1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Vấn đề hiệu lực của giao dịch thương mại của Ngân hàng thương mại " doc

8 299 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 170,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lập, bằng cách hoàn thiện các thủ tục uỷ quyền theo quy định của pháp luật thì về nguyên tắc, ngân hàng thương mại vẫn được xem là hoàn toàn tự nguyện tham gia giao dịch và do đó giao dị

Trang 1

TS NguyÔn V¨n TuyÕn * rong thực tiễn pháp lí ở nước ta, việc

xác định một giao dịch pháp lí nói

chung và giao dịch thương mại của ngân

hàng thương mại nói riêng có hiệu lực hay

không luôn là vấn đề phức tạp và thường gây

nhiều tranh luận Điều này có liên quan trực

tiếp đến lợi ích chung của xã hội cũng như

lợi ích riêng của các bên tham gia vào giao

dịch mà Nhà nước là người có sứ mệnh phải

bảo vệ Vì lẽ đó, việc làm rõ vấn đề hiệu lực

của giao dịch pháp lí nói chung và giao dịch

thương mại của ngân hàng nói riêng, thiết

nghĩ cũng nên xem là việc làm hữu ích cả về

phương diện lí luận cũng như thực tiễn

Bài viết này xin trao đổi một vài ý kiến

xung quanh vấn đề hiệu lực của giao dịch

thương mại của ngân hàng thương mại với tính

cách là loại hình giao dịch dân sự đặc thù phát

sinh trong đời sống pháp lí ở nước ta cũng như

ở nhiều nước khác trên thế giới

1 Các điều kiện có hiệu lực của giao

dịch thương mại của ngân hàng thương mại

Hiệu lực pháp lí của giao dịch nói chung

và giao dịch thương mại của ngân hàng

thương mại nói riêng, thực chất là sự thừa

nhận của Nhà nước về những hệ quả pháp lí

phát sinh bởi hành vi giao dịch của ngân hàng

thương mại đối với khách hàng Việc thừa

nhận hiệu lực của một giao dịch pháp lí được

Nhà nước thực hiện bằng cách quy định các

điều kiện có hiệu lực của giao dịch và các

nguyên tắc xác định hiệu lực của giao dịch

đó Ở nước ta, các điều kiện này được quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 và đương nhiên chúng được áp dụng chung cho mọi giao dịch, trong đó có giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại

Theo suy nghĩ của chúng tôi, để nhận thức đúng về bản chất, nội dung của mỗi điều kiện có hiệu lực và từ đó có cách thức áp dụng chính xác các điều kiện này đối với giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại, cần lưu ý đến những vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về điều kiện “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” Với tính cách là một chủ thể nhân tạo trong đời sống pháp luật, pháp nhân ngân hàng thương mại cũng có năng lực hưởng quyền và năng lực thực hiện các quyền (năng lực hành vi) giống như mọi pháp nhân khác Tuy pháp luật thực định của nước ta không quy định rõ thế nào là năng lực hành vi dân sự của ngân hàng thương mại nhưng về lí thuyết có thể hiểu đó chính là khả năng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ngân hàng thương mại thông qua người đại diện hợp pháp của nó Khả năng này (năng lực hành vi dân sự của ngân hàng thương mại) được xác định bởi hai yếu tố cơ bản sau:

- Tư cách pháp nhân của ngân hàng thương mại

Sở dĩ phải coi tư cách pháp nhân là yếu

T

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

tố đầu tiên hợp thành năng lực hành vi dân

sự của ngân hàng thương mại là bởi vì,

giống như bất kì pháp nhân nào, ngân hàng

thương mại chỉ có khả năng thực hiện được

các quyền, nghĩa vụ pháp lí của mình (nghĩa

là chỉ có năng lực hành vi) khi nó có đầy đủ

các điều kiện của một pháp nhân (được thành

lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có

tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài

sản đó; nhân danh mình trong các quan hệ

pháp luật) Nói như vậy có nghĩa, chỉ khi nào

ngân hàng thương mại được Nhà nước công

nhận là một pháp nhân thì khi đó nó mới

được Nhà nước thừa nhận là có năng lực chủ

thể (bao gồm năng lực hưởng quyền và năng

lực thực hiện quyền - năng lực hành vi) Đối

với pháp nhân ngân hàng thương mại, tư

cách pháp nhân được xác định dựa trên hai

bằng chứng có ý nghĩa quyết định là giấy

phép thành lập - hoạt động ngân hàng và

giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh do các

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cấp

Nếu thiếu một trong hai bằng chứng này, có

thể xem như ngân hàng thương mại chưa có

năng lực hành vi dân sự theo đúng nghĩa

- Năng lực và thẩm quyền đại diện của người

đại diện hợp pháp cho ngân hàng thương mại

Sở dĩ phải coi năng lực và thẩm quyền

đại diện của người đại diện hợp pháp cho

ngân hàng thương mại là yếu tố hợp thành

năng lực hành vi dân sự của ngân hàng

thương mại là bởi vì, về nguyên tắc ngân

hàng thương mại chỉ có thể thực hiện các

quyền, nghĩa vụ của nó thông qua các thể

nhân có tư cách là người đại diện hợp pháp

cho nó Từ quan niệm này, có thể khẳng định

nếu thể nhân là người đại diện hợp pháp cho

ngân hàng thương mại không có năng lực tiếp nhận quyền và thực hiện các quyền đó thay cho và nhân danh ngân hàng thương mại thì coi như ngân hàng thương mại đã không có khả năng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ pháp luật với chủ thể khác (nghĩa là không có năng lực hành vi) Mặt khác, cũng có thể xem như giao dịch thương mại của ngân hàng đã vi phạm điều kiện này khi có bằng chứng chứng minh rằng người xưng danh đại diện của ngân hàng thương mại không có thẩm quyền đại diện ngân hàng để xác lập và thực hiện giao dịch với khách hàng

Thứ hai, về điều kiện “mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã hội” Đây là điều kiện được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi công, xét trong mối quan hệ tương hỗ với quyền lợi tư của các bên giao dịch Đối với các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại, mục đích và nội dung giao dịch không chỉ phản ánh lợi ích của các bên mà còn bị chi phối bởi chính các lợi ích đó Mục đích của giao dịch thương mại giữa ngân hàng và khách hàng sẽ bị coi là trái pháp luật và đạo đức xã hội khi giao dịch đó được các bên xác lập nhằm vi phạm các quy tắc pháp lí đã được Nhà nước xây dựng để bảo vệ quyền lợi chung hoặc nhằm xâm hại các giá trị đạo đức đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận

Ví dụ, nếu ngân hàng và khách hàng giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi là để giúp cho khách hàng thực hiện hành vi “rửa tiền” đối với nguồn thu nhập do phạm pháp mà có thì giao dịch này được xem là có mục đích trái pháp luật Còn nội dung của giao dịch

Trang 3

thương mại ngân hàng sẽ bị coi là trái pháp

luật và đạo đức xã hội khi các điều khoản

được cam kết bởi ngân hàng và khách hàng

đã vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc

vi phạm các chuẩn mực đạo đức đã được

Nhà nước thừa nhận Ví dụ, Ngân hàng A kí

kết hợp đồng tín dụng để cho vay đối với

khách hàng là con đẻ của Tổng giám đốc

ngân hàng A Giao dịch này có nội dung vi

phạm điểm c khoản 1 Điều 77 Luật các tổ

chức tín dụng nên về nguyên tắc giao dịch sẽ

đương nhiên vô hiệu ngay từ khi xác lập

Thứ ba, về điều kiện “người tham gia

giao dịch hoàn toàn tự nguyện” Điều kiện

này liên quan mật thiết với điều kiện về năng

lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia giao

dịch Chỉ khi nào xác định rõ chủ thể giao

dịch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì

việc xác định tính tự nguyện và tự do ý chí

của chủ thể đó mới chính xác và khoa học

Đối với chủ thể giao dịch là pháp nhân ngân

hàng thương mại, việc xác định tính tự

nguyện và tự do ý chí có phần khác biệt và

phức tạp hơn so với chủ thể giao dịch là thể

nhân Điều này thể hiện ở chỗ, ý chí của

pháp nhân ngân hàng thương mại thực chất

là ý chí tập thể của các thành viên pháp nhân

và ý chí này thường được thể hiện thông qua

các quyết định của tập thể thành viên pháp

nhân hoặc thể hiện thông qua hành vi của

những người đại diện hợp pháp cho pháp

nhân ngân hàng thương mại

Có thể lưu ý đến hai tiêu chí cơ bản để

xác định mức độ tự nguyện của ngân hàng

thương mại khi xác lập giao dịch với khách

hàng, đó là:

- Mục đích và nội dung của giao dịch

phải phù hợp với mục đích và chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại như đã

được ghi trong điều lệ của ngân hàng

Cơ sở khoa học của việc đưa ra tiêu chí này là, xét về bản chất, ngân hàng thương mại được thành lập ra chính là nhằm thực hiện các mục đích và chức năng hoạt động như đã được ghi trong điều lệ của ngân hàng

Vì vậy, nếu những giao dịch do ngân hàng

đó xác lập có mục đích và nội dung phù hợp với mục đích, tôn chỉ, chức năng hoạt động của ngân hàng thì mặc nhiên có thể coi đây

là một trong những điều kiện cần có để khẳng định giao dịch đó được xác lập theo ý chí đích thực của ngân hàng

- Hành vi xử sự của người đại diện cho ngân hàng thương mại khi xác lập giao dịch phải phù hợp với phạm vi thẩm quyền đại diện

Sở dĩ phải dựa vào tiêu chí này là bởi vì,

ý chí thực sự của ngân hàng thương mại về việc xác lập và thực hiện một giao dịch cụ thể thường được thể hiện tập trung và rõ nét nhất

ở các văn bản xác định phạm vi thẩm quyền đại diện cho những người đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại Do vậy, nếu người đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại hành xử hoàn toàn phù hợp với phạm vi thẩm quyền đại diện thì có thể xem như giao dịch đó được xác lập, thực hiện phù hợp với ý chí thực của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong thực tiễn giao dịch, có những trường hợp mặc dù người đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại hành xử không phù hợp với phạm vi thẩm quyền đại diện nhưng sau đó chính ngân hàng thương mại lại chấp nhận ràng buộc với giao dịch do người này xác

Trang 4

lập, bằng cách hoàn thiện các thủ tục uỷ

quyền theo quy định của pháp luật thì về

nguyên tắc, ngân hàng thương mại vẫn được

xem là hoàn toàn tự nguyện tham gia giao

dịch và do đó giao dịch vẫn có hiệu lực ràng

buộc đối với ngân hàng thương mại

Thứ tư, về điều kiện “hình thức của giao

dịch” Theo Bộ luật dân sự hiện hành (1995),

hình thức của giao dịch dân sự phải phù hợp

với quy định của pháp luật thì giao dịch mới

có hiệu lực Trong khi đó, Bộ luật dân sự năm

2005 lại quy định rằng “hình thức giao dịch

dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch

trong trường hợp pháp luật có quy định” Rõ

ràng, quy định mới này của Bộ luật dân sự

năm 2005 nhằm hướng tới mục tiêu nới lỏng

các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

trong thời đại kinh tế thị trường, nhất là điều

kiện về hình thức của giao dịch.(1) Đối với các

giao dịch dân sự mang tính đặc thù như giao

dịch thương mại của ngân hàng thương mại,

vấn đề hình thức của giao dịch có ý nghĩa

đặc biệt quan trọng, bởi lẽ loại giao dịch này

cần được pháp luật quy định chặt chẽ về mặt

hình thức nhằm ngăn ngừa các rủi ro pháp lí

cho các bên trong quá trình xác lập và thực

hiện giao dịch

Xuất phát từ yêu cầu này của thực tiễn

giao dịch ngân hàng, pháp luật đòi hỏi hầu

hết các giao dịch loại này phải được xác lập

dưới hình thức văn bản Theo tập quán giao

dịch ngân hàng, khái niệm “văn bản giao

dịch” trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng

thường được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm

các văn bản, tài liệu giao dịch viết trên giấy

và văn bản, tài liệu giao dịch thể hiện trên

các phương tiện điện tử như fax, e-mail, điện

tín hay các thông điệp điện tử khác… Quan điểm này cũng đã được thừa nhận trong khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2005 Việc Nhà nước chấp nhận rộng rãi các hình thức giao dịch thương mại của ngân hàng (nhất là giao dịch thương mại của ngân hàng dưới hình thức điện tử) sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các giao dịch thương mại ngân hàng phát triển Đến lượt mình, sự phát triển mạnh

mẽ của các giao dịch thương mại ngân hàng

sẽ là tiền đề thuận lợi cho việc đẩy nhanh tốc

độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đồng thời đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2 Sự vô hiệu của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại và các nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu

Trên nguyên tắc, khi một giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại không thoả mãn một trong số các điều kiện

có hiệu lực do pháp luật quy định thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu và sự vô hiệu này,

về lí thuyết có thể được nhìn nhận là ở trạng thái tuyệt đối (đương nhiên vô hiệu) hoặc tương đối (có thể vô hiệu)

Trong khoa học pháp lí, việc xác định trạng thái vô hiệu (tuyệt đối hoặc tương đối) của các giao dịch pháp lí nói chung và giao dịch thương mại của ngân hàng nói riêng thường dựa vào nguyên tắc cơ bản là: Nếu giao dịch được xác lập nhưng vi phạm những quy tắc pháp lí có mục đích bảo vệ lợi ích công hay trật tự công thì hậu quả kéo

theo là giao dịch đó đương nhiên vô hiệu

ngay từ khi xác lập (vô hiệu tuyệt đối) và bất

kì ai quan tâm đến lợi ích chung đều có thể

Trang 5

yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu Ngược lại,

nếu giao dịch được xác lập nhưng chỉ vi

phạm các quy tắc pháp lí có mục đích bảo vệ

lợi ích tư hay quyền lợi tư của các bên tham

gia vào giao dịch thì hậu quả kéo theo là

giao dịch đó có thể bị coi là vô hiệu (vô hiệu

tương đối) và chỉ những người có quyền lợi

bị xâm hại (bao gồm các bên của giao dịch

hoặc người thứ ba không tham gia vào giao

dịch nhưng có quyền lợi liên quan) mới có

quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô

hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình Khi

người ta nói một giao dịch bị vô hiệu tương

đối hay tuyệt đối, điều đó không có nghĩa

rằng giao dịch đó bất hợp pháp nhiều hay ít

mà chỉ có nghĩa là xác định quyền lợi tương

tranh giữa trật tự cộng và lợi ích tư, tuỳ theo

bản chất của quy tắc pháp lí mà sự vi phạm

quy tắc đó đã khiến cho giao dịch vô hiệu.(2)

Trong pháp luật thực định của nước ta,

tuy các nhà làm luật không quy định rõ thế

nào là giao dịch vô hiệu tương đối và giao

dịch vô hiệu tuyệt đối nhưng Bộ luật dân sự

năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 đã thể

hiện rõ quan điểm bảo vệ một cách khách

quan, công bằng quyền lợi chung của cộng

đồng xã hội cũng như quyền lợi riêng của các

bên tham gia vào giao dịch Thực tế cho thấy

việc phân biệt giữa giao dịch vô hiệu tuyệt

đối và giao dịch vô hiệu tương đối đã từng

có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đặc biệt

là trong việc xác định hiệu lực của các giao

dịch pháp lí trong điều kiện nền kinh tế thị

trường với yêu cầu tôn trọng tối đa quyền tự

định đoạt của các bên tham gia vào giao dịch

Vậy, khi giao dịch thương mại của ngân

hàng thương mại bị vô hiệu (tương đối hay

tuyệt đối) thì nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu đối với các giao dịch đó là như thế nào? Nhằm bảo vệ sự ổn định, tính an toàn của các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường, Nhà nước có những quy định khác nhau về cơ chế giải quyết hậu quả vô hiệu đối với các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Sự khác nhau này khởi phát từ nguyên tắc chung là cần tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tham gia vào giao dịch và Nhà nước chỉ xem xét để tuyên

bố giao dịch vô hiệu khi các bên có yêu cầu hoặc khi giao dịch được xác lập nhưng vi phạm các quy tắc pháp lí nhằm bảo vệ lợi ích chung và trật tự công Để việc giải quyết hậu quả vô hiệu của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại được khách quan, chính xác và đảm bảo tính khoa học, có lẽ cần xuất phát từ quan điểm phân biệt giữa giao dịch vô hiệu tuyệt đối và giao dịch vô hiệu tương đối làm tiền đề Cụ thể là:

Thứ nhất, nếu giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại được xác lập nhưng

vi phạm các quy tắc pháp lí nhằm bảo vệ lợi ích công (bao gồm: Giao dịch có nội dung và mục đích trái pháp luật hay trái đạo đức xã hội; giao dịch được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc được xác lập không nhằm mục đích tạo ra các quyền, nghĩa vụ cho các bên…) thì về phương diện lí thuyết,

có thể coi là trường hợp vô hiệu tuyệt đối

Để xử lí thoả đáng và hợp lí đối với trường hợp này, chúng tôi bày tỏ sự đồng tình với quan điểm khoa học của một số tác giả(3) cho rằng cần quán triệt các quan điểm có tính nguyên tắc như sau:

Trang 6

- Giao dịch thương mại của ngân hàng

thương mại bị vô hiệu tuyệt đối sẽ không

làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên

ngay từ thời điểm xác lập giao dịch Các bên

không thể có lựa chọn nào khác ngoài việc

phải khôi phục lại tình trạng ban đầu như

trước khi xác lập giao dịch

- Bất kì ai là người quan tâm (thường là

những chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ liên

quan) đến giao dịch thương mại của ngân

hàng thương mại đều có thể yêu cầu toà án

tuyên bố giao dịch thương mại của ngân

hàng thương mại bị vô hiệu

- Thời hạn để yêu cầu toà án tuyên bố

giao dịch thương mại của ngân hàng thương

mại vô hiệu là không bị hạn chế

- Phán quyết của toà án chỉ là sự xác

nhận một tình trạng pháp lí đã tồn tại trước

đó của quan hệ giao dịch - đó là tình trạng

giao dịch không có hiệu lực pháp lí

Thứ hai, những giao dịch thương mại của

ngân hàng thương mại được xác lập nhưng vi

phạm các quy tắc pháp lí nhằm bảo vệ lợi ích

riêng của các bên (bao gồm: Giao dịch được

xác lập do người không có năng lực pháp luật

và năng lực hành vi; giao dịch được xác lập

không có sự tự nguyện của người tham gia

giao dịch hoặc giao dịch không tuân thủ hình

thức do pháp luật quy định) thì về phương

diện lí thuyết, có thể xem là giao dịch vô hiệu

tương đối Thiết nghĩ, giải pháp hợp lí cho

trường hợp này là Nhà nước phải tôn trọng

quyền tự định đoạt của các bên tham gia vào

giao dịch mà quán triệt các quan điểm xử lí

mang tính nguyên tắc như sau:

- Giao dịch thương mại của ngân hàng

thương mại bị vô hiệu tương đối là giao dịch

ở trong tình trạng bấp bênh về hiệu lực pháp

lí trong thời hạn yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu.(4) Điều này có nghĩa sự vô hiệu của giao dịch là không chắc chắn và các bên có hai khả năng lựa chọn: a) Tìm cách khắc phục các nguyên nhân làm cho giao dịch

vô hiệu - gọi là hoàn thiện giao dịch (ví dụ,

sửa chữa các sai sót về thủ tục công chứng, thủ tục uỷ quyền, phục hồi lợi ích cho bên đối tác bị thiệt hại, thay đổi nội dung giao dịch cho phù hợp với ý chí của cả hai bên…) để làm cho giao dịch hoàn toàn có hiệu lực; hoặc b) Yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp các bên lựa chọn giải pháp hoàn thiện giao dịch thì mặc nhiên coi như đồng nghĩa với việc họ từ bỏ quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu

- Chủ thể có quyền yêu cầu toà án tuyên

bố giao dịch vô hiệu chính là ngân hàng thương mại và khách hàng của họ Tuy nhiên,

để tránh nguy cơ khách hàng cố ý “trục lợi” đối với ngân hàng bằng thủ đoạn yêu cầu toà

án tuyên bố giao dịch ngân hàng vô hiệu trong khi chính khách hàng có lỗi thì cần chấp nhận nguyên tắc: Chỉ bên tham gia vào giao dịch có quyền lợi bị xâm hại hoặc người thứ ba có liên quan đến quyền lợi bị xâm hại mới có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch thương mại ngân hàng vô hiệu; còn bên

có lỗi trong việc làm cho giao dịch có nguy

cơ vô hiệu thì không có quyền này.(5)

- Thời hạn yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu là hạn chế Theo quy định của

Bộ luật dân sự năm 1995, thời hạn này là 1 năm, còn Bộ luật dân sự năm 2005 lại quy định thời hạn này là 2 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập.(6) Nếu quá thời hạn này mà người có quyền yêu cầu đã không yêu cầu toà

Trang 7

án tuyên bố giao dịch vô hiệu thì giao dịch sẽ

không thể bị huỷ bỏ sau đó nhưng không vì

thế mà giao dịch đương nhiên được coi là có

hiệu lực trở lại, trừ trường hợp các bên đã tiến

hành khôi phục lại những điều kiện cần và đủ

để cho nó có hiệu lực

- Phán quyết của toà án tuyên bố giao

dịch vô hiệu là sự kiện pháp lí làm chấm dứt

hoàn toàn tình trạng bấp bênh về hiệu lực

pháp lí của giao dịch, theo đó giao dịch

chính thức bị huỷ bỏ và không làm phát sinh

quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ

thời điểm giao dịch được xác lập

Thiết nghĩ, các quan điểm mang tính

nguyên tắc trên đây hoàn toàn có thể áp dụng

chung cho việc xử lí hậu quả vô hiệu của các

loại hình giao dịch pháp lí trong đời sống xã

hội hiện đại, trong đó có giao dịch thương

mại của ngân hàng thương mại Tuy nhiên,

thực tiễn xử lí hậu quả vô hiệu của các giao

dịch thương mại của ngân hàng thương mại

trong thời gian qua ở nước ta cho thấy khi áp

dụng các nguyên tắc này để xử lí giao dịch

thương mại của ngân hàng bị vô hiệu, cần

lưu ý tới một số nét đặc thù sau đây:

Một là, việc toà án tuyên bố vô hiệu đối

với các giao dịch thương mại của ngân hàng

có thể gây ra các hậu quả bất lợi cho phía

ngân hàng cũng như bất lợi cho cả khách

hàng của họ Sự bất lợi này thể hiện ở chỗ,

khi giao dịch thương mại của ngân hàng bị

tuyên bố vô hiệu, không những các bên bắt

buộc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu

như trước khi xác lập giao dịch mà về phía

ngân hàng, họ không thể đòi khách hàng phải

trả lãi cho mình (trong thực tế, có nhiều

trường hợp khoản tiền lãi là rất đáng kể) Còn

về phía khách hàng, họ cũng không được quyền tiếp tục sử dụng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng để hoàn thành kế hoạch kinh doanh hay dự án đầu tư đang thực hiện dở dang và do đó bắt buộc họ phải đi tìm nguồn tài trợ khác mà đôi khi việc làm này không hề

dễ dàng và đơn giản Ngoài ra, việc tuyên bố

vô hiệu đối với các giao dịch thương mại của ngân hàng còn gây hậu quả tổn hại về uy tín của ngân hàng và khách hàng trong kinh doanh Đặc biệt, hậu quả lớn hơn là sự vô hiệu của các giao dịch thương mại ngân hàng đồng nghĩa với việc làm “đóng băng” sự luân chuyển của các dòng vốn tiền tệ trong nền kinh tế Điều này sẽ bất lợi cho việc phát triển nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay ở nước ta Xuất phát từ tính chất đặc thù như vậy về hậu quả của việc tuyên bố giao dịch thương mại ngân hàng vô hiệu, nên chăng các cơ quan có thẩm quyền tuyên bố giao dịch vô hiệu cần đặc biệt lưu ý nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên giao dịch để từ đó có giải pháp can thiệp hợp

lí vào việc xác định hiệu lực của các giao dịch thương mại của ngân hàng Các giải pháp này

có thể là: a) Nếu giao dịch thương mại của ngân hàng được xác lập mà vi phạm các điều kiện có hiệu lực như: Mục đích, nội dung của giao dịch trái pháp luật và đạo đức xã hội hoặc hình thức của giao dịch không phù hợp pháp luật thì toà án có thể vì mục tiêu bảo vệ lợi ích chung mà tuyên bố vô hiệu ngay đối với giao dịch đó chứ không cần phải xác định xem ý chí của các bên giao dịch có mong muốn và yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu hay không; b) Nếu giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại được xác lập mà

Trang 8

vi phạm các điều kiện có hiệu lực như chủ thể

giao dịch không có năng lực hành vi hoặc

người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự

nguyện thì toà án chỉ có thể xem xét để tuyên

bố vô hiệu đối với giao dịch đó khi có yêu

cầu của bên giao dịch có quyền lợi bị xâm hại

hoặc người thứ ba có quyền lợi bị xâm hại

Hai là, đối với các giao dịch thương mại

của ngân hàng, nguy cơ lừa đảo và trục lợi

bất chính từ việc thiết lập và thực hiện giao

dịch là rất lớn Do vậy, việc toà án tuyên bố

vô hiệu đối với các giao dịch thương mại của

ngân hàng có thể “vô tình” tạo điều kiện cho

bên có ý định trục lợi hay lừa đảo, thực hiện

được ý định đó một cách dễ dàng và thuận

lợi Ví dụ, A có ý định trục lợi đối với ngân

hàng, đã tìm cách tạo ra chứng cứ về việc vi

phạm các điều kiện có hiệu lực trong quá

trình giao kết hợp đồng tín dụng, chẳng hạn

như việc cố tình giả mạo chữ kí của những

người đồng sở hữu chủ tài sản bảo đảm tiền

vay; cố ý không thực hiện việc công chứng

hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc không thực

hiện thủ tục uỷ quyền theo luật định… Sau

khi đã được ngân hàng giải ngân, A dùng

những chứng cứ này làm căn cứ yêu cầu toà

án tuyên bố hợp đồng tín dụng vô hiệu nhằm

mục đích chiếm dụng vốn của ngân hàng

trong thời hạn nhất định để sử dụng cho

công việc riêng của mình và tránh không

phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng Từ ví dụ

này, có thể nhận định rằng nếu toà án tuyên

bố hợp đồng tín dụng vô hiệu thì người vay

đã “đắc lợi” một cách vô căn cứ, còn bên

cho vay là ngân hàng thì phải gánh chịu thiệt

hại do bị khách hàng vay chiếm dụng vốn và

không trả lãi tiền vay cho khoảng thời gian

sử dụng vốn của ngân hàng Có lẽ, giải pháp

xử lí thích hợp cho tình huống này là: Khi có bằng chứng chứng minh một bên tham gia giao dịch có lỗi trong việc gây ra hậu quả vô hiệu cho giao dịch thì toà án phải “truất quyền” yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu đối với chủ thể đó nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên tham gia giao dịch hoặc người thứ ba có quyền lợi bị xâm hại Giải pháp này cần phải được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản định hướng cho việc xử lí hậu quả vô hiệu đối với giao dịch nói chung và giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại nói riêng trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta./

(1).Xem: Khoản 2 Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005

(2).Xem: Nguyễn Mạnh Bách, “Pháp luật về hợp đồng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 75 (3).Xem: - PTS Trần Đình Hảo, “Giao dịch dân sự

và nghĩa vụ dân sự”, Báo cáo chuyên đề của đề tài:

“Những vấn đề lí luận cơ bản về Bộ luật dân sự Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Hà Nội 1997, tr 87

- Trần Hữu Huỳnh, “Một vài vấn đề về hợp đồng vô hiệu trong pháp luật Việt Nam”, tài liệu Hội

thảo về việc xử lí hợp đồng vô hiệu, Báo diễn đàn doanh nghiệp - câu lạc bộ luật gia Việt Đức, 2003 (4) Quan điểm này đã được một số nhà khoa học đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình Xem:

PTS Trần Đình Hảo,“Giao dịch dân sự và nghĩa vụ

dân sự” , Báo cáo chuyên đề của đề tài: “Những vấn

đề lí luận cơ bản về Bộ luật dân sự Việt Nam”, Đề tài

khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Hà Nội 1997, tr 89

(5).Xem: Corinne Renault-Brahinsky, “Đại cương về

pháp luật hợp đồng”, Nhà pháp luật Việt - Pháp, Hà Nội 2002, tr 67

(6) Về vấn đề này, Bộ luật dân sự Pháp quy định thời hạn yêu cầu tuyên huỷ một giao dịch pháp lí vô hiệu tương đối là 5 năm; còn Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan lại quy định thời hạn này là 1 năm kể từ ngày có sự phê chuẩn hoặc 10 năm kể từ ngày hành vi pháp lí (giao dịch) được thực hiện

Ngày đăng: 08/03/2014, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w