Đối với trường hợp xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú, vì giữa cha mẹ của người con không phải là vợ chồng trước pháp luật nên nguyên tắc suy đoán được áp dụng: Người đàn ông đã có q
Trang 1T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006 3
TS NguyÔn V¨n Cõ *
ào những năm 1980, với những điều
kiện kinh tế - xã hội phát triển, giao
lưu quốc tế với các nước ngày càng được
tăng cường trên các lĩnh vực đời sống kinh tế
- xã hội, trong đó có các quan hệ hôn nhân
và gia đình Để đáp ứng và điều chỉnh kịp
thời các quan hệ hôn nhân và gia đình trong
tình hình mới nhằm bảo đảm quyền lợi chính
đáng của công dân, Luật hôn nhân và gia
đình (Luật HN&GĐ) năm 1986 của Nhà
nước ta đã quy định một chương riêng về
quan hệ hôn nhân và gia đình của công dân
Việt Nam với người nước ngoài (chương X -
Điều 52, 53, 54) Đây là những quy định
chung về quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài theo hệ thống pháp luật về
hôn nhân và gia đình ở nước ta Qua quá
trình thực hiện Luật HN&GĐ năm 1986, xét
thấy các quy định về quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài cần thiết phải
được cụ thể hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi
khi thực hiện và áp dụng Luật;
Năm 1993, Ủy ban thường vụ Quốc hội
ban hành Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Tiếp đó, ngày 30/11/1994, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 184/CP quy định về thủ
tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con
nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài Kế thừa và phát triển
Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm
2000 đã quy định cụ thể hơn về quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (chương
XI từ Điều 100 đến Điều 106) Ngoài ra, khoản 2 Điều 2, Điều 7, khoản 14 Điều 8 của Luật còn quy định nguyên tắc chung về quan
hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; áp dụng pháp luật và giải thích thuật ngữ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Trên cơ sở những quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Nghị định này có hiệu lực từ ngày 2/1/2003 (thay thế Nghị định số 184/CP ngày 30/11/1994 của Chính phủ), trong đó, vấn đề nhận cha, mẹ, con được quy định tại chương III từ Điều 28 đến Điều
33 Chúng tôi xin được bàn và nêu một số ý kiến về điều kiện, quyền yêu cầu và thủ tục giải quyết việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
1 Về điều kiện nhận cha, mẹ, con
Theo quy định chung của Luật HN&GĐ Việt Nam, quan hệ giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện huyết thống (sinh đẻ) Mỗi người sinh ra đều có quyền được biết về
"gốc tích" của mình; ai là cha, mẹ của mình
V
* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 24 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006
Việc xác định mối quan hệ cha, mẹ, con dựa
trên giá trị pháp lí của giấy khai sinh, trong
đó xác định rõ họ, tên của người cha, người
mẹ và người con Trên cơ sở đó mới xác
định và bảo đảm cho các nghĩa vụ và quyền
của cha mẹ và con về quan hệ nhân thân (họ
tên, dân tộc, quốc tịch, tôn giáo…) và tài sản
(cấp dưỡng, thừa kế…) Với mục đích nhằm
làm ổn định và xác thực mối quan hệ giữa
cha mẹ và con, Điều 63 Luật HN&GĐ năm
2000 quy định: "Con sinh ra trong thời kì
hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong
thời kì đó là con chung của vợ chồng".(1)
Theo quy định này, thời kì hôn nhân là
khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại
trước pháp luật, được tính từ khi kết hôn cho
đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật;
nếu người vợ sinh con trong thời kì hôn nhân
này, theo nguyên tắc suy đoán, con đó là con
chung của vợ chồng; cũng có nghĩa, người
chồng của mẹ đứa trẻ được xác định là cha
của đứa trẻ đó Họ tên của hai vợ chồng trong
giấy chứng nhận kết hôn sẽ được ghi vào giấy
khai sinh của người con với tư cách là cha đẻ,
mẹ đẻ Cũng theo nguyên tắc suy đoán trên,
được coi là "người vợ có thai trong thời kì
hôn nhân", nghĩa là kể từ khi hôn nhân chấm
dứt trước pháp luật, nếu trong hạn 300 ngày
(người vợ không kết hôn với người khác) mà
sinh con thì con đó cũng được xác định là
con chung của vợ chồng Đối với trường hợp
xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú, vì
giữa cha mẹ của người con không phải là vợ
chồng trước pháp luật nên nguyên tắc suy
đoán được áp dụng: Người đàn ông đã có
quan hệ sinh lí với người mẹ của đứa con
ngoài giá thú trong thời kì người mẹ có khả
năng thụ thai, sẽ được "suy đoán" là cha của đứa trẻ ngoài giá thú đó; hoặc có những chứng cứ chứng tỏ người đó là cha (như thẩm định gen).(2) Nhằm bảo đảm xác thực mối quan hệ giữa cha mẹ và con trong các trường hợp, kể từ Luật HN&GĐ năm 1986 cho đến nay đã dự liệu một người có quyền yêu cầu xác định một người khác là cha, mẹ, con của mình, kể cả trong trường hợp người được yêu cầu đã chết.(3)
Như đã trình bày ở phần trên, vấn đề xác định quan hệ giữa cha mẹ và con có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện các quyền về nhân thân và tài sản của các chủ
thể trong quan hệ pháp luật này Ví dụ, điều
kiện để cha mẹ và con có quyền thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của nhau thì quan
hệ giữa cha mẹ và con phải được xác thực; ngay cả trường hợp người con chưa được sinh ra nhưng đã thành thai vào thời điểm
mở thừa kế.(4) Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều
28 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định
thì: "Việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau theo quy định của Nghị định này chỉ được tiến hành, nếu bên nhận và bên được nhận đều còn sống vào thời điểm nộp đơn yêu cầu, tự nguyện và không có tranh chấp" Quy định này thực chất không phù hợp với việc dự liệu của Luật HN&GĐ, không bảo đảm được sự bình đẳng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; chưa phù hợp với thực tế yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận cha, mẹ, con; không bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Hiện nay, trong xã hội, thực tế
Trang 3T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006 5
đang phát sinh nhiều trường hợp yêu cầu xác
định cha, mẹ con giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài mà người được yêu
cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết Theo
quy định của pháp luật hiện hành thì:
- Đối với trường hợp công dân Việt
Nam kết hôn với người nước ngoài, giữa họ
đã có con chung nhưng chưa đăng kí khai
sinh cho con, vì lí do nào đó mà cha, mẹ
hoặc con chết (trường hợp này việc đăng kí
khai sinh cho con được tiến hành theo thủ
tục chung nếu không có tranh chấp) (I)
- Trường hợp công dân Việt Nam và
người nước ngoài đã chung sống với nhau
như vợ chồng (nhưng chưa đăng kí kết hôn),
giữa họ đã có con chung với nhau, sau đó cha,
mẹ, con chết; nếu theo quy định tại khoản 1
Điều 28 của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP thì
các đương sự không thể yêu cầu nhận cha,
mẹ, con theo thủ tục hành chính vì họ chưa
có đơn yêu cầu (II)
- Trường hợp nhận cha, mẹ, con giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài,
nếu trong quá trình giải quyết hồ sơ mà bên
nhận và bên được nhận đều chết thì sở tư
pháp đình chỉ việc giải quyết nhận cha, mẹ,
con (III), (theo mục 2.1 Thông tư số
07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 của Bộ tư
pháp hướng dẫn thi hành một số điều của
Nghị định số 68/2002/NĐ-CP)
Như vậy, ở trường hợp (II) và (III) thì
các đương sự hay những người có quyền, lợi
ích liên quan sẽ không có quyền yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xác định cha,
mẹ, con theo thủ tục hành chính, thông qua
việc khai nhận cha, mẹ, con và đăng kí khai
sinh cho con tại cơ quan hộ tịch Theo quan
điểm của chúng tôi, trên cơ sở Luật HN&GĐ
và pháp luật về hộ tịch, những trường hợp này, các đương sự, những người có quyền, lợi ích liên quan vẫn phải được thực hiện quyền yêu cầu cơ quan hộ tịch xác nhận quan hệ cha, mẹ, con
2 Về thủ tục và thẩm quyền giải quyết
Theo Luật HN&GĐ và pháp luật về hộ tịch, việc xác định cha, mẹ, con được tiến hành theo thủ tục hành chính (đăng kí khai sinh cho con tại cơ quan hộ tịch) và theo thủ tục tư pháp (kiện trước toà án, yêu cầu xác định cha, mẹ, con)
Thông thường, sau khi sinh con, người cha, mẹ hoặc những người thân thích của người con tiến hành đăng kí khai sinh cho con theo thủ tục chung Trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, phần khai về cha,
mẹ khi chưa xác định được thì trong giấy khai sinh và trong sổ đăng kí khai sinh để trống Nếu có người nhận làm cha, mẹ của trẻ em thì căn cứ vào quyết định công nhận việc cha, mẹ nhận con của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền mà ghi tên của người được công nhận là cha, mẹ vào phần khai về cha,
mẹ trong giấy khai sinh và trong sổ đăng kí khai sinh của người con.(5) Uỷ ban nhân dân
cơ sở nơi thường trú của người con công nhận và đăng kí việc nhận cha, mẹ, con nếu việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp (Điều 47 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng kí hộ tịch)
Như vậy, đối với trường hợp nhận cha,
mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam khi áp dụng pháp luật
Trang 46 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2006
Việt Nam vẫn phải tuân theo những quy định
chung Có khác chăng là về thẩm quyền:
Việc đăng kí khai sinh; nhận cha, mẹ, con
giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, trừ trường hợp nhận cha, mẹ, con
giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu
vực biên giới với công dân của nước láng
giềng thường trú ở khu vực biên giới với
Việt Nam sẽ do ủy ban nhân dân cấp cơ sở
công nhận (khoản 1 Điều 102 Luật
HN&GĐ; khoản 2 Điều 3 Nghị định số
68/2002/NĐ-CP) Trường hợp xác định cha,
mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài nếu có tranh chấp, theo yêu cầu
sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án
nhân dân cấp tỉnh Đối với những tranh chấp
về nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt
Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân
của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực
biên giới với Việt Nam sẽ do toà án nhân
dân cấp huyện giải quyết (khoản 3 Điều 102
Luật HN&GĐ năm 2000)
Hiện nay, do nhận thức chưa có sự thống
nhất từ những quy định của Luật và các văn
bản hướng dẫn áp dụng đã dẫn đến những
trường hợp khi đương sự có yêu cầu công
nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài mà không có tranh
chấp thì ủy ban nhân dân lại hướng dẫn
đương sự gửi đơn đến toà án nhân dân
Ngược lại, có trường hợp có tranh chấp, yêu
cầu toà án giải quyết thì toà án lại không giải
quyết, gửi hồ sơ yêu cầu ủy ban nhân dân
công nhận Vì vậy, đã dẫn tới tình trạng vụ
việc bị kéo dài, ảnh hưởng tới quyền lợi
chính đáng của các đương sự
3 Một số kiến nghị
- Nhằm bảo đảm ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình (trong đó có việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài), Nghị định số 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ nên quy định
về quyền yêu cầu nhận cha, mẹ, con kể cả trong trường hợp người yêu cầu và người được yêu cầu đã chết (vì còn có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan)
- Trường hợp có yêu cầu nhận cha, mẹ, con đã đáp ứng đầy đủ thủ tục, giấy tờ cần thiết, có cơ sở xác thực quan hệ cha mẹ và con, các đương sự tự nguyện, không có tranh chấp (mặc dù người cha, mẹ, con đã chết nhưng những người thừa kế hoặc bảo vệ quyền cho người đó đã tự nguyện công nhận mối quan hệ cha mẹ và con đó) thì chủ tịch
ủy ban nhân cấp có thẩm quyền kí quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con mà không cần phải được toà án công nhận
- Trường hợp có tranh chấp về việc nhận cha, mẹ, con sẽ do toà án giải quyết, khi có phán quyết xác định cha, mẹ, con của toà án
có hiệu lực pháp luật, các đương sự yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng kí vào sổ hộ tịch theo thủ tục chung./
(1).Xem: Nguyễn Văn Cừ, “Một số suy nghĩ về nguyên
tắc xác định cha, mẹ và con ( trong giá thú) theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học số 5/1999
(2).Xem: Nguyễn Văn Cừ, “Một số vấn đề về xác định
cha, mẹ và con ngoài giá thú theo Luật HN&GĐ Việt Nam”, Tạp chí luật học số 1/2002
(3).Xem: Điều 31 Luật HN&GĐ năm 1986; Điều 65 Luật HN&GĐ năm 2000
(4).Xem: Điều 638 Bộ luật dân sự
(5).Xem: Các điều 17, 18, 19, 20, 21 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng kí hộ tịch