1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Điều kiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam và Cộng hoà Pháp " pptx

8 751 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Kiện Kháng Nghị Theo Thủ Tục Giám Đốc Thẩm Trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Và Cộng Hoà Pháp
Tác giả ThS. Mai Thanh Hiếu
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Luật Hình Sự
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 184,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và chủ thể kháng nghị Đối tượng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam là bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật Điều 272 BLTTHS

Trang 1

ThS Mai Thanh HiÕu *

ột trong những điểm tương đồng của

pháp luật Việt Nam và Cộng hoà

Pháp về thủ tục giám đốc thẩm hình sự thể

hiện ở quan điểm giám đốc thẩm không phải

là cấp xét xử thứ ba Điều này được lí giải

bởi Toà giám đốc thẩm của Pháp không xét

xử lại vụ án, không quyết định về tội phạm

cũng như hình phạt, vì đó là nhiệm vụ của

toà án cấp phúc thẩm - cấp xét xử thứ hai,

xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của

bản án, quyết định sơ thẩm Pháp luật tố tụng

hình sự Việt Nam cũng quy định chế độ hai

cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm Đối với

bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực

pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật

nghiêm trọng trong việc xử lí vụ án thì được

xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

(Điều 20 BLTTHS Việt Nam)

Trong tố tụng hình sự Pháp, giám đốc

thẩm không phải là một cấp xét xử, mà chỉ là

thủ tục kiểm tra lại khả năng vi phạm pháp

luật nghiêm trọng của toà án trong quá trình

giải quyết vụ án Giám đốc thẩm chỉ kiểm tra

khả năng sai lầm về áp dụng pháp luật còn

việc kiểm tra khả năng sai lầm về nội dung

vụ án là nhiệm vụ của tái thẩm Nghĩa là, khi

tiến hành giám đốc thẩm, những vấn đề

thuộc về nội dung vụ án không được xem

xét Nếu Toà giám đốc thẩm nhận thấy việc

áp dụng pháp luật là đúng đắn thì sẽ không

chấp nhận kháng nghị Trong trường hợp phát hiện thấy vi phạm pháp luật, Toà giám đốc thẩm sẽ huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị để xét xử lại ở một toà án khác cùng loại và cùng cấp với toà án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị Toà án có thẩm quyền sẽ xét xử lại vụ án cả về nội dung và luật áp dụng Trong khi đó, theo BLTTHS đầu tiên của Việt Nam năm 1988, giám đốc

thẩm xem xét lại cả về nội dung vụ án, thể

hiện ở quyền của hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Hiện nay, theo BLTTHS năm 2003, thẩm quyền này đã bị huỷ bỏ nhưng hội đồng giám đốc thẩm vẫn phải xem xét toàn

bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị (Điều 284 BLTTHS Việt Nam)

Luật tố tụng hình sự Pháp giới hạn giám đốc thẩm trong việc chỉ kiểm tra sai lầm về

áp dụng pháp luật Điều này không trái với luật quốc tế Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xét lại ở toà án cấp trên những bản án, quyết định kết tội của toà án cấp dưới nhưng không đòi hỏi phải

M

* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

8 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006

kiểm tra lại cả về nội dung vụ án và việc áp

dụng luật.(1)

Thủ tục giám đốc thẩm ở Pháp cũng như

Việt Nam đều nhằm đảm bảo sự áp dụng

thống nhất pháp luật Kết quả giám đốc thẩm

ở Pháp tạo nên án lệ - nguồn luật quan trọng

trong hệ thống pháp luật Pháp Ở Việt Nam,

các quyết định giám đốc thẩm có thể là mẫu

mực, là kinh nghiệm được các thẩm phán

tham khảo nhưng không được trích dẫn vào

bản án và không bắt buộc các toà án phải

tuân theo khi xét xử các vụ án tương tự

Giám đốc thẩm chỉ có thể được tiến hành

trên cơ sở kháng nghị theo thủ tục giám đốc

thẩm Vậy kháng nghị giám đốc thẩm được

thực hiện trong điều kiện nào? Một cách

nhìn so sánh pháp luật Việt - Pháp về cả điều

kiện nội dung (I) và hình thức (II) như trình

bày dưới đây là câu trả lời cho vấn đề trên

I ĐIỀU KIỆN NỘI DUNG

Kháng nghị giám đốc thẩm do các chủ

thể nhất định thực hiện đối với những loại

bản án, quyết định của toà án (1) theo những

căn cứ (2) do pháp luật quy định

1 Đối tượng và chủ thể kháng nghị

Đối tượng kháng nghị theo thủ tục giám

đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam là

bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực

pháp luật (Điều 272 BLTTHS Việt Nam)

Đó là: 1 Bản án, quyết định của toà án cấp

sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị

theo trình tự phúc thẩm; 2 Bản án, quyết

định của toà án cấp phúc thẩm; 3 Quyết

định của toà án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

(khoản 1 Điều 255 BLTTHS Việt Nam)

Chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm trong

tố tụng hình sự Việt Nam là chánh án toà án và

viện trưởng viện kiểm sát từ cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên (Điều 275 BLTTHS Việt Nam) Trong tố tụng hình sự Pháp, toà án không có quyền kháng nghị để rồi xem xét lại những vi phạm pháp luật do chính toà án cấp dưới của mình gây ra Luật tố tụng hình

sự Pháp phân biệt đối tượng và chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm theo nội dung kháng nghị vì lợi ích đương sự hay vì lợi ích pháp luật Luật tố tụng hình sự Việt Nam không phân biệt như vậy

- Kháng nghị vì lợi ích đương sự + Đối tượng của kháng nghị

Đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm vì lợi ích đương sự là bản án, quyết định tư pháp của cấp toà án cuối cùng quyết định về nội dung vụ án

Đối tượng kháng nghị là bản án, quyết định tư pháp của toà án xét xử cũng như toà

án điều tra Những quyết định hành chính (hành chính - tư pháp) của toà án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự không được coi là đối tượng của kháng nghị giám đốc

thẩm vì lợi ích đương sự, ví dụ: Quyết định

về việc bốc thăm hội thẩm hoặc về việc hội thẩm từ chối tiến hành tố tụng

Đối tượng kháng nghị còn phải là bản

án, quyết định của cấp toà án cuối cùng quyết định về nội dung vụ án, bao gồm: 1 Bản án, quyết định sơ thẩm đồng thời là chung thẩm; 2 Bản án, quyết định phúc thẩm Do đó, bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm không phải là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm Bản án, quyết định này không phải là bản án, quyết định của cấp toà án cuối cùng Đương sự đã bỏ qua cơ hội yêu cầu toà án cấp trên xét xử lại

Trang 3

vụ án theo thủ tục phúc thẩm thì không có

quyền yêu cầu xem xét lại theo thủ tục giám

đốc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm

không chấp nhận kháng cáo lại là đối tượng

của kháng nghị giám đốc thẩm vì người

tham gia tố tụng đã thực hiện quyền kháng

cáo để có được quyết định của cấp toà án

cuối cùng Trong tố tụng hình sự Việt Nam,

ngược lại, hết thời hạn mà không có kháng

cáo, kháng nghị phúc thẩm thì bản án, quyết

định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và có thể

trở thành đối tượng của kháng nghị theo thủ

tục giám đốc thẩm Một điểm khác biệt nữa,

ở Việt Nam, bản thân quyết định giám đốc

thẩm, tái thẩm có thể bị kháng nghị theo thủ

tục giám đốc thẩm để xét lại ở cấp cao hơn,

vì toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự

cấp quân khu và Toà án nhân dân tối cao là

những cấp có thẩm quyền giám đốc thẩm Ở

Pháp, do quyết định giám đốc thẩm là quyết

định của Toà án tối cao nên chỉ có bản án,

quyết định của toà án được Toà giám đốc

thẩm chỉ định để xét xử lại vụ án mới bị

kháng nghị giám đốc thẩm lần nữa

Không phải mọi bản án, quyết định của

toà án vi phạm pháp luật nghiêm trọng và đã

có hiệu lực pháp luật đều bị kháng nghị theo

thủ tục giám đốc thẩm Trong tố tụng hình

sự Việt Nam, quyết định của Hội đồng thẩm

phán Toà án nhân dân tối cao không thể bị

kháng nghị vì đó là quyết định của cơ quan

có thẩm quyền xét xử cao nhất Ngoài

trường hợp có tính đương nhiên này, luật tố

tụng hình sự Việt Nam không quy định

những ngoại lệ khác Trong tố tụng hình sự

Pháp, có những bản án, quyết định không thể

bị kháng nghị như bản án của Toà án công lí

(xem xét trách nhiệm hình sự của các thành

viên Chính phủ) hoặc chỉ có thể bị kháng nghị trong những điều kiện nhất định như bản án của toà đại hình tuyên bị cáo vô tội Bản án này không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, trừ trường hợp kháng nghị vì lợi ích của pháp luật (tránh cho những thẩm phán khác mắc sai lầm tương tự) và không gây thiệt hại cho người được tuyên vô tội (Điều 572 BLTTHS Pháp)

Ngoại lệ của Pháp không phải là duy nhất Ở Tây Ban Nha, những bản án về tội vi cảnh và tiểu hình cũng không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.(2) Đây là ngoại

lệ do tính ít nghiêm trọng của tội phạm Ở Đức và Ý, đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, chủ thể có thẩm quyền có thể lựa chọn kháng nghị phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.(3) Điều 569 BLTTHS Ý quy định: “Người có quyền kháng cáo, kháng

nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm có thể kháng nghị giám đốc thẩm một cách trực tiếp” Ngoại lệ này xuất phát từ yêu cầu của việc giải quyết nhanh chóng vụ án Pháp cũng như Việt Nam không chấp nhận kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi vẫn còn khả năng kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Thậm chí, BLTTHS Việt Nam còn cho phép kháng cáo phúc thẩm quá hạn có lí do chính đáng (Điều 235)

+ Chủ thể kháng nghị

Chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm vì lợi ích đương sự là viện công tố và các đương

sự Tuy nhiên, không phải đương sự nào cũng có quyền kháng nghị (kháng cáo)(4) mà phải là các đương sự có lợi ích để thực hiện

việc kháng nghị, bao gồm người bị kết án,

người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 4

10 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006

đến vụ án và luật sư Mặt khác, những chủ

thể này đều phải là các bên trong vụ án Đây

là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc bình đẳng

trước toà án - trọng tài công minh của các

bên trong tố tụng Án lệ coi những người sau

đây không có quyền kháng nghị vì không có

lợi ích để hành động: Người bị kết án kháng

nghị đòi tăng hình phạt, tăng mức bồi

thường thiệt hại mà toà án đã áp dụng cho

mình, kháng nghị động chạm đến lợi ích của

người đồng phạm khác(5) Trong tố tụng

hình sự Việt Nam, người tham gia tố tụng

không có tư cách kháng nghị mà chỉ có

quyền phát hiện những vi phạm pháp luật

trong các bản án, quyết định của toà án đã có

hiệu lực pháp luật và thông báo cho những

người có quyền kháng nghị Việc thực hiện

quyền phát hiện và thông báo chỉ buộc người

có quyền kháng nghị phải trả lời (bằng văn

bản kháng nghị hoặc văn bản nêu rõ lí do

không kháng nghị) Trong tố tụng hình sự

Pháp, thực hiện quyền kháng nghị hợp lệ tạo

cơ sở cho việc mở thủ tục giám đốc thẩm

- Kháng nghị vì lợi ích pháp luật

+ Đối tượng của kháng nghị

Đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm

trong trường hợp này là bản án, quyết định

của toà án đã có hiệu lực quyết tụng Hiệu

lực quyết tụng là tình trạng pháp lí trong đó

một người đã bị toà án xét xử dứt điểm (cuối

cùng) về một tội phạm không thể bị truy cứu

trách nhiệm hình sự lần nữa đối với hành vi

phạm tội đó, dù là theo tội danh khác Bản

án, quyết định đã có hiệu lực quyết tụng thì

không được kháng cáo, kháng nghị, trừ

kháng nghị tái thẩm và kháng nghị giám đốc

thẩm vì lợi ích pháp luật Đó là bản án, quyết

định của toà án không bị kháng nghị trong

thời hạn luật định hoặc không phải là đối tượng kháng nghị như bản án tuyên bị cáo

vô tội của toà đại hình

+ Chủ thể kháng nghị

Chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm trong trường hợp này là viện trưởng viện công tố bên cạnh Toà giám đốc thẩm hoặc phúc thẩm Những người này có thể tự mình kháng nghị hoặc kháng nghị theo yêu cầu của bộ trưởng Bộ tư pháp Kháng nghị vì lợi ích pháp luật đảm bảo sự áp dụng thống nhất pháp luật trong cả nước và chỉ mang tính hình thức (lí thuyết), không ảnh hưởng đến

tình trạng, số phận pháp lí của đương sự Ví dụ: Tình trạng của người được tuyên vô tội không thay đổi mặc dù bản án tuyên vô tội bị Toà giám đốc thẩm huỷ bỏ Tuy nhiên, bản

án kết tội bị huỷ thì người đã bị kết tội sẽ được hưởng lợi ích do việc huỷ bản án Trường hợp này, thực sự không chỉ là kháng nghị vì lợi ích pháp luật mà đồng thời còn vì lợi ích đương sự

Kháng nghị theo yêu cầu của bộ trưởng

Bộ tư pháp có phạm vi đối tượng rộng lớn, không chỉ nhằm tới những bản án, quyết định

tư pháp đã hay chưa có hiệu lực quyết tụng

mà còn chống lại cả những quyết định hành

chính (hành chính - tư pháp) của toà án trong

quá trình giải quyết vụ án hình sự như quyết định về việc rút thăm hội thẩm, quyết định về việc hội thẩm từ chối tiến hành tố tụng

2 Căn cứ kháng nghị

Luật tố tụng hình sự Việt Nam và Pháp đều quy định các trường hợp mở thủ tục giám đốc thẩm Điều đó cho thấy giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt và hạn chế, khác với phúc thẩm là thủ tục thông thường và mở rộng do không quy định căn cứ kháng cáo,

Trang 5

kháng nghị phúc thẩm Như vậy, Việt Nam

và Pháp nằm trong hệ thống các quốc gia

hạn chế kháng nghị giám đốc thẩm bằng việc

quy định căn cứ kháng nghị như các quốc

gia châu Âu lục địa, châu Phi pháp ngữ và

châu Mĩ Latinh, tức là các quốc gia theo

truyền thống romano-germanique Ngược

lại, trong hệ thống common law thường gặp

cơ chế tuỳ nghi Nghĩa là pháp luật không liệt

kê căn cứ kháng nghị Thẩm phán của toà án

tối cao quyết định theo từng trường hợp, chấp

nhận hay không chấp nhận kháng nghị theo

thủ tục giám đốc thẩm Tiêu chuẩn chấp nhận

là lợi ích đối với pháp luật mà kháng nghị nêu

ra Bằng cơ chế tuỳ nghi, toà án đã gạt bỏ

phần lớn các kháng nghị và chỉ xem xét mỗi

năm vài chục kháng nghị Vương quốc Anh

là một ví dụ cho các quốc gia này Một số

quốc gia khác chấp nhận cơ chế trung gian

giữa 2 hệ thống trên Nghĩa là có những

kháng nghị buộc toà án phải xem xét và có

những kháng nghị toà án tuỳ ý quyết định sẽ

giải quyết hay không Ví dụ: Ở Mĩ, kháng

nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hình sự về vi

phạm hiến pháp buộc toà án phải xét xử

Những kháng nghị khác có được chấp nhận

để xử hay không do toà án tuỳ ý quyết định

Canada, Nhật cũng là những ví dụ cho

những quốc gia theo cơ chế trung gian này.(6)

Điều 273 BLTTHS Việt Nam quy định 4

căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc

thẩm: 1 Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà

phiến diện hoặc không đầy đủ; 2 Kết luận

trong bản án hoặc quyết định không phù hợp

với những tình tiết khách quan của vụ án; 3

Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; 4 Có

những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật hình sự

BLTTHS Pháp dành các điều từ 591 đến

600 để quy định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm với một sự liệt kê chi tiết Tuy nhiên,

có thể khái quát lại, các trường hợp mở thủ tục giám đốc thẩm đều có "mẫu số chung" là

"sự vi phạm pháp luật"

Về luật bị vi phạm, một số tác giả chỉ rõ: Giám đốc thẩm kiểm tra việc áp dụng luật tố tụng hình sự và luật hình sự.(7) Án lệ khẳng định: Kháng nghị nếu không viện dẫn ra được văn bản pháp luật bị vi phạm thì bị tuyên bố là kháng nghị không mục đích.(8)

Vi phạm luật tố tụng hình sự là những vi phạm về thẩm quyền, trình tự, thủ tục (thành phần hội đồng xét xử không đúng luật định, không có thẩm quyền hoặc lạm quyền, vi phạm nguyên tắc xét xử công khai, bản án không đưa ra căn cứ hoặc không đủ căn cứ khiến cho Toà giám đốc thẩm không thể thực hiện được việc kiểm tra xem phần quyết định của bản án có vi phạm pháp luật hay không ) Vi phạm về thời hạn không được quy định là căn cứ kháng nghị vì vi phạm loại này, về bản chất, không thể khắc phục bằng cách tiến hành lại hoạt động tố tụng bị

vi phạm Vi phạm luật hình sự là những vi phạm về định tội và quyết định hình phạt do giải thích sai hoặc áp dụng sai luật hình sự(9) (định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong khi hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; áp dụng sai những quy định về án treo và tái phạm ) Đây là những

vi phạm có khả năng dẫn đến vô hiệu mà

luật tố tụng hình sự Việt Nam gọi là "vi phạm nghiêm trọng"

Về mức độ vi phạm, tố tụng hình sự

Trang 6

12 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006

Pháp thừa nhận lí thuyết về hình phạt phù

hợp (Điều 598 BLTTHS Pháp): Sai lầm

trong việc áp dụng pháp luật không thể bị

kháng nghị giám đốc thẩm nếu hình phạt áp

dụng vẫn đúng, nghĩa là hình phạt vẫn như

vậy, ngay cả khi không có sai lầm trong việc

áp dụng pháp luật Vi phạm pháp luật trong

trường hợp này được coi là không có hậu

quả nên giám đốc thẩm chỉ là vô ích Lí

thuyết về hình phạt đúng biện minh cho sai

lầm trong việc áp dụng pháp luật bị chỉ trích

ở Pháp, vì thừa nhận hiệu lực quyết tụng cho

bản án sai lầm về áp dụng pháp luật Tuy

nhiên, lí thuyết này lại được một số quốc gia

thuộc hệ thống romano - germanique quy định

rõ trong BLTTHS như Italia (Điều 619-1),

Bỉ (Điều 411) Pháp luật Mĩ cũng biết đến

một lí thuyết tương tự: Lí thuyết về sai lầm

không đáng kể (harmless error) Theo Điều

52 Luật tố tụng hình sự Liên bang "những

vi phạm, sai lầm, không hợp lệ và mâu

thuẫn mà không ảnh hưởng tới quyền cơ

bản được coi là không quan trọng" Lí

thuyết sai lầm không đáng kể, thậm chí còn

được áp dụng cho cả những vi phạm hiến

pháp Trong vụ Chapman V California

(1967), Toà án tối cao khẳng định: Một số

vi phạm hiến pháp sẽ đương nhiên làm vô

hiệu quyết định của toà án nhưng cũng có

những vi phạm, trong trường hợp đặc biệt,

được coi là không quan trọng.(10) Về điểm

này, luật tố tụng hình sự Việt Nam tương

đồng với pháp luật của các quốc gia nêu

trên, bởi nó chỉ cho phép kháng nghị giám

đốc thẩm nếu có "vi phạm pháp luật nghiêm

trọng" (Điều 272 BLTTHS Việt Nam)

Về chủ thể vi phạm, luật tố tụng hình sự

Pháp cho thấy chủ thể vi phạm pháp luật là

toà án, bao gồm toà án điều tra và toà án xét

xử Hoạt động điều tra của toà án là một chế định đặc trưng của pháp luật Pháp, không phổ biến trên thế giới Việc điều tra của toà

án không phải trong mọi trường hợp, mà chỉ đặt ra đối với những vụ án phức tạp Hoạt động điều tra có thể do toà án trực tiếp tiến hành hoặc tuy không trực tiếp tiến hành nhưng giữ vai trò chỉ đạo và chịu trách nhiệm Vì vậy, toà án là chủ thể bị quy kết cho những vi phạm pháp luật trong giai đoạn này Những vi phạm pháp luật trong điều tra

do viện công tố chỉ đạo và những vi phạm pháp luật trong truy tố không phải là đối tượng xem xét của Toà giám đốc thẩm Luật Việt Nam thật khác biệt khi quy định sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của cơ quan điều tra, viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng được coi là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm Toà án giám đốc thẩm Việt Nam, do đó, trở thành nơi khắc phục vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng ở những giai đoạn tố tụng trước

đó, mặc dù giám đốc thẩm không phải là thủ tục (giai đoạn) duy nhất kiểm tra lại việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ

án Tố tụng, nếu phát triển đến giám đốc thẩm, đương nhiên đã trải qua nhiều giai đoạn mà giai đoạn sau luôn phải kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn trước

và có biện pháp khắc phục nếu phát hiện thấy vi phạm pháp luật Với rất nhiều cơ hội khắc phục như vậy nhưng nhà làm luật Việt Nam vẫn xem giám đốc thẩm như một

"chuyến tầu vét" cho tất cả những vi phạm pháp luật chưa được phát hiện và giải quyết Trở lại trường hợp của Pháp, Toà giám đốc thẩm giới hạn phạm vi xem xét đối với

Trang 7

những vi phạm pháp luật của toà án Hơn thế

nữa, những vi phạm pháp luật của toà án nếu

đã có cơ hội khắc phục bằng những thủ tục

khác mà người tham gia tố tụng bỏ lỡ, không

yêu cầu thì không còn là căn cứ kháng nghị

giám đốc thẩm Ví dụ: Những lí do yêu cầu

vô hiệu không được chấp nhận là căn cứ

kháng nghị giám đốc thẩm nếu người tham

gia tố tụng không đưa những lí do này ra khi

toà án cấp phúc thẩm xem xét kháng cáo, trừ

trường hợp họ không thể biết được những lí

do đó (Điều 595 và Điều 599 BLTTHS Pháp)

II ĐIỀU KIỆN HÌNH THỨC

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

được thực hiện theo thời hạn (1) và dưới

hình thức (2) do pháp luật quy định

1 Thời hạn kháng nghị

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, thời hạn

kháng nghị giám đốc thẩm được phân biệt

theo hướng kháng nghị có lợi hay không có

lợi cho người bị kết án (kháng nghị về dân sự

trong vụ án hình sự được tiến hành theo quy

định của pháp luật về tố tụng dân sự)

Kháng nghị theo hướng không có lợi cho

người bị kết án bị giới hạn về thời gian, chỉ

được tiến hành trong thời hạn 1 năm, kể từ

ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu

lực pháp luật Kháng nghị theo hướng có lợi

cho người bị kết án không bị giới hạn về thời

gian, có thể được tiến hành bất cứ lúc nào,

kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà

cần minh oan cho họ (Điều 278 BLTTHS

Việt Nam)

Trong tố tụng hình sự Pháp, khác với

cách phân biệt của Việt Nam, thời hạn kháng

nghị giám đốc thẩm khác nhau theo nội dung

kháng nghị vì lợi ích đương sự hay vì lợi ích

pháp luật

Thời hạn kháng nghị vì lợi ích đương sự

rất ngắn, trong 5 ngày làm việc (3 ngày đối

với tội phạm về truyền thông) Thời hạn bắt đầu tính kể từ khi tuyên bản án, quyết định, hoặc trong một số trường hợp, kể từ khi tống đạt bản án, quyết định Thời hạn kết thúc khi hết giờ làm việc của phòng thư kí toà án Giống như pháp luật Việt Nam, nếu thời hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính là ngày cuối cùng của thời hạn nhưng khác với pháp luật Việt Nam, kháng nghị giám đốc thẩm quá hạn có lí do chính đáng được chấp nhận

Kháng nghị vì lợi ích pháp luật là kháng nghị không thời hạn, mặc dù đã hết thời hạn mới kháng nghị cũng được chấp nhận (Điều

621 BLTTHS Pháp)

2 Hình thức kháng nghị

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải nêu rõ

lí do và được gửi cho: 1 Toà án đã ra bản

án, quyết định bị kháng nghị; 2 Toà án sẽ xét xử giám đốc thẩm; 3 Người bị kết án và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị Trước khi bắt đầu phiên toà giám đốc thẩm, người đã kháng nghị có quyền bổ sung kháng nghị (nếu chưa hết thời hạn kháng nghị) hoặc rút kháng nghị (Điều 277 BLTTHS Việt Nam)

Trong tố tụng hình sự Pháp, kháng nghị

giám đốc thẩm được thực hiện dưới hình thức một tuyên bố kháng nghị bằng văn bản tại phòng thư kí của toà án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị Nếu người kháng nghị đang bị tước tự do thì tuyên bố kháng nghị được thực hiện tại phòng giám thị trại giam và chuyển cho thư kí toà án

Trang 8

14 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006

Đương sự kháng nghị phải thông báo cho

viện công tố và các đương sự khác về việc

kháng nghị trong thời hạn 3 ngày bằng thư bảo

đảm Nếu đương sự không nhận được thông

báo này thì có quyền kháng án vắng mặt đối

với quyết định của Toà giám đốc thẩm

Như vậy, pháp luật Việt Nam và Pháp

gặp nhau ở điểm: Kháng nghị giám đốc thẩm

được thể hiện dưới hình thức văn bản và

được gửi cho toà án đã ra bản án, quyết định

bị kháng nghị và những người có quyền và

lợi ích liên quan đến việc kháng nghị Nhưng

khác với pháp luật Việt Nam, tại Pháp, lí do

kháng nghị có thể không ghi ngay trong văn

bản kháng nghị mà được thể hiện ở một văn

bản riêng biệt Trong thời hạn 10 ngày sau

khi kháng nghị, người kháng nghị mới nộp

bản tường trình lí do kháng nghị Sự tách

biệt như vậy phù hợp thời hạn kháng nghị

ngắn, tạo điều kiện cho các chủ thể phản ứng

gần như tức thì bằng việc tuyên bố kháng

nghị trước rồi mới phát triển lí do kháng

nghị sau Bản tường trình lí do kháng nghị

chỉ nêu lên vi phạm trong việc áp dụng pháp

luật, chỉ ra văn bản pháp luật bị vi phạm và

không được đưa ra những sai lầm về nội

dung vụ án hoặc không đưa ra đồng thời cả

sai lầm về hình thức và nội dung Bản tường

trình lí do kháng nghị cũng không được đưa

ra những lí do mới, nghĩa là những lí do

chưa từng đặt ra trước các toà án xét xử về

nội dung, trừ những vi phạm trật tự công (lợi

ích chung) như vi phạm thẩm quyền, hết thời

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Tường

trình kháng nghị được gửi cho phòng thư kí

của toà án đã ra bản án, quyết định bị kháng

nghị hoặc Toà giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt trong

tố tụng hình sự Nhà làm luật các quốc gia đều muốn hạn chế áp dụng thủ tục giám đốc thẩm với những cơ chế khác nhau.(11) Những kinh nghiệm của Pháp có thể gợi ý cho chúng ta trong việc nghiên cứu hoàn thiện chế định giám đốc thẩm với những quy định thể hiện rõ thủ tục này chỉ nhằm xem xét lại những vi phạm trong việc áp dụng pháp luật của toà án chứ không phải là vi phạm trong

cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử như quy định hiện nay Nếu thay đổi theo hướng đó được thực hiện thì không có lí do gì tiếp tục giữ lại thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của toà án, để cho toà án được "chính danh", không còn vừa kháng nghị vừa xem xét kháng nghị nữa, trở về với đúng chức năng trọng tài công minh trước các bên trong

tố tụng.(12)

(1).Xem: Frédéric Debove et François Falletti, Précis de

(2).Xem: Jean Pradel, Droit pénal comparé, D., 2002, p 621

(3).Xem: Jean Pradel, Sđd., p 621, 622

(4) Nhà Pháp luật Việt - Pháp dịch "pourvoi en cassation"

là "kháng cáo, kháng nghị phá án" Xem: Nhà Pháp

luật Việt - Pháp, Bộ luật tố tụng hình sự của nước

(5) Xem: Crim 27 oct 1971, JCP 1971 IV 272, Crim 18 nov 1975, Bull no 203, Crim 10 nov 1980, Bull no 291 (6) Xem: Jean Pradel, Sđd., p 624-626

(7).Xem: Gaston Stephani, Georges Levasseur, Bernard

Bouloc, Procédure pénale, D., 2004, p 909

(8).Xem: Crim 29 nov 1982, Bull crim no 269 (9).Xem: Gaston Stephani, Georges Levasseur, Bernard Bouloc, Sđd., p 909

(10).Xem: Jean Pradel, Sđd., p.623

(11).Xem: Jean Pradel, Sđd., p 624

(12) Tác giả tán thành những thay đổi theo hướng trên, chứ không phải là người đầu tiên đưa ra những

đề xuất đó

Ngày đăng: 08/03/2014, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm