Cụ thể, pháp luật đã xác định công đoàn có vai trò rất quan trọng trong: Tổ chức, xây dựng, bổ sung các chính sách việc làm; tổ chức dạy nghề gắn với việc làm; phát triển các tổ chức giớ
Trang 1ths §ç ThÞ Dung *
à tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của
giai cấp công nhân và của người lao
động, công đoàn có vị trí rất quan trọng,
cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi
của cán bộ, công nhân, viên chức và những
người lao động khác, tham gia quản lí nhà
nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và
những người lao động khác xây dựng và bảo
vệ tổ quốc.(1) Từ đó có thể thấy, một trong
những mục đích và cũng là chức năng, nhiệm
vụ cơ bản của tổ chức công đoàn là bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người
lao động Trong bối cảnh nhu cầu giải quyết
việc làm cho người lao động rất lớn hiện nay,
tổ chức công đoàn có vai trò và trách nhiệm
đặc biệt quan trọng và cũng hết sức nặng nề
trong vấn đề giải quyết việc làm cho các
thành viên trong tổ chức của mình
Từ những ghi nhận trong Hiến pháp năm
1992, vai trò của công đoàn trong vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động được quy
định tập trung ở Luật công đoàn(2) và ở
Chương XIII (Chương công đoàn) của Bộ
luật lao động cùng các văn bản hướng dẫn và
các văn bản có liên quan
Nhìn chung qua các văn bản này, Nhà
nước đã quy định một cách đồng bộ và thống
nhất vai trò của công đoàn trong nhiều lĩnh
vực liên quan đến quan hệ lao động, trong đó
có lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
Cụ thể, pháp luật đã xác định công đoàn có vai trò rất quan trọng trong: Tổ chức, xây dựng, bổ sung các chính sách việc làm; tổ chức dạy nghề gắn với việc làm; phát triển các tổ chức giới thiệu việc làm; tổ chức cho người lao động vay vốn để giải quyết việc làm; xuất khẩu lao động; trợ cấp mất việc làm; bảo vệ người lao động khi có nguy cơ bị mất việc làm, khi bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bị tạm đình chỉ công việc, bị sa thải…
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề này, có thể thấy những nội dung hoạt động trong quá trình giải quyết việc làm của công đoàn được thể hiện khác nhau ở các cấp công đoàn Trong đó, những vấn đề xây dựng, bổ sung, sửa đổi các chính sách pháp luật liên quan đến việc làm và giải quyết việc làm; phối hợp với các cơ quan nhà nước, ban, ngành, các đoàn thể và các tổ chức xã hội khác trong vấn đề tìm việc làm
và giải quyết việc làm ở tầm vĩ mô chủ yếu thuộc về vai trò của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và công đoàn các cấp trên của công đoàn cấp cơ sở còn những vấn đề trực tiếp cùng người sử dụng lao động trong việc bảo vệ việc làm cho người lao động ở tại các đơn vị, doanh nghiệp, giáo dục ý thức nâng cao tay nghề, đào tạo lại người lao động để
L
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2họ có đủ trình độ, khả năng giữ được việc
làm trong các doanh nghiệp lại chủ yếu
thuộc về cấp công đoàn cơ sở - nơi công
đoàn gắn bó trực tiếp với người lao động
Bài viết này đề cập vai trò của công đoàn các
cấp đối với vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động
1 Vai trò của Tổng liên đoàn lao động
Việt Nam
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, cơ
quan trung ương của các cấp công đoàn Việt
Nam, có vai trò quan trọng trong việc tham
gia quản lí những vấn đề lao động xã hội nói
chung và vấn đề giải quyết việc làm nói
riêng ở tầm vĩ mô
Theo Điều 111 Hiến pháp năm 1992 và
khoản 1 Điều 4 Luật công đoàn, Chủ tịch
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có quyền
tham dự hội nghị của Chính phủ khi bàn bạc
các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và
lợi ích của người lao động Trong phạm vi
các vấn đề liên quan đó, Tổng liên đoàn lao
động Việt Nam có quyền trình dự án luật,
pháp lệnh ra trước Quốc hội và Hội đồng Nhà
nước (nay là Ủy ban thường vụ Quốc hội),
được tham gia ý kiến với cơ quan, đơn vị, tổ
chức liên quan về các biện pháp giải quyết
việc làm cho người lao động, đào tạo nâng
cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động
Khi thực hiện các biện pháp này, Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam phối hợp với các bộ,
ngành để giải quyết kịp thời các vấn đề phát
sinh trong quá trình thực hiện các chính sách,
chế độ đối với người lao động Khi cần sửa
đổi, bổ sung các chính sách, chế độ thì Tổng
liên đoàn lao động Việt Nam cùng phối hợp
với Thủ tướng Chính phủ để giải quyết
Để nâng cao và phát huy hơn nữa vai trò
của tổ chức công đoàn trong việc tham gia
với Nhà nước về xây dựng và thực hiện các
cơ chế, chủ trương, chính sách quản lí liên quan trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động, ngày 27/8/1994 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 465/TTg ban hành Quy chế về mối quan hệ công tác giữa Chính phủ với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam Bản quy chế này đã xác định cụ thể một số việc về quan hệ phối hợp trong quá trình xử lí các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ có liên quan đến chức năng của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam Trong đó, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam được tham gia đóng góp ý kiến khi Chính phủ chủ trì việc soạn thảo văn bản liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động; được cử người đại diện có thẩm quyền trực tiếp tham gia cùng cơ quan chủ trì; được Chính phủ thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, các chủ trương, chính sách của Nhà nước mới ban hành liên quan đến việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động Đoàn chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có trách nhiệm báo cáo tình hình việc làm, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, công nhân viên chức, người lao động, hoạt động của công đoàn với Chính phủ và khi bàn về các vấn đề này trong các cuộc họp của mình, Đoàn chủ tịch hoặc Ban chấp hành Tổng liên đoàn lao động Việt Nam mời Thủ tướng Chính phủ hoặc các thành viên của Chính phủ đến dự Như vậy, có thể thấy rằng giải quyết việc làm, đảm bảo việc làm cho người lao động là nội dung quan trọng trong các chương trình nghị sự cũng như hội nghị thường xuyên giữa Nhà nước với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam Việc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam được tham gia ý kiến, được mời
Trang 3họp, được trình các chính sách pháp luật về
vấn đề này đã thể hiện sâu sắc vai trò của
công đoàn Khi đại diện của Tổng liên đoàn
lao động Việt Nam cùng tham gia, bàn bạc,
thảo luận, có ý kiến phản biện thì chắc chắn
vấn đề việc làm sẽ được giải quyết thấu đáo
và phù hợp hơn với nguyện vọng chính đáng
của người lao động trong việc tạo mở việc
làm, giữ việc làm Đặc biệt việc phối hợp
chặt chẽ giữa Tổng liên đoàn lao động Việt
Nam với Nhà nước với tư cách là các bên
độc lập, bình đẳng khi cùng tìm kiếm kết quả
ở những vấn đề các bên cùng quan tâm thì
cách giải quyết vấn đề sẽ hiệu quả hơn
Trước nhu cầu giải quyết việc làm rất lớn
của người lao động trong cả nước hiện nay,
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam phải đối
mặt với thực tế này để kịp thời kiến nghị với
Nhà nước sửa đổi, bổ sung các chính sách về
việc làm, giải quyết việc làm cho phù hợp
Để góp phần hạn chế tình trạng thất
nghiệp, giải quyết việc làm ngày càng nhiều
hơn cho người lao động, Điều 156 Bộ luật
lao động (BLLĐ) quy định Tổng liên đoàn
lao động Việt Nam có quyền lập các tổ chức
giới thiệu việc làm, dạy nghề, tương tế, tư vấn
pháp luật Đây là quy định hết sức phù hợp
với tình hình lao động ở nước ta hiện nay, bởi
như chúng ta đã biết thị trường lao động Việt
Nam trong những năm qua diễn biến rất phức
tạp, nhu cầu giải quyết việc làm rất lớn, vì
vậy Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có
quyền lập ra các trung tâm giới thiệu việc
làm, tương tế, tư vấn pháp luật, một mặt vừa
giúp hàng nghìn người lao động đến được
những nơi cần tuyển lao động để có chỗ làm
việc, mặt khác, trực tiếp giúp họ hiểu được
các quy định của pháp luật để trên cơ sở đó
bảo vệ tốt hơn quyền có việc làm của mình
Song song với việc hoạch định các chính sách, chủ trương, xây dựng pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam còn tham gia vào việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện những chủ trương, chính sách này Nhiệm vụ này thể hiện vai trò của công đoàn trong việc đảm bảo cho các quy định được thực thi trong cuộc sống
2 Vai trò của công đoàn cấp trên của cấp cơ sở
Công đoàn cấp trên của cấp cơ sở bao gồm: Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các công đoàn ngành nghề toàn quốc, các công đoàn tổng công ti, công đoàn quận, huyện Đây là cấp công đoàn trung gian giữa Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và công đoàn cơ sở, nó có vai trò quan trọng đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong phạm vi tỉnh, thành phố, phạm vi ngành cũng như phạm vi quận, huyện, tổng công ti của mình
Để đảm bảo việc làm cho người lao động, vai trò của công đoàn cấp trên của cấp
cơ sở cũng thể hiện từ các hoạt động xây dựng các chính sách, chế độ, pháp luật liên quan đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong phạm vi cấp mình đến việc kiểm tra giám sát quá trình thực hiện các quy định đó Điều 7 Luật công đoàn quy
định: "Công đoàn các cấp có quyền tham gia
v ới cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan giải
quy ết việc làm, tổ chức dạy nghề, nâng cao
trình độ nghề nghiệp, văn hoá, khoa học kĩ
thu ật cho người lao động" Trong lĩnh vực
giải quyết việc làm, công đoàn có vai trò trong việc đề ra các biện pháp giải quyết việc làm, đào tạo nâng cao trình độ nghề nghiệp, tổ chức tìm kiếm việc làm Để thực hiện các nội dung này, Điều 156 BLLĐ quy
Trang 4định: “Công đoàn các cấp có quyền lập các
t ổ chức giới thiệu việc làm, học nghề, tương
t ế, tư vấn pháp luật”
Những quy định này trong giai đoạn hiện
nay đã phát huy tích cực trong việc giải quyết
việc làm cho người lao động, giúp đỡ, tư vấn
cho người lao động có đầy đủ kiến thức pháp
luật để bảo vệ việc làm của mình khi tham gia
quan hệ lao động Nhiều liên đoàn lao động
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công
đoàn các ngành, các tổng công ti đã có những
biện pháp nhằm hạn chế sức ép về thiếu việc
làm như tạo mở ngành nghề, mở rộng phạm
vi hoạt động, đẩy mạnh liên doanh, liên kết
với các đơn vị nước ngoài, tham gia đấu thầu
xây dựng các công trình nước ngoài đầu tư
vào Việt Nam, đưa lao động đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài Với sự thành lập
mạng lưới tổ chức giới thiệu việc làm ở khắp
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
các ngành, các tổng công ti, hoạt động này
của công đoàn đã góp phần tích cực vào việc
giải quyết việc làm cho người lao động trong
những năm vừa qua và sẽ càng có vai trò
quan trọng trong quá trình triển khai chiến
lược việc làm trong những năm tới
Việc tổ chức dạy nghề của công đoàn
cấp trên cơ sở tuỳ thuộc vào nhu cầu nhân
lực của từng địa phương, từng ngành trên
toàn quốc Việc dạy nghề được tiến hành đối
với những người chưa có việc làm chính là
đã tạo cơ hội cho họ tự tìm kiếm việc làm
mới; đặc biệt trong các ngành, các tổng công
ti, việc dạy nghề còn giúp những người lao
động giữ được việc làm khi doanh nghiệp
thay đổi cơ cấu, công nghệ
Trên cơ sở những quy định của Quỹ quốc
gia giải quyết việc làm, công đoàn cấp trên
của cấp cơ sở hướng dẫn các công đoàn cơ sở
về việc phối hợp với người sử dụng người lao động trong việc lập hồ sơ vay vốn giải quyết việc làm Cùng với chủ trương giúp đỡ người lao động làm việc tại địa phương, trong ngành nghề, công đoàn cấp trên cơ sở còn phối hợp với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam coi chương trình xuất khẩu lao động là chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động Để thực hiện được chủ trương này, công đoàn cấp trên cơ sở phải có những hoạt động thiết thực phối hợp đồng bộ với các cơ quan, ban, ngành trong địa phương, trong ngành nghề
Bên cạnh đó, một hoạt động không thể thiếu của công đoàn cấp trên của cấp cơ sở là đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật, nhờ đó mà những vướng mắc đã kịp thời được phát hiện và cũng được bàn bạc tháo gỡ Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra giám sát, công đoàn cấp trên của cấp cơ sở tiến hành nhiều khi còn thiếu chủ động và một số cấp công đoàn chưa chú trọng và chưa coi đây là công việc thường xuyên trong hoạt động của tổ chức mình
3 Vai trò của công đoàn cấp cơ sở
Công đoàn cấp cơ sở bao gồm: Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn.(3) Công đoàn cơ
sở được thành lập ở các doanh nghiệp, các hợp tác xã sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; các đơn vị sự nghiệp,
cơ quan nhà nước; các cơ quan của tổ chức chính trị, chính trị xã hội và tổ chức xã hội -nghề nghiệp, có 5 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên quyết định Nghiệp đoàn
là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùng
Trang 5ngành nghề, được thành lập theo địa bàn
hoặc theo đơn vị lao động có 10 đoàn viên
trở lên và được công đoàn cấp trên quyết
định Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn là nơi
gắn bó trực tiếp với người lao động nên có
vai trò hết sức to lớn trong vấn đề giải quyết
việc làm cho người lao động
Ngoài thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
chung của tổ chức công đoàn, công đoàn cấp
cơ sở còn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể
gắn liền với nhu cầu, nguyện vọng của người
lao động trong đơn vị, doanh nghiệp Tuỳ
từng loại doanh nghiệp, đơn vị, hợp tác xã,
cơ quan hành chính sự nghiệp mà vai trò của
công đoàn trong lĩnh vực giải quyết việc làm
được thể hiện thông qua các hoạt động khác
nhau Trong các doanh nghiệp nhà nước,
công đoàn cơ sở có trách nhiệm tham gia với
giám đốc doanh nghiệp giải quyết việc
làm;(4) trong các hợp tác xã, dịch vụ công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công đoàn cơ
sở phối hợp với ban quản trị tổ chức các
phong trào đảm bảo việc làm.(5) Đối với
nghiệp đoàn, do mang tính nghề nghiệp cao,
xuất phát từ nghề nghiệp, bảo vệ nghề
nghiệp nên pháp luật đã quy định nghiệp
đoàn phải đặc biệt chú trọng tới các vấn đề
bảo vệ việc làm, điều kiện hành nghề cũng
như vấn đề đoàn kết, giúp đỡ nhau trong
nghề nghiệp và đời sống của các đoàn viên
Trong phạm vi quyền hạn của mình, công
đoàn cơ sở tham gia với người sử dụng lao
động thảo luận, bàn bạc các chế độ, chính
sách về việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động phù hợp với điều kiện thực tế
của đơn vị Công đoàn cơ sở, bằng nhiều cách
nhằm giúp người lao động nâng cao tay nghề,
đào tạo lại nghề, tạo thêm việc làm mới để họ
có thu nhập, đảm bảo cuộc sống Công đoàn được quyền thảo luận, tham khảo ý kiến khi người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn Điều đó không chỉ giúp người lao động được làm việc, giữ được việc làm
mà còn nhằm nâng cao vai trò và tạo điều kiện để công đoàn thực hiện chức năng bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động Một trong những tiêu chuẩn
để xem xét một tổ chức công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững mạnh là trong tổ chức này công nhân và người lao động có đủ việc làm, các hoạt động của công đoàn góp phần thiết thực trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.(6)
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay đang đưa nước ta từng bước thành một nước công nghiệp Tuy vậy, đây là vấn đề khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, vì do cơ cấu lại nền kinh tế, nên trong từng ngành nghề, đặc biệt trong từng doanh nghiệp sẽ có hiện tượng lao động dôi dư không sắp xếp hết được việc làm, do vậy công đoàn cơ sở phải phối hợp với công đoàn các cấp đề ra những phương án sử dụng lao động hợp lí Trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ theo Điều
17 BLLĐ hoặc khi doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lí hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp theo Điều 31 BLLĐ mà người sử dụng lao động không sử dụng hết
số lao động hiện có, phải cho họ thôi việc thì công đoàn cơ sở có trách nhiệm kiến nghị với người sử dụng lao động lập kế hoạch đào tạo lại, nâng cao trình độ nghề nghiệp cho số lao động có tay nghề, có trình độ văn hoá, có
Trang 6tâm huyết với công việc trong doanh nghiệp
Chủ động bàn bạc với người sử dụng lao
động tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ,
giải quyết việc làm cho những lao động này;
đồng thời xây dựng các dự án nhỏ để vay
vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm và
có kế hoạch sử dụng tốt số vốn vay trong
việc tạo thêm việc làm cho người lao động
Trường hợp người sử dụng lao động đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động theo
điểm a, b, c khoản 1 Điều 38 BLLĐ hay tạm
đình chỉ công việc của người lao động theo
Điều 92 BLLĐ thì công đoàn cơ sở phải có ý
kiến kịp thời bảo vệ việc làm cho người lao
động Trong trường hợp không thống nhất ý
kiến với người sử dụng lao động thì ban
chấp hành công đoàn cơ sở có quyền báo cáo
với công đoàn cấp trên trực tiếp và nếu vẫn
không nhất trí với quyết định của người sử
dụng lao động thì có quyền yêu cầu giải
quyết tranh chấp lao động theo trình tự pháp
luật quy định để kiên quyết bảo vệ việc làm
cùng các quyền lợi khác cho người lao động
Việc pháp luật quy định cho ban chấp
hành công đoàn có quyền trao đổi nhất trí của
với người sử dụng lao động trong các trường
hợp trên là có tính bắt buộc Điều đó cho thấy
công đoàn cơ sở có vai trò rất lớn trong vấn
đề bảo vệ việc làm cho người lao động đặc biệt
trong trường hợp họ có nguy cơ bị mất việc
làm Với tư cách là người đại diện và bảo vệ
quyền lợi cho người lao động, ý kiến của công
đoàn không chỉ mang tính chất tư vấn giúp
người sử dụng lao động cân nhắc trước khi ra
quyết định mà còn góp phần kiên quyết bảo
vệ việc làm chính đáng cho người lao động
Ngoài ra, pháp luật còn quy định: “Trong
tr ường hợp quyết định buộc thôi việc, cho
thôi vi ệc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động
tr ước thời hạn và thuyên chuyển công tác đối với uỷ viên ban chấp hành công đoàn thì
ph ải được ban chấp hành cùng cấp thoả
thu ận, đối với chủ tịch ban chấp hành công đoàn thì phải được công đoàn cấp trên trực
ti ếp thoả thuận” (khoản 4 Điều 15 Luật công đoàn) và “trong trường hợp người bị sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là
u ỷ viên của ban chấp hành công đoàn cơ sở
thì ph ải có sự thoả thuận của ban chấp hành
công đoàn cơ sở, nếu là chủ tịch ban chấp
hành công đoàn cơ sở thì phải có sự thoả
thu ận của tổ chức công đoàn cấp trên trực
ti ếp” (khoản 4 Điều 155 BLLĐ) Đây là quy
định thể hiện rõ rệt sự bảo vệ việc làm cho cán bộ công đoàn các cấp trong đó đặc biệt
là công đoàn cấp cơ sở, giúp cho cán bộ công đoàn yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ việc làm nói riêng cũng như bảo vệ quyền và lợi ích nói chung cho người lao động Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể, thống nhất và đầy đủ trách nhiệm cũng như vai trò của tổ chức công đoàn trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Mặc dù trong những năm qua, với rất nhiều cố gắng và nỗ lực khắc phục khó khăn
về nhiều mặt, công đoàn các cấp đã đạt được những thành tựu quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động song bên cạnh những kết quả đã đạt được, công đoàn cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định Đó là việc tham gia các chương trình giải quyết việc làm, các chính sách về cho vay vốn tạo việc làm còn chưa phù hợp Bởi thực tế, nhu cầu vay vốn của người lao động rất lớn, trong khi đó nguồn vốn mà công
Trang 7đoàn được giao chỉ đáp ứng được khoảng
10% nhu cầu Tại nhiều doanh nghiệp, hiện
vẫn chưa lập quỹ dự phòng mất việc làm cho
người lao động Các tổ chức giới thiệu việc
làm cũng còn nhiều bất cập trong việc thực
hiện nhiệm vụ của mình, tình trạng thiếu cơ
sở vật chất, thiếu cán bộ có trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và kinh nghiệm là phổ biến
Vấn đề đào tạo lại khi người lao động bị mất
việc làm chưa được các doanh ngiệp thực
hiện triệt để Các cơ sở dạy nghề còn thiếu cơ
sở vật chất kĩ thuật, chưa có máy móc, thiết bị
thực hành phù hợp và chưa thực sự gắn với
việc làm theo nhu cầu của thị trường
Vai trò giám sát việc thực hiện hoạt động
giải quyết việc làm của công đoàn trong thực
tế còn thiếu chủ động và chưa đáp ứng được
theo những đòi hỏi của người lao động
Công đoàn chưa chủ động xây dựng chương
trình phối hợp với các cơ quan nhà nước, các
tổ chức đoàn thể khác trong việc thực hiện
tốt vai trò của mình Do vậy, vai trò và hoạt
động của công đoàn có lúc còn hình thức và
nặng về công tác phong trào, nội dung hoạt
động chưa có nhiều sáng tạo trong phương
thức tiếp cận việc làm cho người lao động
với các đơn vị, doanh nghiệp có nhu cầu
tuyển dụng Trong các bản báo cáo tại các
Đại hội đại biểu công đoàn toàn quốc lần thứ
VIII, IX đã chỉ ra những tồn tại này Cho
nên, trong thời gian trước mắt và lâu dài, để
nâng cao và phát huy được tối đa vai trò
cũng như năng lực, công đoàn trong vấn đề
giải quyết việc làm cho người lao động, cần
phải đặc biệt chú trọng tới những vấn đề sau:
Thứ nhất, về sự phối kết hợp giữa tổ
chức công đoàn với các cơ quan nhà nước
trong vấn đề giải quyết việc làm cho người
lao động Với tư cách là một bên độc lập trong mối quan hệ cộng tác với Chính phủ, với các cơ quan nhà nước, bộ, ngành ở trung ương và địa phương, tổ chức công đoàn các cấp phải chủ động hơn nữa trong việc đề xuất việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi, khuyến khích và giải quyết việc làm, trong đó cụ thể chính sách về hỗ trợ tài chính cho các hoạt động công đoàn; tăng nguồn vốn vay cho công đoàn; quy định cụ thể về sự hỗ trợ và giúp đỡ về công nghệ, thông tin, về đào tạo và đào tạo lại công nhân kĩ thuật, cán bộ quản lí… Cùng với cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội khác, tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của xã hội cũng như định hướng về việc học tập, lựa chọn ngành nghề phù hợp với khả năng, điều kiện của người lao động Phối hợp chặt chẽ trong việc giám sát quá trình thực hiện các chế độ, chính sách; kiến nghị kịp thời với Nhà nước về các vấn đề phát sinh, vướng mắc trong khi thực hiện nhằm nâng cao vị thế, vai trò của công đoàn cũng như đảm bảo quyền có việc làm, giữ được việc làm cho người lao động
Về phía Nhà nước, cùng với việc định ra chỉ tiêu, kế hoạch việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, nên giao chỉ tiêu giải quyết việc làm cụ thể cho công đoàn Thường xuyên cùng tổ chức công đoàn họp bàn, rút kinh nghiệm cũng như đổi mới các hình thức, phương pháp, nội dung hoạt động của công đoàn các cấp; hỗ trợ tài chính cho các hoạt động này; tăng cường vốn vay cho công đoàn; củng cố và đẩy mạnh hoạt động giới thiệu việc làm, gắn giải quyết việc làm với công tác đào tạo, dạy nghề để thị trường lao
Trang 8động luôn đi đúng hướng đáp ứng nhu cầu
và mong muốn của cả hai phía người lao
động và chủ sử dụng lao động; tiếp tục và đa
dạng hóa các hoạt động phát triển thị trường
lao động, đặc biệt hình thức tổ chức hội chợ
việc làm Các hoạt động phối kết hợp giữa
nhà nước và công đoàn trong vấn đề giải quyết
việc làm cho người lao động phải được xây
dựng thành chương trình, kế hoạch và mỗi
bên coi đó là nhiệm vụ thực hiện thường
xuyên, lâu dài trong hoạt động của mình
Th ứ hai, về đổi mới hình thức, phương pháp,
nội dung hoạt động của công đoàn các cấp
Đối với Tổng liên đoàn lao động Việt
Nam và công đoàn cấp trên của cấp cơ sở,
các cấp công đoàn này cần có sự phối hợp
chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện chế
độ, chính sách, pháp luật về giải quyết việc
làm Định chỉ tiêu cụ thể trong phương
hướng giải quyết việc làm hàng năm, hàng
nhiệm kì phù hợp và phấn đấu tối đa để thực
hiện được chỉ tiêu đó Tiến hành các hoạt
động điều tra, khảo sát về tình hình lao động
trong phạm vi cả nước và địa phương, nắm
được số lao động không có việc làm, thiếu
việc làm để có kiến nghị đúng đắn với cơ
quan có thẩm quyền Công đoàn các cấp có
kế hoạch vay vốn, phân bổ kịp thời và hợp lí
vốn vay cũng như đề ra phương án sử dụng
tốt số vốn vay giúp cho mục đích tạo chỗ
việc làm mới đạt được hiệu quả, ổn định, lâu
dài đồng thời thu hồi số vốn vay đúng hạn
Tiếp tục củng cố, phát triển và nâng cấp các
tổ chức giới thiệu việc làm về cơ sở vật chất,
trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức;
đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề,
nâng cao chất lượng đào tạo, gắn giải quyết
việc làm với công tác đào tạo, dạy nghề, đáp
ứng yêu cầu nhân lực cho nền kinh tế công nghiệp, hiện đại Công đoàn địa phương, công đoàn ngành chú trọng thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, ban chấp hành công đoàn lâm thời ở các doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn để bảo vệ kịp thời việc làm cho người lao động Đối với công đoàn cấp cơ
sở, công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn phải nắm được số lao động dôi dư chưa sắp xếp được công việc, đề ra các phương án sắp xếp, sử dụng lao động này một cách kịp thời
và hợp lí Chủ động hơn nữa trong việc kiến nghị doanh nghiệp về kế hoạch đào tạo, đào tạo lại người lao động để đảm bảo việc làm cho họ khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lí, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp; bàn bạc với doanh nghiệp về việc tổ chức, mở rộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ giải quyết việc làm, tăng thu nhập, đảm bảo cuộc sống cho người lao động…
Thực hiện thống nhất, đầy đủ, sáng tạo,
có hiệu quả những quy định của pháp luật, tổ chức công đoàn thực sự là một tổ chức chính trị - xã hội góp phần quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động./
(1) Điều 10 Hiến pháp năm 1992
(2) Luật công đoàn năm 1990
(3) Điều 14 Điều lệ công đoàn Việt Nam, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX thông qua ngày 13/10/2003 (4) Điều 16 Điều lệ công đoàn Việt Nam
(5) Điều 17 Điều lệ công đoàn Việt Nam, Điều 11 Nghị định số 302/HĐBT ngày 19/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về quyền và trách nhiệm của công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp, cơ quan
(6) Thông tư số 50/TT-TLĐ ngày 01/1/1995 của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam về việc xây dựng công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững mạnh