GIG THIỆU Chuyên canh rau là mô hình canh tác thâm canh, do đó độ phi nhiêu đất có thể thay đổi theo hướng bất lợi về mặt lý, hoá và sinh học đất, nếu đất không được quản lý tốt, nhất l
Trang 1KHAO SAT CAC DAC TÍNH LÝ, HOá Và SINH HỌC ĐấT VŨNG TRÔNG R8 CHUYÊN CñNH Xã THÂN cửu NGHĨa
HUYEN CHAU THANH, TINH TIEN GIANG
1 GIG THIỆU
Chuyên canh rau là mô hình canh tác thâm canh,
do đó độ phi nhiêu đất có thể thay đổi theo hướng bất
lợi về mặt lý, hoá và sinh học đất, nếu đất không được
quản lý tốt, nhất là trong tình hình nông dân thường sử
dụng một lượng lớn phân bón hoá học và hoá chất bảo
vệ thực vật trên rau Đề tải “Khảo sát các đặc tính tý,
hoá và sinh học đất của vùng trồng rau chuyên canh xã
Thân Cứu Nghĩa, huyện Châu Thành, tinh Tiền Giang”
được thực hiện nhằm khảo sát sự suy thóai một số tính
chất hoá lý và sinh học của đất trồng rau ở vùng nầy và
hiệu quả của việc sử dụng phân chuồng đối với năng
suất rau và độ phì nhiêu đất
2 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện ở xã Thân Cửu Nghĩa,
huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang trên năm hộ nông
đân: đất phèn nhẹ trồng rau má có bón (thường bón
500kg phân hữu cơ Covac /ha/ năm) và không có bón
phân hữu cơ, đất phù sa trồng quế có bón phân hữu cơ
(thường bón 500-1000kg phân chuồng /ha/năm), đất
phù sa trồng ớt, không sử dụng phân hữu cơ và đất
phủ sa trồng cải không bón phân hữu cơ
Các chỉ tiêu đất khảo sát bao gồm (1) các chỉ tiêu
vật lý thành phần cơ giới, dung trong, ti trong, và độ
xốp, (2) các chỉ tiêu hóa học: pH, o (Ï lệ đấtnước
1:2,5), EC (tí lệ đất:nước 1:5), CEC rat tinh bang 0.01M
BaCl, không đệm và 0.05M BaCl; đệm pH 8.1, chất
hữu cơ xác định bằng phương pháp Walkey-Black, đạm
tổng số theo phương pháp Kjeldahl, đạm hữu cơ dễ
phân hủy rút tinh bang KCI 2M đun nóng, lân dễ tiêu
theo phương pháp Bray 1 (0.025M HCI-0.03 NH,F), Ca,
Mg trao đổi trích bang 0.01M BaCl, va (3) chỉ tiêu sinh
học được khảo sát bằng cách đo hô hấp vi sinh vật đất
ở 1,2 và 4 tuần sau khi ủ, theo phương pháp Anderson
(1982)
' Bộ Môn Khoa Học Đất & QLĐĐ
Nguyễn Mỹ Hoa! Nguyễn Minh Đông! Đặng Duy Minh! Thí nghiệm về khảo sát ảnh hưởng của phân chuồng đến các đặc tính vật lý, hóa học, và sinh học của đất trồng cải tủa xại (Brassica rapa L var amplexicaulis) và năng suất của cải được thực hiện với
2 nghiệm thức, bốn lần lặp lại Mỗi lần lặp lại là 5 liếp
(1.1m x 5m) có tổng diện tích là 27,5 m? Hai nghiệm thức thí nghiệm bao gồm: nghiệm thức |: bón phân theo nông dân không sử dụng phân chuồng và sử dụng toàn
bộ phân bón hoá học (155kg N, 30kg P;O;, 17kg
K,O/ha) và nghiệm thức IÌ: có bón phân chuồng 20 tấn/
ha (phân do nông dân ủ) và 2/3 lượng phân bón hoá học theo nông dân,
3 KET QUA VA THAO LUAN
3.1 Đặc tinh lý, hóa và sinh học đất vùng trồng rau xã Thân Cửu Nghĩa-Châu Thành -Tién Giang 31.1 Một số đặc tinh vat ly dat cde diém khdo sát Kết quả xác định thành phân cơ giới trên các điểm khảo sát cho thấy đất thuộc sa cấu sót, ngoại trừ tại điểm trồng cải- không hữu cơ có sa cấu thịt pha sét
Điều cần chú ý là trên các loại đất sét là nếu hàm lượng
` chất hữu cơ thấp và thời gian canh tác lâu thì tình trạng nén đẽ của đất sẽ dễ xảy ra
Kết quả phân tích ở bảng 1 cho thấy trị số dung trọng thấp nhất tại ruộng trồng rau má có hữu cơ (1,03 gícm?) và cao nhất ở liếp trồng quế có bón hữu cơ 1,34 gicmẺ và trồng cải không hữu cơ (1,35 g/cm") Điểm rau
má bón hữu cơ có trị số dung trọng thấp do xác bả rễ rau má nhiều ở lớp đất mặt ở các điểm khác, dung trọng đất khá cao, đất có nguy cơ bị nén dẽ, nhất là tại hai vùng trồng quế và ớt Điều nầy cho thấy ngay cả ở điểm trồng quế có bón phân hữu cơ, nhưng ở mức độ
bón thấp, vẫn có hiện tượng đất nén dẽ, có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của rễ cây trồng Trong số các điểm khảo sát, điểm trong rau má bón hữu cơ có độ xốp tốt nhất (57%) Các điểm còn lại độ xốp đất thấp
(43-47%), đất chặt không thuận lợi cho sự phát triển
của cây rau
55
Trang 2Bang 1 Dung trong, ty trọng và độ xốp của đất ở các điểm khảo sát
(Độ lệch chuẩn của các lần lấy mẫu lập lại được trình bày cùng với giá trị trung bình)
Loại đất Dung trọng (g/cm”) Tỷ trọng (gicm?”} Độ xốp (%)
3.1.2 Một số đặc tính hoá học dat ở các điểm
khảo sát
Kết quả trình bày ở bảng 2a cho thấy trên nhóm đất
phèn trồng rau má pH đạt thấp (4,11- 4,20) Ở đất thịt
pha cát trồng quế pH là 4,13, ở điểm trồng cải và ớt, pH
đạt 5,08-5,60 tương đối phù hợp cho sự phát triển của
rễ cây trồng
Hàm lượng chất hữu cơ (1,44-1,84%) và đạm tổng
số (0,09-0,10% N) đạt rất thấp trên đất phù sa không
bón hữu cơ, và đạt cao hơn trên đất có bón phân hữu
cơ Kết quả này cho thấy sự giảm thấp hàm lượng chất
hữu cơ và đạm tổng số trên đất trồng rau thâm canh
không sử dụng phân hữu cơ Hàm lượng đạm hữu cơ
dễ phân hủy đạt rất thấp, nhất là ở điểm trồng ớt không
bón hữu cơ (6,38 mg N/kg) và cao nhất là tại đất trồng
rau má có bón hữu cơ (21,58 mgN/kg) Đất phèn không
bón phân hữu cơ, hàm lượng N dễ phân huỷ cũng đạt
thấp hơn.Việc cung cấp thêm phân hữu cơ liên tục trong quá trình canh tác có lẽ đã có tác dụng gia tăng khả năng cung cấp đạm cho cây trồng Tuy nhiên cần chú ý là ngay cả trên đất phù sa có bón phân hữu cơ, hàm lượng đạm tổng số và đạm hữu cơ dễ phân huỷ vẫn còn ở mức thấp cho thấy việc bón thêm phân hữu
cơ về lâu dài là rất cần thiết để gia tăng độ phi về đạm trong đất CEC đạt cao nhất tại điểm trồng ớt không sử dụng hữu cơ (19,50 meg/100g) và thấp nhất tại điểm trồng rau má không sử dụng phân hữu cơ (15,68 meq/100g) Tại các điểm khảo sát c6 CEC cao có thể
do hàm lượng sét chiếm tỷ lệ cao CEC xác định bằng phương pháp trích BaCl; đệm pH đến 8.1 cho thay CEC
có khuynh hướng tăng cao trên đất có bón phân hữu cơ
so với đất không bón phân hữu cơ Kết quả nầy cho thấy việc bón phân hữu cơ có thể đã làm tăng khả năng giữ chất dinh dưỡng trong đất
Bảng 2a Một số chỉ tiêu hóa học trên đất trồng rau tại các điểm khảo sát
Loại đất Phụ, o_ | CEC (không đệm) | CEC (đệm pH 8.1) | N tổng số | N hữu cơ dễ phân
AI PSÊP lTrồng rau má (không hữu cơ) |_ 4/20 11,24 15,68 0,13 12,99
Bảng 2b Một số chỉ tiêu hóa học trên đất trồng rau tại các điểm khảo sát
Tại các điểm khảo sát hàm lượng lân dễ tiêu rất
cao, biến động từ 129 đến 234,5 mg P/kg (bảng 2b)
cho thấy có sự tích luỹ lân trong đất do nông dân đã
bón thường xuyên một lượng phân lân rất cao Điều nay
cần được đặc biệt quan tâm nghiên cứu thêm để có thể
khuyến cáo nông dân sử dụng phân lân hợp lý hơn
tránh gây lãng phí Hàm lượng Ca, Mg trong đất ở mức
độ trung bình, có khuynh hướng thấp ở đất có bón phân
56
hữu cơ, có thể do ở đât có bón phân hữu cơ sinh khối cây trồng gia tăng, cây lấy đi nhiều Ca, Mg trong dat hơn so với ở các đất không bón phân hữu cơ
3.1.3 Hô hấp đất ở các điểm khảo sát tại rùng
rau Châu Thành -Tiển Giang
Chỉ số hô hấp đất biểu thị mức độ hoạt động của
vi sinh vật trong đất Trên đất phèn trồng rau má có bón
Trang 3phân hữu cơ, hô hấp đất đạt cao nhất sau khi ủ 4 tuần
(1010 mg CO,/kg) Hô hấp đất thấp trên nhóm đất phù
sa canh tác rau (323-495 mg CO,/kg) Kết quả nghiên
cứu của Võ Thị Gương và ctv.(2006) trên đất liếp trồng
sau riêng cho thấy hô hấp đất đạt cao hơn (1520 mg
CO/z#kg) ở 2 tuần sau khi ở) so với kết quả ghi nhận
được trên đất trồng rau Điều này, có thể do việc sử
dụng quá nhiều phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật
trên rau đã làm hoạt động của vi sinh vật trong đất giảm thấp.Tuy.vậy, so với đất phù sa không bón phân hữu cơ (323-413 mg CO,/kg sau bốn tuần ủ) thì hô hấp đất ở đất phù sa có bón phân hữu cơ có khuynh hướng cao hơn (sau bốn tuần ủ đạt 495 mg CO,/kg) Kết qua này cho cho thấy có thể việc bón chất hữu cơ đã làm
gia tăng hoạt động của vi sinh vật trong đất
Bảng 3 Hô hấp vị sinh vật đất trên các điểm khảo sat (mg CO,/kg)
3.2 Ảnh hưởng của việc bón phân chuồng đến
năng suất cải tùa xại và tính chất lý, hóa và sinh
học đất
3.2.1 Anh hưởng của phân chuồng đến một số
tính chất lý, hoá va sinh học đất thí nghiệm
Kết quả trình bảy ở bảng 4 cho thấy việc bón
thém phan chudng có tác dụng làm gia tăng rõ hàm
lượng đạm hữu cơ dễ phân huỷ trong đất Tuy nhiên
các tính chất đất khác như CEC, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất chưa thể hiện sự gia tăng rõ rệt Điều này cho thấy việc cung cấp phân hữu cơ có tác dụng gia tăng khả năng cung cấp đạm từ đất, hiệu quả trên các tính chất khác của đất cần đánh giá ở mức độ dài hạn hơn Hiệu quả của phân chuồng trong cải thiện hoạt động của vi sinh vật đất thể hiện rõ qua khảo sát hô hấp của
vi sinh vat dat
Bang 4 Ảnh hưởng của việc bón phân chuồng đến một số tính chất hoá học
trong thí nghiệm trồng cải tùa xại ở điểm thí nghiệm
Nghiệm thức thí nghiệm CEC (meq/100g) N hữu cơ dễ phân huy (mgN/kg) Lân dễ tiêu (mg P/kg)
Những số có chữ theo sau giống nhau trong cùng
một cột thì không khác biệt nhau ở mức ý nghĩa 5% ns:
không khác biệt có ý nghĩa thông kê
Khi bón phân chuồng thi hô hấp của vi sinh vật
đất luôn đạt cao hơn khi không bón phân chuồng (ở
tuần thứ nhất và thứ hai sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê, tuy nhiên có sự khác biệt rõ ở tuân thứ tư)
(bang 5) Tuy nhiên, nhìn chung hô hấp đất ở đất thí
nghiệm đạt thấp, nếu so sánh với kết quả nghiên cứu
của Võ thị Gương và ctv, (2006) trên đất đất liếp trồng
sầu riêng Điều nay cho thấy hiện trạng hoạt động của
vị sinh vật đất là rất thấp trên đất trồng rau thâm canh,
việc sử dụng phân chuồng có tác dụng cải thiện hoạt
động ví sinh vật đất và cần thời gian sử dụng phân hữu
cơ dài hạn hơn để gia tầng mật số vi sinh vật có lợi
trong đất
Bang 5 Hé hấp đất (mgCO,/kg)
theo thời gian trong thí nghiệm tréng cai tua xai
Nghiệm thức thí nghiệm Tuần 1 | Tuần 2 | Tuần 4 Bón 20 tấn phân chuồng/ha 316a 526a 657a Không bón phân hữu cơ 240a 401a 487b
Những số có chữ theo sau giống nhau trong củng một cội thì không khác biệt nhau ở mức ý nghĩa 5%
332 Ảnh hưởng của phân chuồng đến năng
suất và trọng Lượng rễ của cải tùa xại trong thí nghiệm Kết quả trình bay & bang 6 cho thay năng suất của cải ở nghiệm thức có sử dụng phân chuồng (17,68 tấn/ha) không khác biệt ý nghĩa so với năng suất cải ở nghiệm thức đối chứng (17,38 tấn/ha) Tuy nhiên, trọng
97
Trang 4lượng rễ gia tang & nghiệm thức sử dụng phân chuồng
so với đối chứng Kết quả trên cho thấy mặc dù năng
suất ở nghiêm thức có sử dụng phân chuồng không cao
hơn so với nghiệm thức đối chứng nhưng trong quá
trình canh tác cải, ở nghiệm thức có sử dụng phân
chuồng đã giảm bớt được 1/3 lượng phân hóa học cho
thấy phân chuồng đã phát huy hiệu quả tốt
Bằng 6 Năng suất va trọng lượng rễ của cải tùa xại
trên đất thí nghiệm
Bén 20 tấn phân chuồng/ha 10,3a 17,68a
Không bón phân hữu cơ TTb 17,38a
Những số có chữ theo sau giống nhau trong cùng
một cột thì không khác biệt nhau ở mức ý nghĩa 5%
%, KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết quả khảo sát cho thấy đất trồng rau thâm canh có biểu hiện suy thoái về mat hoa ly va sinh hoc đất do hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số, đạm hữu cơ dễ phân hũy trong đất rất thấp, dung trọng khá cao, độ xốp thấp, hoạt động của vi sinh vất đất là rất thấp Việc bón phân hữu cơ trong thí nghiệm có tác dụng cải thiện rõ nét khả năng cung cấp đạm từ đất, cải thiện hoạt động của vi sinh vật đất và đã tiết kiệm được lượng phân đạm sử dụng
Điều nầy cho thấy trên đất trồng rau thâm canh nếu không có biện pháp quản lý thích hợp thì độ phi nhiêu của đất sẽ giảm sút sau thời gian canh tác lâu đài, việc khuyến khích nông dân sử dụng phân hữu cơ trong canh tác rau là rất cần thiết để gia tăng năng suất, và duy trì độ phì nhiêu lý, hoá và sinh học đất
TÀI LIỆU THAM KHAO
1 Anderson P.E J 1982 Soil respiration, 831-866p
In:Method of soil analysis Part 2- Chemical and
microbiological properties Page A.L., R.H Miller, and D.R
Keeney (Eds.) Am Soc Agro, Inc and Soi Sci, Soc Am,
inc Madison, Wiscosin USA
2 Võ Thị Gương, Dương Minh, Hồ van Thiét, Nguyén
Hoàng Cung, Lê Hữu Hải 2004 Sự suy thoái hoá lý đất liếp
vườn chôm chôm và sầu riêng Báo cáo Hội nghị Khoa học Nông nghiệp năm 2006 Đại học Cần Thơ
Summary
INVESTIGATION OF SOIL PHYSICAL, CHEMICAL AND BIOLOGICAL PROPERTIES OF INTENSIVE VEGETABLE CROPPING AT THAN CUd NGHIA- CHAU THANH-TIEN GIANG
Intensive vegetable cropping may result in adverse soil
physical, chemical and biological properties if soil is not weil
managed, especially when large amount of chemical
fertilizers and pesticides have been applied in a long time
without organic matter addition In this study, physical,
chemical and biological properties soils at 5 sites with and
without organic fertilizer application at Than Cuu Nghia
village, Chau Thanh district, Tien Giang province were
studied An on-farm experiment was also conducted to study
effect of cow manure in improving of vegetable yield and soil
properties Treatments of the experiment were farmer's rate
(155kg N, 30kg P,O,, 17kg K;O/ha) and experimental rate
Nguyen Minh Dong Dang Duy Minh with 20 tons/ha manure and with two-third amount of farmer's chemical fertilizer rate
Results showed that total N, labile N, and organic matter content were low, bulk density was high, soil porosity was low, and soil respiration was low in all sites with and without cow manure application This showed the adverse impact of poor organic matter content on soil properties in studied sites Applying cow manure of 20 t/ha have resulted
in improving vegetable yield at low fertilizer N rate, and in improving labile N and soil respiration, although clear effect
on other soil characteristics has not yet been observed
Trước khi gửi bài đến:
giả sửa kỹ bản đánh:m:
làm ảnh hưởng đến:
an biên tập Tạp chí, yêu cầu các tác -đã tránh tình trạng nhiều lỗi đánh máy
58