cấp, ngành, địa phương, lực lượng và toàn dân, trong đó giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên biển; công tác phòng
Trang 12ngừa, ngăn chặn kết hợp với xử lý có hiệu quả ô nhiễm, cải thiện môi trường biển, vùng ven biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
1.3.2 Vai trò của truyền thông về ngăn ngừa và kiểm soát quản lý tổng hợp không gian biển
Truyền thông về NN&KSONMTB là một dạng của truyền thông môi trường, Kinh nghiệm của UNDP cho thấy các chương trình hay kế hoạch truyền thông môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ giữa chính phủ với tổ chức dân sự xã hội, khối doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồng Thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, cộng đồng không những sẽ tích cực hơn trong việc tham gia vào các quá trình ra quyết định và đồng thời có những đóng góp cho các nỗ lực bảo vệ, NN&KSONMTB
Thực tế cho thấy truyền thông về NN&KSONMTB có vai trò quan trọng
đó là: (i) Các vấn đề quản lý tổng hợp không gian biển có tác động, ảnh hưởng đến mọi người, mọi ngành, mọi nghề, mọi mặt của đời sống xã hội của con người, không chỉ đối với các thế hệ hiện tại mà cả đến các thế hệ tương lai; (ii) Phạm vi tác động, ảnh hưởng của các vấn đề quản lý tổng hợp không gian biển đến điều kiện tự nhiên và các hoạt động KT-XH thay đổi rất rộng, từ cá nhân, xóm, thôn, bản đến quốc gia, khu vực và toàn cầu Vì thế, vấn đề quản lý tổng hợp không gian biển là vấn đề chung của cộng đồng Để giải quyết vấn đề quản lý tổng hợp không gian biển, ngoài việc nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương trong việc xây dựng, triển khai các chính sách, biện pháp, chương trình và kế hoạch hành động nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường biển thì việc ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động du lịch, hàng hải; khoan, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí; khai thác khoáng sản; đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản; thải đổ bùn nạo vét luồng giao thông thủy, công trình biển… rất cần được ưu
Trang 13tiên chú trọng Thực trạng môi trường quản lý tổng hợp không gian biển do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức con người, do nhận thức không đúng đắn và đầy đủ về môi trường và trách nhiệm BVMT biển, và để cộng đồng hiểu biết về chính sách, pháp luật liên quan đến khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên
về quản lý tổng hợp không gian biển và BVMT biển tác động như thế nào tới đời sống, sinh kế của chính những người dân hàng ngày sống chung với biển sẽ thấy vai trò quan trọng của thông tin, truyền thông, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng có ý nghĩa như thế nào Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về NN&KSONMTB để cộng đồng nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi, thói quen, tập quán sinh hoạt lạc hậu gây tác hại đến môi trường biển theo hướng tích cực trong ngăn ngừa, phòng chống quản lý tổng hợp không gian biển, tạo được sự đồng thuận mạnh mẽ của cộng đồng đối với BVMT biển BVMT nói chung và BVMT biển nói riêng đã, đang và sẽ là vấn đề sống còn đối với mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng dân cư; là việc phải làm thường xuyên, liên tục và là trách nhiệm của mọi công dân là nhiệm vụ hàng đầu nền tảng quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia biển trong tương lai…
1.4.3 Mục đích, yêu cầu của chương trình truyền thông về ngăn ngừa và kiểm soát quản lý tổng hợp không gian biển
- Mục đích: Từ những đặc điểm của quản lý tổng hợp không gian biển (là vấn đề chung của cộng đồng, không riêng một người, một nhà, một cộng đồng, hay một quốc gia bị tác động xấu hoặc được thu lợi), nên mục đích của truyền thông về NN&KSONMTB không chỉ là nhằm truyền đạt thông tin hay quá nhấn mạnh vào truyền đạt thông tin, mà quan trọng hơn là nhằm thu hút mọi người tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin, tạo ra sự hiểu biết chung, nhận thức chung về những vấn đề quản lý tổng hợp không gian biển nói chung và NN&KSONMTB nói riêng để từ đó cùng chia sẻ trách nhiệm và thống nhất hành động theo một
Trang 14hướng chung trong việc giải quyết những vấn đề thuộc lĩnh vực NN&KSONMTB đặt ra
- Yêu cầu chung của truyền thông về NN&KSONMTB là: (i) Làm cho các đối tượng truyền thông thấy rõ thực trạng của họ và cộng đồng của họ đã và đang chịu những hậu quả tác động tiêu cực của sự suy thoái và quản lý tổng hợp không gian biển, những nguy cơ, hiểm họa tiềm tàng do suy thoái, quản lý tổng hợp không gian biển gây ra trong tương lai, nguyên nhân của suy thoái, quản lý tổng hợp không gian biển hiện nay và những giải pháp mà còn người phải thực hiện để NN&KSONMTB, bảo vệ môi trường biển thông qua việc cung cấp cho họ những minh chứng khoa học và thực tiễn sinh động về hiện trạng suy thoái, quản lý tổng hợp không gian biển và những hậu quả tác động của chúng; (ii) Thu hút, huy động được đông đảo lực lượng xã hội tham gia vào quá trình truyền thông, qua đó nâng
cao được nhận thức, kiến thức khoa học, thay đổi thái độ và hành vi của họ theo
hướng NN&KSONMTB để BVMT, biển góp phần phát triển bền vững; (iii) Việc thực hiện các hoạt động truyền thông về quản lý tổng hợp không gian biển không chỉ giới hạn trong công tác nâng cao nhận thức cộng đồng hay phổ biến thông tin Truyền thông cần bao gồm các cách tiếp cận có sự tham gia nhằm tăng cường hiểu biết và đồng thuận về các biện pháp thích ứng và giảm thiểu tác động của quản lý tổng hợp không gian biển từ phía cộng đồng cũng như các bên liên quan
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VEN BIỂN HẢI HẬU TỈNH
NAM ĐỊNH
Trang 152.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
2.1.1 Vị trí địa lý - tài nguyên vị thế
Hải Hậu (Hình 2.1) là huyện ven biển nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Nam
Định, với đường bờ biển khoảng 32 km Có tọa độ địa lý:
190 55' đến 200 15' vĩ độ Bắc
1060 00' đến 1060 21' kinh độ Đông
Hình 2.1 Vị trí vùng nghiên cứu nhìn từ vệ tinh
Trang 16Hình 2.2 Bản đồ vị trí địa lý huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định
Trang 172.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
2.2 Hiện trạng và diễn biến môi trường biển giai đoạn 2011 - 2015
2.2.1 Các nguồn gây ô nhiễm nước biển
xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu
+ Hoạt động dân sinh: Hầu hết nước thải từ các nguồn phát sinh chưa được xử lý
hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu đã làm ô nhiễm nguồn nước mặt trong lục địa
+ Ô nhiễm do sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp: Lượng dư thừa thuốc
bảo vệ thực vật và phân bón sẽ bị rửa trôi khi mưa xuống và theo kênh mương dẫn vào các tuyến sông nội đồng và sông lớn để đổ ra biển
- Du lịch biển và nuôi trồng thủy sản:
+ Hoạt động du lịch: Trong những năm qua lượng khách du lịch càng ngày càng
gia tăng tập trung chủ yếu ở khu vực bãi tắm Thịnh Long Hiện tại, các nhà nghỉ tại khu
du lịch hầu hết đều chưa có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo Việc xây dựng nhà nghỉ phát triển mạnh và thiếu quy hoạch, xây dựng trên diện tích rừng phi lao chắn sóng làm diện tích rừng giảm Việc xả thải rác thải bừa bãi của khách du lịch cũng đã làm ô nhiễm
môi trường bờ biển
+ Hoạt động nuôi trồng thủy hải sản: Bùn thải trong quá trình nuôi trồng thủy sản
chứa các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các hóa chất và thuốc kháng sinh, các loại khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe 2+ , Fe 3+ , Al 3+ , SO 42- Lớp bùn này có chiều dày từ 0,1-0,3m trong tình trạng ngập nước yếm khí tạo thành các sản phẩm phân hủy độc hại như H 2 S, NH 3 , CH 4 , Mecaptan…thải ra trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi tác động xấu đến môi
trường xung quanh, ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản nuôi trồng Nước thải nuôi tôm
công nghiệp có hàm lượng các chất hữu cơ cao (BOD 5 12 - 35mg/l, COD 20 - 50mg/l), các chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn lơ lửng (12 - 70mg/l), ammoniac (0,5 -