Đề cương nghiên cứu khoa học luận văn thạc sỹ kỹ thuật y học tên đề tài Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 trên 40 tuổi tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên và các yếu tố liên quan năm 2023
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh đái tháo đường 3
1.1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường 3
1.1.2 Phân loại bệnh đáo tháo đường 3
1.1.3 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường 4
1.1.4 Điều trị bệnh đái tháo đường 5
1.1.5 Biến chứng 7
1.2 Xét nghiệm trong đái tháo đường 8
1.2.1 Đường máu mao mạch 8
1.2.2 Xét nghiệm đường huyết lúc đói 12
1.2.3 HBA1C 13
1.3 Kiểm soát đường huyết và các yếu tố liên quan 14
1.3.1 Khái niệm, phân loại 14
1.3.2 Các yếu tố liên quan 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 16
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 16
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 16
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 16
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 16
2.2.3 Kế hoạch 17
2.2.4.Dự trù kinh phí 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
Trang 22.4.1 Kỹ thuật thu thập số liệu 21
2.4.2 Công cụ thu thập số liệu 21
2.5 Sai số và cách khống chế sai số 21
2.6 Quản lý và phân tích số liệu 21
2.7 Đạo đức nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Một số yếu tố liên quan đến đối tượng tham gia nghiên cứu 22
3.2 Các yếu tố liên quan đến việc KSĐH: 25
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 31
PHIẾU CHẤP THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU 31
BỘ CÂU HỎI 30
Trang 3Bảng 3.1.2 Phân bố bệnh nhân dựa vào thời gian bị bệnh 23
Bảng 3.1.3 Giá trị Glucose và HbA1c trung bình 24
Bảng 3.1.4 Các chỉ số xét nghiệm đường huyết 24
Bảng 3.2.1 Liên quan giữa hút thuốc và KSĐH 25
Bảng 3.2.2 Liên quan giữa uống rượu bia và KSĐH 25
Bảng 3.2.3 Liên quan giữa thể dục, thể thao và KSĐH 26
Bảng 3.2.4 Liên quan giữa người mắc bệnh về tim mạch với KSĐH 26
Bảng 3.2.5 Liên quan giữa yếu tố di truyền và kiểm soát đường huyết 27
Bảng 3.2.6 Liên quan giữa việc thăm khám định kỳ và KSĐH 27
Trang 4mức độ nguy hiểm 6 Hình 2 Xét nghiệm đường máu mao mạch kiểm tra bệnh tiểu đường 8 Hình 3 Kết quả đường máu mao mạch đối với mỗi người lại có ý nghĩa khác nhau 11 Hình 4 Tập thể dục có thể đẩy lùi bệnh đái tháo đường 11 Hình 5 Hình ảnh nhân viên y tế sẽ lấy máu để xét nghiệm 14
Trang 5KSĐH: Kiểm soát đường huyết
Trang 6Bảng 3.1.2 Phân bố bệnh nhân dựa vào thời gian bị bệnh
Bảng 3.1.3 Giá trị Glucose và HbA1c trung bình
Bảng 3.1.4 Các chỉ số xét nghiệm đường huyết
Bảng 3.2.1 Liên quan giữa hút thuốc và KSĐH
Bảng 3.2.2 Liên quan giữa uống rượu bia và KSĐH
Bảng 3.2.3 Liên quan giữa thể dục, thể thao và KSĐH
Bảng 3.2.4 Liên quang giữa người mắc bệnh về tim mạch với KSĐHBảng 3.2.5 Liên quan giữa yếu tố di truyền và kiểm soát đường huyếtBảng 3.2.6 Liên quan giữa việc thăm khám định kỳ và KSĐH
Trang 7Hình 2 Xét nghiệm đường máu mao mạch kiểm tra bệnh tiểu đường
Hình 3 Kết quả đường máu mao mạch đối với mỗi người lại có ý nghĩa khácnhau
Hình 4 Tập thể dục có thể đẩy lùi bệnh đái tháo đường
Hình 5 Hình ảnh nhân viên y tế sẽ lấy máu để xét nghiệm
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa thường gặp nhất,códiễn biến phức tạp, với tốc độ phát triển nhanh, bệnh được xem là đại dịch ởcác nước đang phát triển Theo ước tính mới nhất của liên đoàn ĐTĐ Quốc tế(IDF) trong năm 2013 có khoảng 382 triệu người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới
và đến 592 triệu người vào năm 2035 và vùng Tây Thái Bình Dương(trong đó
có Việt Nam) sẽ tăng khoảng 46% vào năm 2035 [1]
ĐTĐ là vấn đề sức khỏe cộng đồng của toàn cầu, bệnh gây ra nhiềubiến chứng ở não, mắt, tim, thận, mạch máu, thần kinh… ảnh hưởng tới tuổithọ, chất lượng cuộc sống và đòi hỏi kinh phí điều trị cao trở thành gánh nặngkinh tế cho cá nhân, gia đình, xã hội Kiểm soát glucose máu chặt chẽ sẽ ngănngừa và làm chậm sự xuất hiện các biến chứng ở bệnh nhân (BN) ĐTĐ
Ở Việt Nam, tình hình quản lí bệnh ĐTĐ còn nhiều hạn chế Mạng lướiquản lý ĐTĐ mới chỉ tạo chung ở một vài trung tâm y tế lớn của quốc gia, tại
y tế cơ sở cán bộ y tế có khả năng khám và điều trị bệnh ĐTĐ không chỉ thiếu
về mặt số lượng mà không còn được phổ cập những kiến thức mới về bệnhĐTĐ, trang thiết bị để chẩn đoán, theo dõi bệnh nhân thiếu và lạc hậu, chấtlượng điều trị chưa tốt, chi phí điều trị tốn kém Trong thực tế có rất ít bệnhnhân được kiểm soát tốt đường huyết và các yếu tố nguy cơ
Từ năm 2005, khoa Khám bệnh Bệnh Viện Đa khoa Thái Nguyên bắtđầu triển khai chương trình khám, điều trị và quản lý đối với người bệnhĐTĐ, với số người bệnh ĐTĐ tuyp 2 ban đầu được quản lý là 700 hồ sơ Chođến nay, số người bệnh ĐTĐ tuyp 2 đang được quản lý điều trị và cấp thuốchàng tháng là 2.200 hồ sơ bệnh án, người bệnh khi đến khám từ tuyến dướichuyển đến thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn và đã có biến chứng[2]
Trang 9Các yếu tố nguy cơ đi kèm ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 là tăng huyết áp,thừa cân và béo phì, rối loạn lipit máu,…Do đó kiểm soát glucose máu baogiờ cũng phải đi kèm với việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ, tạo thành tìnhtrạng kiểm soát đa yếu tố Việc đánh giá bệnh nhân ĐTĐ định kì bằng các chỉ
số này là rất cần thiết, cho phép đánh giá nguy cơ mắc các biến chứng củaĐTĐ, giúp đưa ra các biện pháp và mục tiêu thích hợp cho bệnh nhân
Mức kiểm soát glucose máu và HbA1c không đạt còn cao, biến chứng
có xu hướng tăng lên Những khó khăn trong kiểm soát đường huyết thường
do phát hiện bệnh muộn, bệnh nhân không tuân thủ điều trị như bỏ điều trị,điều trị không đều, thiếu thuốc và phương tiện theo dõi điều trị
Theo kết quả nghiên cứu của Diabcare ở khu vực Châu Á trong đó cóViệt Nam cho thấy tỷ lệ BN đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết(KSĐH) là rất thấp.[3-4]
ĐTĐ có nhiều biến chứng nặng nề mà rối loạn nộng độ glucose trongmáu là nguyên nhân chủ yếu.Sự rối loạn nồng độ glucose này còn có nhiềucác yếu tố liên quan ảnh hưởng đến Để tìm hiểu đặc điểm của glucose trongmáu ở bệnh nhân ĐTĐ và các yếu tố liên quan đó chúng tôi tiến hành đề tài
“Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 trên
40 tuổi tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên và các yếu tố liênquan năm 2023” với 2 mục tiêu:
- Xác định các yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết ở bệnhnhân đái tháo đường type 2 trên 40 tuổi tại Bệnh viện đa khoa Trung Ươngtỉnh Thái Nguyên năm 2023
- Đánh giá hiệu quả kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháođường type 2 trên 40 tuổi tại Bệnh viện đa khoa Trung Ương tỉnh TháiNguyên năm 2023
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăngglucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động củainsulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên nhữngrối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơquan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh
1.1.2 Phân loại bệnh đáo tháo đường
Như vậy bệnh ĐTĐ rất đa dạng về cơ chế bệnh sinh, tuy nhiên người tacũng đã cố gắng phân loại bệnh ĐTĐ để giúp cho việc nghiên cứu và điều trịđược hiệu quả hơn Hiệp Hội ĐTĐ Mỹ đưa ra kiểu phân loại bệnh ĐTĐ nhưsau:
1) ĐTĐ type1
2) ĐTĐ type 2
3) ĐTĐ thai kỳ
Đái tháo đường typ 1
Bệnh đái tháo đường typ 1 xảy ra khi những rối loạn hệ miễn dịchkhiến tế bào beta trong tuyến tụy bị triệt tiêu gần hết.Đái tháo đường loại 1 là
do sự tác động kết hợp của các yếu tố di truyền (genetic), biểu sinh(epigenetic), môi trường (enviromental) và miễn dịch (immunologic), phá hủycác tế bào β của tuyến tụy nội tiết và dẫn đến thiếu hụt insulin (Paschou SA,
2019 [5]) Không có những tế bào này, tuyến tụy mất khả năng sản sinhinsulin để cân bằng và chuyển hóa lượng glucose (hay còn gọi là đườnghuyết) trong cơ thể Nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời, lượng
Trang 11glucose trong máu sẽ tích tụ lại và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm chosức khỏe người bệnh.
Đái tháo đường tuyp 2
Đái tháo đường loại 2 được đặc trưng bởi sự kháng insulin, hoặc bởi sựkết hợp của kháng insulin với sự giảm bài tiết insulin.Đái tháo đường loại 2chiếm khoảng 90% tống số ca đái tháo đường.Đái tháo đường loại 2 đượcchẩn đoán dựa trên các tiêu chuẩn về dấu ấn sinh học như chẩn đoán đái tháođường loại 1 Nếu có nghi ngờ, có thể làm thêm các tự kháng thể để loại trừđái tháo đường loại 1 và mức độ C-peptide để khẳng định đái tháo đường loại2: mức độ C-peptide là bình thường hoặc cao trong đái tháo đường loại 2nhưng cực kỳ thấp trong đái tháo đường loại 1
Tiền đái tháo đường được coi như là một yếu tố nguy cơ cao của đáitháo đường loại 2.Trên 70% những người bị tiền đái tháo đường có thể tiếntriển thành đái tháo đường loại 2.[6]
Đái tháo đường thai kỳ
Đái tháo đường thai kỳ giống đái tháo đường loại 2 là có sự kết hợpgiữa sự giảm bài tiết insulin của các tế bào beta đảo tụy và sự giảm đáp ứngcủa tế bào các mô đối với insulin trong quá trình thai nghén Đái tháo đườngthai kỳ xảy ra ở phụ nữ mang thai ở tuần 24-28. Tỷ lệ xuất hiện đái tháođường thai nghén là khoảng 3-5% tổng số thai phụ Đối với mẹ, đái tháođường thai nghén có thể gây tăng huyết áp, tiền sản giật, sản giật, hoặc đáitháo đường loại 2 sau sinh Đối với thai, đái tháo đường thai nghén cóthể gây chứng khổng lồ, thai chết lưu, đẻ non, suy hô hấp, hạ glucosemáu, khi lớn trẻ có thể bị béo phì hoặc đái tháo đường loại 2 (ADA, 2019 [7])
1.1.3 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường
a/ Chẩn đoán xác định đái tháo đường
Trang 12Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường – WHO; IDF – 2012,dựa vào một trong các tiêu chí:
– Mức glucose huyết tương lúc đói ≥7,0mmol/l (≥126mg/dl) Hoặc:– Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống Hoặc:
– HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol theo Liên đoàn Sinh hóa Lâm sàngQuốc tế- IFCC) Hoặc:
– Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucosehuyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl)[8]
Những điểm cần lưu ý:
+ Nếu chẩn đoán dựa vào glucose huyết tương lúc đói và/hoặcnghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống, thì phải làm hai lần vàohai ngày khác nhau
+ Có những trường hợp được chẩn đoán là đái tháo đường nhưng lại
có glucose huyết tương lúc đói bình thường Trường hợp này phải ghi rõchẩn đoán bằng phương pháp nào.[9] Ví dụ “Đái tháo đường typ 2-Phương pháp tăng glucose máu bằng đường uống”
b/ Chẩn đoán tiền đái tháo đường (Prediabetes)
– Rối loạn dung nạp glucose (IGT): nếu glucose huyết tương ở thờiđiểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose máu bằng đường uống từ7,8mmol/l (140mg/dl) đến 11,0 mmol/l (200mg/dl)
– Rối loạn glucose máu lúc đói (IFG): nếu glucose huyết tương lúcđói (sau ăn 8 giờ) từ 5,6 mmol/l (100mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125mg/dl); vàglucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp dung nạp glucosemáu dưới 7,8mmol/l (< 140 mg/dl)
– Mức HbA1c từ 5,6% đến 6,4%.[8]
1.1.4 Điều trị bệnh đái tháo đường
a/ Mục đích
Trang 13Mục đích điều trị đái tháo đường tuýp 2 là duy trì lượng Glucose trongmáu khi bệnh nhân đói Cố gắng đạt mức Glucose trong máu vào khoảngHbA1c, nhằm hạn chế các biến chứng có liên quan và giảm tỷ lệ tử vong
do bệnh tiểu đường mang lại
Đối với người thừa cân, béo phì cần thực hiện giảm cân hoặc cố gắngduy trì cân nặng ở mức hợp lý, cân bằng
b/ Nguyên tắc điều trị
Việc điều trị đái tháo đường cần kết hợp giữa thuốc, chế độ ăn uống vàluyện tập phù hợp Đây là ba nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong việcđiều trị và cải thiện các triệu chứng đái tháo đường
Ngoài ra, việc điều trị cần phối hợp làm giảm nồng độ Glucose trongmáu, duy trì huyết áp hợp lý, điều chỉnh rối loạn Lipid, phòng chống rối loạnđông máu,…
Trong các trường hợp cần thiết có thể kê Insulin cho bệnh nhân để điềutrị các bệnh cấp tính của các bệnh lý như: Nhồi máu cơ tim, ung thư, nhiễmtrùng da hoặc các rối loạn sau phẫu thuật[10]
c/ Mục tiêu điều trị
Mục tiêu của việc phác đồ điều trị đái tháo đường tuýp 2 bao gồm:
Nồng độ Glucose trong máu khi đói (mmol/L): 4,4 – 6,1: tốt, ≤ 6,5:
có thể chấp nhận được
Nồng độ Glucose trong máu sau khi ăn (mmol/L): 4,4 – 7,8: tốt, ≤9,0: chấp nhận được
Nồng độ HbA1c (%): ≤ 7,0: tốt, >< 7,0 – ≤ 7,5: chấp nhận được
Trang 14Hình 1 Bảng chỉ số đường huyết và HbA1c phân loại theo mức độ nguy hiểm
Nồng độ HbA1c được điều chỉnh tùy theo thực tế lâm sàng của từngđối tượng bệnh nhân Theo đó, người trẻ tuổi, mới được chẩn đoán đái tháođường, chưa phát hiện biến chứng hoặc không có các bệnh lý đi kèm, nồng độHbA1c chấp nhận được ở mức 6,5% Những người lớn tuổi, bị đái tháo đường
đã lâu, có các biến chứng mãn tính hoặc các bệnh lý khác, nồng độ HbA1c cóthể duy trì ở mức 7,5%.[11]
d/ Thuốc và phương pháp điều trị
Mục tiêu của việc điều trị là nhanh chóng đưa lượng Glucose trong máu
về mức bình thường và đưa nồng độ HbA1c về dưới 7% trong thời gian 3tháng Có thể cân nhắc sử dụng thuốc phối hợp các loại thuốc cho các trườnghợp Glucose trong máu cao như:
Nồng độ HbA1c > 9,0% và nồng độ Glucose trong máu lúc đói >13,0 mmol/l: Dùng phối hợp 2 loại thuộc hạ Glucose trong máu
Nồng độ HbA1C > 9,0% và mức Glucose trong máu lúc đói > 15,0mmol/l: Có thể cân nhắc chỉ định dùng ngay Insulin
Bên cạnh việc điều chỉnh nồng độ Glucose trong máu, cần cân nhắc vềcác thông số đông máu, duy trì số đo huyết áp ổn định và cân bằng các thànhphần Lipid trong máu
Trang 15Theo dõi, đánh giá, kiểm soát nồng độ Glucose trong máu bao gồm:Lúc đói, sau khi ăn và nồng độ HbA1c trong 3 tháng liên tục Nếu nồng độGlucose ổn định thì có thể đo HbA1c mỗi 6 tháng một lần.
Bác sĩ điều trị phải nắm vùng cách sử dụng thuốc hạ Glucose bằngđường uống, cách sử dụng kết hợp Insulin và những lưu ý đặc biệt là tìnhtrạng của người bệnh đái tháo đường.[10]
1.1.5 Biến chứng
a/ Biến chứng cấp tính
– Hôn mê nhiễm toan ceton
– Hạ glucose máu
– Hôn mê tăng glucose máu không nhiễm toan ceton
– Hôn mê nhiễm toan lactic
– Bệnh mạch máu nhỏ: Bệnh võng mạc đái tháo đường, bệnh thậnđái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường (Bệnh lý thần kinh cảmgiác – vận động, thần kinh tự động)
Phối hợp bệnh lý thần kinh và mạch máu: Loét bàn chân đái tháođường.[12]
1.2 Xét nghiệm trong đái tháo đường
1.2.1 Đường máumao mạch
* Chỉ định xét nghiệm đường máu mao mạch khi nào?
Trang 16Xét nghiệm này được chỉ định cho những đối tượng khác nhau với sốlần đo trong ngày hoặc trong tuần khác nhau Việc chỉ định làm xét nghiệmnày cũng phụ thuộc vào tình trạng bệnh cũng như sức khỏe của bệnh nhân vànhu cầu của bệnh nhân.
Hình 2.Xét nghiệm đường máu mao mạch kiểm tra bệnh tiểu đường
Những trường hợp bệnh nhân đang được điều trị với insulin hoặc đangđược điều chỉnh sử dụng đúng liều thuốc hạ đường trong máu, phụ nữ có thaiđược chẩn đoán bị đái tháo đường thai kỳ thì có thể xét nghiệm một hoặcnhiều lần trong ngày
Những người đang có liều dùng thuốc ổn định với các loại thuốc giúp
hạ đường máu thì có thể làm xét nghiệm này từ 2 đến 3 lần trong mỗi tuần
Nếu không nằm trong những đối tượng trên thì người tham gia xétnghiệm hay bệnh nhân đái tháo đường có thể làm xét nghiệm bất cứ khi nàocảm thấy có những triệu chứng bất thường ví dụ như: khát nước nhiều, đi tiểunhiều, cảm thấy đói và bủn rủn chân tay, người bệnh cũng có thể bị vã mồ hôivào lúc trước hay sau khi tập thể dục thể thao
Về những trường hợp chống chỉ định làm xét nghiệm đường máu, hiệnnay chưa có chống chỉ định nào với xét nghiệm này[13]
* Quy trình xét nghiệm đường máu mao mạch
+) Chuẩn bị
Đối với người bệnh, trước khi làm xét nghiệm này thì người bệnh cầnđược cung cấp thông tin như họ tên, số giường và giờ chỉ định làm xét
Trang 17nghiệm, những thông tin này có thể được cung cấp từ trước khi bệnh nhânnhập viện và giờ làm xét nghiệm sẽ được thông báo đến bệnh nhân.
Bác sĩ cũng cần giải thích hướng dẫn để bệnh nhân hiểu và hợp tác.Bệnh nhân cần rửa tay và lau khô hoặc có thể sát trùng bằng bông tẩm cồn rồi
để tay khô ráo, để bệnh nhân trong tư thế nằm hoặc ngồi trước khi làm xétnghiệm
Về dụng cụ, để làm xét nghiệm đường máu mao mạch, cần phải
chuẩn bị máy thử và que thử đường máu, kim chích, bút chích máu và bảngtheo dõi đường máu Kiểm tra kỹ hạn sử dụng cũng như tình trạng của quethử, máy thử đường máu Ngoài ra cần chuẩn bị hộp đựng bông cồn sát trùng,bông khô và hộp đựng que thử, kim chích đã qua sử dụng
*Tiến hành xét nghiệm
Đầu tiên, điều dưỡng viên phải rửa tay sạch sẽ, đội mũ bảo hộ vàđeo khẩu trang đầy đủ Tiếp theo lắp kim vào bút chích máu và chỉnh độ sâusao cho phù hợp với da người bệnh Khi lấy que thử ra khỏi hộp đựng thì phảiđóng lại ngày rồi đưa que thử vào máy thử để cho máy tự động khởi độnghoặc bật máy thử lên.Nếu thấy code hiện trên máy trùng với code của que thử
là được, nếu không thì phải chỉnh lại sao cho đúng
Để đo đường máu mao mạch, điều dưỡng cầm tay bệnh nhân và vuốtnhẹ để dồn máu từ gốc ngón tay đến đầu 1 trong 4 ngón tay (trừ ngón cái),sau đó đưa đầu bút tới mép ngoài cạnh đầu ngón tay rồi bấm bút chích máu,nên nặn nhẹ để có thể lấy đủ giọt máu sao cho đủ lượng máu máy cần Sau đóđiều dưỡng thấm máu vào giấy thử và cắm vào máy hoặc có thể để cạnh quethử máu tùy theo loại máy đó là lấy ở ngoài hay là mao dẫn
Cuối cùng điều dưỡng lau sạch máu trên tay bệnh nhân bằng bông khôtrong khi đợi kết quả từ máy (khoảng 5 - 45 giây) Điều dưỡng đọc kết quả vàthông báo cho bệnh nhân kèm theo đó là những lời dặn dò cần thiết.
Trang 18Để đảm bảo vệ sinh, người điều dưỡng cần bỏ ngay kim và cả que thử
đã qua sử dụng vào hộp rác thải y tế sao cho phù hợp rồi thu dọn và rửa tay
Khi thực hiện xét nghiệm cần chú ý một số lỗi có thể xảy ra như ngóntay bệnh nhân bị ướt do cồn hoặc nước dẫn đến mẫu máu bị loãng hay khôngtạo được giọt khiến kết quả sai lệch Code máy không được điều chỉnh đúngvới que thử cũng là nguyên nhân dẫn đến việc sai kết quả Cần kiểm tra quethử tránh bị ẩm hay hết hạn Khi lấy máu có thể xảy ra trường hợp giọt máukhông đủ khiến que thử bị hỏng và máy cho kết quả đúng
Hình 3.Kết quả đường máu mao mạch đối với mỗi người lại có ý
nghĩa khác nhau
* Cách đọc kết quả xét nghiệm đường máu mao mạch
Kết quả xét nghiệm đường máu mao mạch đối với từng bệnh nhân lại
có ý nghĩa khác nhau Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA), đườngmáu mao mạch trước khi ăn nằm ở khoảng 4,4 - 7,2 mmol/l, sau ăn 2 giờ là <
10 mmol/l là chỉ số đạt mục tiêu
Đối với những phụ nữ đang mang thai bị chẩn đoán đái tháo đườngtrong thai kỳ thì thường chỉ định làm nghiệm pháp dung nạp đường huyếtmục tiêu đường máu chặt chẽ hơn
- Trước khi ăn: < 5,3 mmol/L
- Sau khi ăn 1h: < 7,8 mmol/L
- Sau khi ăn 2h: < 6,7 mmol/L
Trang 19Nếu như kết quả đường máu qua cao (HI) hoặc có giá trị quá thấp (LO)thì cần phải thông báo ngay cho bác sĩ để có hướng xử lý kịp thời[15]
Hình 4.Tập thể dục có thể đẩy lùi bệnh đái tháo đường
Trang 201.2.2 Xét nghiệm đường huyết lúc đói
* Định lượng glucose máu lúc đói.
Đây là xét nghiệm phổ biến hay dùng nhất hiện nay để chẩn đoán đáitháo đường Bình thường glucose huyết tương khi đói khoảng 4,4 -5,0mmol/L Nếu như xét nghiệm thấy đường máu lúc đói (sau ăn 8h)≥ 126mg/dl (≥ 7,0 mmol/l) ở 2 lần xét nghiệm gần nhau thì được coi là đái tháođường Lưu ý là đường máu trong huyết tương cao hơn trong máu toàn phầnkhoảng 10-15%
Như vậy:
Nếu xét nghiệm glucose huyết tương < 5,6 mmol/L (<100mg/dL)hoặc <4,4mmol/L (<79mg/dL) trong máu toàn phần thì kết luận không bị đáitháo đường
Nếu xét nghiệm glucose huyết tương 5,6 - 6,4 mmol/L (100-116mg/dL) hoặc 4,4-5,5 mmol/L (79-99 mg/dL) trong máu toàn phần thì nguy cơ
bị đái tháo đường là ít và không cần làm nghiệm pháp tăng đường huyết
Nếu xét nghiệm glucose huyết tương 6,5 - 7,0 mmol/L (117-126mg/dL) hoặc 5,6-6,6 mmol/L (100-119 mg/dL) trong máu toàn phần thì nguy
cơ bị đái tháo đường là cao và cần làm nghiệm pháp tăng đường huyết
Nếu xét nghiệm glucose huyết tương ≥ 7,0 mmol/L (≥126mg/dL)hoặc ≥6,7mmol/L (≥120mg/dL) trong máu toàn phần thì kết luận bị đái tháođường.[15]
1.2.3 HBA1C
a/ HbA1C là gì?
– Xét nghiệm glycohemoglobin (HbA1c, A1c) là xét nghiệm máu giúpkiểm tra lượng glucose (lượng đường) gắn với hemoglobin trong tế bào hồngcầu Sự liên kết của hemoglobin và glucose sẽ tạo ra một lớp đường bao bọcxung quanh hemoglobin, lớp bao bọc càng dày khi lượng đường trong máu