1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang

121 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Trung Trực, Thành Phố Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang
Tác giả Phan Thị Thu Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Thúy Dung
Trường học Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo Dục Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để công tác này trong thời gian tới gặt hái được nhiều thành công hơn nữa, Nhà trường cần trú trọng thực hiện đồng bộ các nhóm biện pháp, từ đó học sinh sẽ có được năng lực tự giải quyết

Trang 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHAN THỊ THU ANH

GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN TRUNG TRỰC,

THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

SKC007499

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHAN THỊ THU ANH

GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN TRUNG TRỰC, THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC – 601401

Hướng dẫn khoa học

PGS.TS NGUYỄN THỊ THÚY DUNG

Trang 4

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƢỢC:

Họ & tên: Phan Thị Thu Anh Giới tính: Nữ

Ngày, tháng, năm sinh: 16/12/1979 Nơi sinh: Kiên Giang Quê quán: Châu Thành - Kiên Giang Dân tộc: Kinh

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 9/5 Lê Lợi Rạch Giá - Kiên Giang

Ngành học: Đại học Sư phạm Địa lí

Môn thi tốt nghiệp: Địa lí tự nhiên, Địa lí kinh tế - xã hội, phương pháp giảng dạy Ngày & nơi thi tốt nghiệp: Tháng 9/2002, Trường Đại học Cần Thơ

Trang 5

IV DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

Phan Thị Thu Anh (2017), Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, tạp chí

Giáo Dục số đặc biệt tháng 7/2017 (Trang 32- 34)

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2017

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Phan Thị Thu Anh

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự

nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của Quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS.Nguyễn Thị Thúy Dung đã

hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong ngành Giáo dục học, Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Trường THPT Nguyễn Trung Trực và tất cả cán bộ viên chức, cha mẹ học sinh và học sinh của Nhà trường đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến các anh chị và các bạn đồng nghiệp

đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Trang 8

TÓM TẮT

Nền tảng vững chắc nhất của tuổi trẻ khi bước vào đời, đó là nghề nghiệp Nghề nghiệp không vững chắc, không phù hợp với khả năng của bản thân mình như ngôi nhà chắp vá, tạm bợ và sẽ dễ dàng bị sụp đổ trước những biến cố của cuộc đời

Do đó, điều quan trọng không nằm ở nghề gì, kiếm được nhiều tiền hay không, có tạo dựng được danh tiếng hay không, mà chính là nghề nghiệp đó có phù hợp với bản thân hay không Vì thế, chọn nghề là yếu tố quyết định cho tương lai bền vững Giáo dục phổ thông là nền tảng quan trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam,

vì giai đoạn này là chuyển tiếp từ một học sinh đang theo học ở Nhà trường phổ thông thành những công dân thực thụ của xã hội hoặc là sinh viên, học viên… hay

có thể là nguồn lao động chính của gia đình và xã hội Do đó, công tác hướng nghiệp là bộ phận quan trọng và thực hiện công tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp Và công tác này nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân Vì vậy, việc giáo dục hướng nghiệp cho thế

hệ trẻ là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa xã hội sâu sắc

Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Giáo dục

hướng nghiệp cho học sinh Trường Trung học phổ thông Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành

Giáo dục học của mình

Nội dung luận văn bao gồm:

Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn và cấu trúc của luận văn Phần nội dung có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp cho HS THPT

Trang 9

Chương 2: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang

Chương 3: Biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang

Nhìn chung, công tác giáo dục hướng nghiệp của học sinh ở trường THPT Nguyễn Trung Trực được Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường quan tâm và chú trọng xem như là những hoạt động chuyên môn không thể thiếu Có thể nói trong những năm qua, Nhà trường đã làm tốt chức năng định hướng chọn nghề cho học sinh, đa phần học sinh đi đúng sở trường, năng lực và hoàn cảnh kinh tế cũng như truyền thống của gia đình, hàng năm tỷ lệ đỗ vào đại học và cao đẳng, học nghề chiếm tỷ lệ cao so với các trường trong tỉnh

Tuy nhiên, hoạt động này cũng chỉ dừng lại theo hình thức mùa vụ, đến hẹn lại lên, nội dung còn đơn điệu, hình thức chưa phong phú, đa dạng và thiếu tính thu hút, … Chính vì vậy, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh của Nhà trường trong suốt thời gian qua

Để công tác này trong thời gian tới gặt hái được nhiều thành công hơn nữa, Nhà trường cần trú trọng thực hiện đồng bộ các nhóm biện pháp, từ đó học sinh sẽ

có được năng lực tự giải quyết những vấn đề khó khăn trong suốt quá trình lựa chọn ngành, nghề; nhận thức tốt về những sở trường của bản thân, về ngành, nghề lựa chọn phù hợp với năng lực, đặc tính, sở thích, điều kiện kinh tế và truyền thống của gia đình hay nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương nơi sinh sống Ngoài ra, học sinh cũng có thể tự tin giải quyết những tốt vướn mắc và đủ bản lĩnh đưa ra những quyết định và lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai chính mình, nếu đảm bảo các nguyên tắc và bám sát các nhóm biện pháp có thể khẳng định rằng hoạt động giáo

dục hướng nghiệp của Trường THPT sẽ đạt được những kết quả ngoài mong đợi

Trang 10

ABSTRACT

The strongest foundation of youth when entering life, it is career Unsure occupations, unsuitable for self-possessions such as patchwork, temporary and easily collapsed before the events of life Therefore, it is important not to make a living, to earn a lot of money, to have a reputation or not, but whether the profession

is right for you or not Therefore, choosing a career is the decisive factor for a sustainable future

General education is an important cornerstone in the Vietnamese education system, as it is a transition from a student attending a school to being a true citizen

of a society or a student, trainees or can be the main source of labor for family and society Therefore, vocational guidance is an important component and vocational guidance is a necessary requirement to actively and effectively contribute to the proper assignment and use of students after graduation And this work aims to foster and guide students to choose a career that suits the development requirements of the society and at the same time fit the physical strength and aptitude of the individual Therefore, vocational education for the younger generation is an important issue with deep social significance

Based on the above reasons, the researcher selected the topic of "Vocational education for students of Nguyen Trung Truc high school, Rach Gia city, Kien Giang province" to do his master’s thesis on education

The thesis content includes:

Introduction: The reasons for choosing the topic, research objectives, research tasks, research subjects, research subjects, research areas, research hypotheses, research methods, thesis contributions and the structure of the thesis

The content has three chapters:

Chapter 1: Theoretical background of vocational education for high school students

Trang 11

Chapter 2: Situation of vocational education for students at Nguyen Trung Truc High School, Rach Gia City, Kien Giang Province

Chapter 3: Vocational education measures for students at Nguyen Trung Truc high school, Rach Gia city, Kien Giang province

In general, the vocational education of students in Nguyen Trung Truc High School is paid attention to by the Party Committee, the school's Board of Supervisors as the indispensable professional activities It can be said that over the past years, the school has done well the job orientation orientation for students, most students go to the right strengths, capacity and economic circumstances as well as the tradition of family, Higher enrollment rates for universities and colleges and apprenticeships are high in comparison with schools in the province

However, this activity also only stopped in the form of seasons, to re-up, the content is monotonous, the form is not rich, diverse and unattractive Therefore, greatly affected to the quality of vocational education for students of the school during the past time

To make this work more successful in the future, the school needs to accommodate all groups of measures so that students will have the capacity to solve problems themselves the process of selecting lines of business; be well aware of the strengths of the self, of the chosen occupations in accordance with the capacity, character, preference, economic and traditional conditions of the family or the human resource needs of the place of birth wave In addition, students can also confidently tackle the good and bad things that make the decisions and career choices for their future, if the principles are adhered to and the groups that follow are available It can be asserted that Nguyen Trung Truc high school career education will achieve exceed expectations

Trang 12

MỤC LỤC

Lý lịch khoa học i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iv

Tóm tắt v

Mục lục ix

Danh sách các chữ viết tắt xiii

Danh sách các bảng xiv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Đóng góp của luận văn 4

9 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Tại Việt Nam 7

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 12

1.2.1 Khái niệm hướng nghiệp 12

1.2.2 Khái niệm giáo dục 13

1.2.3 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp 13

1.2.4 Khái niệm học sinh trung học phổ thông 14

Trang 13

1.3 Các vấn đề lí luận về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông14 1.3.1 Nhiệm vụ, vai trò của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ

thông 14

1.3.2 Nội dung của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 19

1.3.3 Hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 20

1.3.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 21

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ HÔNG NGUYỄN TRUNG TRỰC THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG 31

2.1 Khái quát về Trường Trung học phổ thông Nguyễn Trung Trực thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 31

2.2 Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng 32

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 32

2.2.2 Nội dung khảo sát 32

2.2.3 Địa bàn và đối tượng khảo sát 32

2.2.4 Phương pháp khảo sát 33

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 34

2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên trường THPT Nguyễn Trung Trực về tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 34

2.3.2.Thực trạng nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 36

2.3.3 Thực trạng hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 39

2.3.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 43

2.3.5 Đánh giá chung về thực trạng 48

Trang 14

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC THÀNH PHỐ RẠCH

GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG 52

3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 52

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 52

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính lí luận 52

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 52

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 53

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 53

3.2 Các biện pháp GDHN cho HS THPT của trường THPT Nguyễn Trung Trực, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 53

3.2.1 Nhóm biện pháp về nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 53

3.2.2 Nhóm biện pháp về hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 58

3.2.3 Nhóm biện pháp về các yếu tố ảnh hưởng giáo dục hướng nghiệp 65

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 73

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 73

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 74

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 74

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 74

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 74

3.5 Kết quả thực nghiệm 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

1.1.Về lí luận 82

1.2 Về thực trạng 82

1.3.Về các biện pháp 82

2 Khuyến nghị 83

Trang 15

2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kiên Giang 83

2.3 Đối với các trường phổ thông 84

2.4 Đối với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam tỉnh Kiên Giang 84

2.5 Đối với cha mẹ học sinh 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

I Tài liệu trong nước 85

1.1 Tổ chức 85

1.2 Cá nhân 85

II Tài liệu tiếng nước ngoài 87

PHỤC LỤC 86

Trang 17

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ

huynh và học sinh về tầm quan trọng của GDHN

35

Bảng 2.2 Thực trạng nội dung GDHN cho HS tại trường THPT Nguyễn

Trung Trực, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

38

Bảng 2.3 Thực trạng hình thức GDHN cho HS tại trường THPT Nguyễn

Trung Trực, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

41

Bảng 2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến GDHN cho HS tại trường

THPT Nguyễn Trung Trực

45

Bảng 3.1 Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp GDHN cho HS

trường THPT Nguyễn Trung Trực, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên

Giang theo đánh giá của CBQL và GV được khảo sát

74

Trang 18

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền tảng vững chắc nhất của tuổi trẻ khi bước vào đời, đó là nghề nghiệp Nghề nghiệp không vững chắc, không phù hợp với khả năng của bản thân mình như ngôi nhà chắp vá, tạm bợ và sẽ dễ dàng bị sụp đổ trước những biến cố của cuộc đời Do đó, điều quan trọng không nằm ở nghề gì, kiếm được nhiều tiền hay không, có tạo dựng được danh tiếng hay không, mà chính là nghề nghiệp đó có phù hợp với bản thân hay không Chỉ có sự “lành nghề”, dù là nghề gì, sự xuất sắc trong nghề là yếu tố quyết định đưa tới thành công Vì thế, chọn nghề là yếu tố quyết định cho tương lai bền vững

Giáo dục phổ thông là nền tảng quan trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam, vì giai đoạn này là chuyển tiếp từ một học sinh đang theo học ở Nhà trường phổ thông thành những công dân thực thụ của xã hội hoặc là sinh viên, học viên… hay có thể là nguồn lao động chính của gia đình và xã hội Do đó, công tác hướng nghiệp là bộ phận quan trọng

và thực hiện công tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh (HS) sau khi tốt nghiệp Và công tác này nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân

Giáo dục có sứ mạng giúp con người phát huy tất cả mọi tiềm năng và tất cả mọi tiềm lực sáng tạo Bước vào giai đoạn mới đòi hỏi mỗi người một năng lực tự chủ và xét đoán cao hơn, gắn bó với sự tăng cường trách nhiệm cá nhân Một trong những mục tiêu của nền giáo dục các nước phát triển là bồi dưỡng cho con người có tinh thần khai phá, năng lực tự mưu sinh để trở thành con người tự lực, thích ứng với sự biến đổi của xã hội

Vì vậy, việc giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho thế hệ trẻ là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa xã hội (XH) sâu sắc

Tuy nhiên, trong XH lâu nay vẫn tồn tại cách nghĩ, chỉ vào đại học mới có danh

tiếng Trong khi nhu cầu nguồn nhân lực không chỉ cần đến “thầy” mà còn rất cần cả

“thợ” Hơn 30 năm qua, hệ thống giáo dục nước ta phát triển mạnh và đạt được những

thành tựu ở tất cả các cấp học, từ mầm non đến đại học Nhưng việc giúp HS có những

Trang 19

hiểu biết về nghề nghiệp để định hướng phát triển, lựa chọn ngành nghề phù hợp với sở thích cá nhân cũng như năng lực bản thân và nhu cầu XH thì còn khá nhiều bất cập và hạn chế Bởi vì, không ít học sinh đã lựa chọn nghề nghiệp theo trào lưu chung của xã hội Việc này không chỉ khiến học sinh đó lãng phí thời gian, công sức, tiền của mà còn gây nên sự mất cân bằng trong xã hội, một số ngành nghề dư thừa lao động, trong khi một số ngành nghề khác thì thiếu người lao động trầm trọng Giáo dục hướng nghiệp hiện nay vẫn chưa được các cấp quản lý giáo dục và các trường học quan tâm đúng mức, còn

có địa phương và trường học chưa thực hiện đầy đủ các nội dung giáo dục hướng nghiệp Chất lượng hoạt động hướng nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của học sinh và xã hội, học sinh phổ thông cuối các cấp học và bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội

Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Giáo dục hướng

nghiệp cho HS trường trung học phổ thông Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Giáo dục học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng vấn đề giáo dục hướng nghiệp (GDHN)

cho HS Trường Trung học phổ thông (THPT) Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá - tỉnh Kiên Giang, đề xuất các biện pháp GDHN cho HS trường THPT Nguyễn Trung Trực

thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục HS tại trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Tìm những biện pháp hiệu quả để hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, TP Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang ngày một nâng cao và

có chất lượng hơn

4 Giả thuyết khoa học

Trong quá trình chọn nghề HS gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận thức, đánh giá bản thân, thiếu hiểu biết về ngành, nghề và ra quyết định chọn ngành, nghề Vì vậy có thể GDHN cho HS THPT phù hợp với mục tiêu, nội dung là vấn đề cần thiết và cấp bách

Trang 20

Thông qua đó trợ giúp HS giải quyết được những khó khăn trong quá trình chọn nghề góp phần nâng cao hiệu quả GDHN ở THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản sau:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN cho HS THPT

5.2 Khảo sát và phân tích thực trạng GDHN cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

5.3 Đề xuất biện pháp GDHN cho HS trường THPT Nguyễn Trung Trực thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn: Đề tài tập trung tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, TP Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang và thời gian là năm học 2016 -2017

6.2 Phạm vi ngiên cứu: HS, CBQL, GV chủ nhiệm, phụ huynh HS (300 người, bao gồm: 50 CBQL và GV (4 CBQL trường và 46 GV chủ nhiệm và GV bộ môn), 200 HS lớp

12, 50 CMHS) Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung khảo sát về nội dung và hình

thức GDHN cho HS tại trường THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp đọc và phân tích tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Dành cho 300 người (CBQL, GV, HS,

CMHS) để làm rõ thực trạng GDHN và các yếu tố ảnh hưởng đến GDHN tại trường

THPT Nguyễn Trung Trực thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu: Dành cho 2 CBQL, 4 GV, 4 HS, 4 CMHS để

làm rõ các thông tin định lượng thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

7.2.3 Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động GDHN cho HS tại trường

THPT Nguyễn Trung Trực thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để làm rõ thêm thực trạng GDHN

Trang 21

7.2.4 Phương pháp chuyên gia: Dành cho CBQL và GV có kinh nghiệm về công

tác GDHN để đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất trong đề tài

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Dùng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu nhận được

8 Đóng góp của luận văn

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về GDHN cho HS THPT

Chương 2: Thực trạng GDHN cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang

Chương 3: Biện pháp GDHN cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang

Trang 22

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Công tác GDHN hay hướng nghiệp để định hướng phân luồng HS sau THPT không phải là một vấn đề mới mẻ gì, mà đã được thế giới khẳng định là một việc rất cần thiết nhằm để có được nguồn nhân lực dồi dào, nếu phân bổ, sử dụng hợp lý thì hiệu quả về kinh

tế và ý nghĩa về XH là vô cùng to lớn Đã có nhiều quốc gia như Liên Bang Nga, Pháp, Đức, Anh và nhiều quốc gia khác đã thực hiện khá thành công đối với công tác này

1.1.1 Trên thế giới

Công tác GDHN ở các nước trên thế giới đã ra đời từ rất sớm Cùng với sự phát triển nhanh, đa dạng của hệ thống những ngành nghề thì nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học, các nhà GD đã tập trung nhiều vào lĩnh vực GDHN Quá trình GD và ĐT thế hệ trẻ thành lực lượng lao động kỹ thuật là quá trình liên tục với nhiều thành tố của kiến thức, kỹ năng và thái độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, hướng tới hình thành và phát triển nhân cách toàn diện và hài hòa

Quan điểm chọn nghề là một trong những biểu hiện quan trọng phản ánh nhân cách của mỗi người, là một trong những quyết định xu hướng phát triển của người đó trong tương lai Quyền tự do chọn nghề và việc lựa chọn ngành nghề là một việc rất quan trọng trong cuộc sống con người Do vậy việc lựa chọn nghề cần đắn đo suy nghĩ và đó là trách nhiệm đầu tiên của thanh niên khi bước vào đời

Những mặt tích cực của công tác GDHN của các nước đạt được đó là:

Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên Nội dung cuốn

sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp [24] Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS cần phải dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân [25]; Từ năm 1918 đến 1939, N.K.Krupskaia có nhiều bài viết

Trang 23

khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp [25, Tr.9] Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức, phương thức hướng nghiệp trong nhà trường bao gồm: - Năm 1986, các tác giả H.Frankiewiez; Bernd Rothe; U.Viets; B.Germer, D Marschneider đã đưa ra các phương thức: “Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho HS THPT” [18]; Các tác giả R.Oberliesen, H.Keim, M.Schumann, G.Duismann đã có những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho HS phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, họ

đã khẳng định: “Hoạt động dạy học, lao động – kĩ thuật – kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục THPT… bởi vì nó đã tạo điều kiện cho HS phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động – xã hội” [2] Năm 1996, tác giả Schmidt, J.J [20] và năm

1998, Roger D Herring [26] khuyến khích các GV phối hợp định hướng nghề cho HS thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp; Tổ chức hoạt động tập thể hoặc các sự kiện đặc biệt như đi dã ngoại, lựa chọn sách, phim, clip, và các phương tiện đại chúng khác Với HS trung học, có nhiều chương trình sự kiện đặc biệt về nghề sẽ giúp HS hiểu được mối tương tác giữa những trải nghiệm của bản thân với những ước mơ, khát vọng thành công trong tương lai Các tác giả này đã khái quát mục tiêu hướng nghiệp cho từng cấp học và những cách thức để tiến hành những mục tiêu đó, đồng thời chỉ ra mối quan

hệ giữa định hướng nghề và tham vấn nghề, các thành phần tạo nên mô hình GDHN hiệu quả Các tác giả Morgan và Hart (1977) nhấn mạnh vai trò của GDHN trong nhà trường

đã khẳng định GDHN trong nhà trường cần phải khuyến khích HS suy nghĩ về bản thân mình và về thế giới công việc; yêu cầu HS cần có kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong quá trình chọn nghề trước khi đưa ra quyết định nghề nghiệp thông minh [26] Như vậy: Hướng nghiệp và GDHN đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu

về hướng nghiệp, GDHN đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với thanh niên,

HS Là giúp các em chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, khuyến khích kết hợp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sản xuất, tham quan, thực tập

ở các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của HS về nghề

Trang 24

1.1.2 Tại Việt Nam

Theo dân gian Việt Nam, ông cha ta đã từng căn dặn “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Nghệ tinh là tinh thông nghề Mỗi người phải thông thạo một nghề Khi đã tinh

thông nghề nghiệp đó rồi thì bản thân người đó sẽ được sung sướng, giá trị tinh thần đó

sẽ được lên cao (thân vinh) Là người, khi ra đời ai cũng phải có một nghề để kiếm sống,

để tự lo cho bản thân, cho gia đình "Nghề" bao trùm cả nghề lao động chân tay và nghề lao động trí óc Nhưng củng có một mục đích chung là "tinh thông" nghề nghiệp ấy Phải có tinh thông thì ta mới làm việc có năng suất cao, hiệu quả tốt, lợi nhuận lớn Từ đó mọi người mới cảm phục, kính yêu và ta có được cuộc sống sung sướng Muốn được như vậy ta phải biết quý mến nghề, luôn trau dồi học hỏi để nghề ấy càng ngày tinh xảo hơn

Hay tục ngữ có câu nói “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề” Ngày nay, thực tế

cho thấy nghề nghiệp nào trong cuộc sống cũng đều đáng quý, nếu như chúng ta làm nghề nghiệp đó bằng tất cả tình yêu, sự hiểu biết và kĩ năng nghề nghiệp Nếu chọn nhiều nghề, chúng ta sẽ không có đủ sự kiên tâm, sức lực và kĩ năng để thực hiên tốt "Một nghề" có chất lượng còn hơn số lượng "chín nghề"

“Một nghề thì sống đống nghề thì chết” câu thành ngữ ý nói một nghề mà giỏi thì

thành đạt, một nghề mà chắc chắn thì sống, đừng có hời hợt, nghề gì cũng biết nhưng không chuyên một nghề gì thì sẽ đổ vỡ không thành

Mặc dù không phải là những công trình đồ sộ, những tuyệt tác nhân loại, nhưng những kinh nghiệm của ông cha để lại là tài sản vô giá mà ngày nay chúng ta phải tốn thật nhiều giấy mực để có thể giáo dục, định hướng nghề nghiệp cho tuổi trẻ của mình Khi lựa chọn ngành nghề thì phải đúng sở thích và sở trường, không thể chạy theo xu hướng của nhóm bạn, không phải chạy theo thị hiếu tầm thường và ngắn hạn

Nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác GDHN trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS ra trường Tại Việt Nam, công tác GDHN đã được Đảng

và Nhà nước quan tâm và chỉ đạo thực hiện từ rất sớm Ngày 19/03/1981, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số 126/CP về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông

và việc sử dụng HS các cấp tốt nghiệp ra trường Đây là quyết định đầu tiên và đã định

Trang 25

hướng con đường GDHN cho HS trong trường phổ thông, mở ra bước phát triển mới cho nền GD phổ thông nước nhà

Tuy nhiên trong nhiều năm qua, ở trường phổ thông chúng ta chỉ chú trọng nhiều vào việc nâng cao chất lượng dạy học các môn văn hóa Việc GDHN, dạy HS kiến thức,

kỹ năng thực hành, kỹ năng sống và làm việc luôn bị xem nhẹ Để khắc phục vấn đề này, trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo đã liên tục định hướng nghề nghiệp cho HS phổ thông như:

Trong nghị quyết Số: 29 NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tào, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã khẳng định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh

có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020” [3, tr.4].

Trên cơ sở quán triệt các quan điểm cơ bản về GD của Nghị quyết số 29 của Đảng, tại mục a, khoản 3, Điều 2 Nghị quyết 88/2014/QH13, ngày 28/11/2014 của Quốc hội đã

chỉ rõ “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và

kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [4, tr.1]

Trang 26

Song song đó ngày 09/6/2014 Chính phủ đã có Nghị quyết số 44NQ/CP ban hành

chương trình hành động của chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW đã chỉ rõ: “Rà soát, điều chỉnh chương trình giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu

về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương, toàn xã hội theo hướng tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết

xã hội Triển khai cơ chế phối hợp giữa các trường bảo đảm chất lượng, thống nhất chương trình, giáo trình theo từng ngành, nhóm ngành, nhóm nghề đào tạo Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu của người học và chuyển đổi ngành, nghề của xã hội”[3, tr.4]

Sau đó, Bộ giáo dục và đào tạo đã xây dựng chương trình hành động Số: BGDĐT, ngày 25 tháng 7 năm 2014, Ban hành kế hoạch hành động của ngành giáo dục triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW tại

2653/QĐ-mục 2, điểm d phần hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân đã chỉ rõ: “Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện đề án triển khai phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông; thống nhất việc quản lý các trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề; hoàn thiện Luật Giáo dục nghề nghiệp” [2, tr.2]

Luật GD Việt Nam 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), điểm 4, điều 27 quy định

mục tiêu của GD phổ thông là “GD THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của GD THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về

kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lực chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

[5, tr.21-22]

Bên cạnh đó, theo thống kê và phân tích của tác giả Trương Thị Hoa trong luận án tiến

sỹ của mình cho thấy [20]:

Những năm 60 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, lí luận và thực tiễn hướng nghiệp được bắt đầu phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễn hướng nghiệp của Liên Xô (cũ) Thời kì đầu, quan niệm hướng nghiệp đi đôi với giáo dục lao động, để

Trang 27

định hướng nghề nghiệp cho HS trước hết cần giáo dục cho HS thái độ sẵn sàng bước vào các hoạt động nghề nghiệp

Năm 1985 – 1987: Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Trần Đức Xước, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác GDHN trong các trường phổ thông và đề cập đến các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông

Từ năm 2003- 2010, khái quát các kinh nghiệm hướng nghiệp của một số nước trên trên giới, có những đánh giá về công tác hướng nghiệp cho HS ở trường phổ thông và đã đưa ra những giải pháp về công tác GDHN ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 có các tác giả Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, và sau này có Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân Các tác giả này đã đút rút nhiều hướng để có thể giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong thời kỳ hội nhập

Các luận án của các tác giả Nguyễn Thị Nhung (2009): “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông miền núi Tây Bắc” [20]; Bùi Việt Phú (2009): “Tổ chức GDHN cho HS trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa”; Phạm Văn Khanh (2012): “GDHN trong dạy học các môn học khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông KV Nam Trung Bộ” đã tập trung nghiên cứu những giải pháp để nâng cao chất lượng GDHN trong nhà trường phổ thông theo các hướng khác nhau

Những công trình trên đều khái quát được các con đường GDHN và đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của các con đường đó

Như vậy, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lí luận chung về hướng nghiệp và GDHN, đã khái quát mục tiêu, nội dung, con đường hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông Khẳng định vị trí và vai trò của hướng nghiệp và GDHN trong nhà trường THPT Chính các nghiên cứu của các tác giả trên là cơ sở lí luận, thực tiễn cho việc thực hiện GDHN trong nhà trường phổ thông hiện nay

Các nhà GDH Việt Nam quan niệm: GDHN là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích giúp HS chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, thể lực và tâm lí của cá nhân với

Trang 28

nhu cầu nhân lực xã hội Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục – học tập trong nhà trường

Các tác giả như Trần Trọng Thủy (1978), Phạm Tất Dong (1984), Nguyễn Trọng Bảo (1985), Nguyễn Ngọc Quang (1989), Phạm Huy Thụ (1996), Đặng Danh Ánh; Nguyễn Minh Đường; Hà Thế Truyền; Phùng Đình Mẫn (2005) đã đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về GDHN Tuy nhiên các tác giả đều thống nhất GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động nhằm giúp HS chọn nghề phù hợp Cụ thể:

Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo (1985), Phùng Đình Mẫn (2005): GDHN là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm chuẩn bị cho thế

hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, tri thức, kĩ năng, để họ có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về GDHN của các nhà khoa học, dù ở khía cạnh nào thì các quan niệm trên cũng đã nhấn mạnh đến những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, GDHN là quá trình tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó

nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần, đồng thời giúp HS chọn nghề phù hợp với năng lực, hứng thú, sở trường của bản thân và nhu cầu của xã hội

Thứ hai, GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động: các biện pháp tâm lý học,

sinh lí học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác để GDHN cho HS

Thứ ba, trong nhà trường phổ thông, GDHN vừa là hoạt động dạy của GV, là công

việc của tập thể sư phạm vừa là hoạt động học của HS, HS lĩnh hội được những thông tin

về nghề trong xã hội, đặc điểm yêu cầu của từng nghề … và kết quả cuối cùng của GDHN là HS chọn được nghề phù hợp Trên cơ sở các quan niệm trên, theo chúng tôi: GDHN là một tổ hợp các hoạt động của nhà trường, gia đình và xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp tri thức, hình thành kĩ năng chọn nghề cho HS trên cơ sở đó HS lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của

xã hội Như vậy, các quan niệm trên cho thấy GDHN được thực hiện thông qua rất nhiều

Trang 29

hoạt động, nhiều con đường khác nhau, với các mục tiêu và nội dung khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là giúp HS chọn được nghề phù hợp

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm hướng nghiệp

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thông dụng, hướng nghiệp được hiểu theo hai khía cạnh [38]:

Thứ nhất, tạo điều kiện xác định nghề nghiệp cho người khác: Công tác hướng

nghiệp cho thanh niên HS;

Thứ hai, giáo dục có định hướng: Trường hướng nghiệp Hướng nghiệp thường được

hiểu trên hai bình diện: bình diện xã hội và bình diện trường phổ thông

Trên bình diện xã hội, hướng nghiệp có thể hiểu là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội có trách nhiệm tham gia Trong những điều kiện lý tưởng, thanh thiếu niên cần được hướng nghiệp thường xuyên bằng nhiều hình thức Nếu

xã hội biết tận dụng câu lạc bộ, nhà văn hóa, truyền hình, đài phát thanh, thư viện… vào công tác hướng nghiệp thì tác dụng hướng dẫn chọn nghề đối với các em sẽ rất to lớn Trên bình diện trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò

Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội

Tóm lại, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho HS chọn được nghề một cách hợp lý Hướng nghiệp là một trong những hình thức hoạt động học tập của HS Qua đó, mỗi HS phải lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, phải nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kỹ năng tự

Trang 30

đối chiếu những phẩm chất, những đặc điểm tâm – sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động

Như vậy, hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát

triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa

mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia

1.2.2 Khái niệm giáo dục

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập

theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường

diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học [38] 1.2.3 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp

GDHN có vai trò quan trọng trong việc giúp HS nắm được những kiến thức cơ bản

về nghề nghiệp và phát huy được tính chủ động, sự tự tin khi lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai, giúp các em linh hoạt và năng động trước sự phức tạp của nền kinh tế thị trường GDHN phải đem lại cho HS kinh nghiệm tìm hiểu thông tin nghề nghiệp, củng cố các quan điểm lao động, thái độ sẵn sàng đi vào cuộc sống, định hướng giá trị nghề nghiệp, hình thành ở các em động cơ đúng đắn trong tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp Giáo dục hướng nghiệp nhằm phát triển và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho HS, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề; định hướng cho HS đi vào những lĩnh vực mà xã hội đang có yêu cầu Trên bình diện trường Trung học, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội

GDHN có ba nhiệm vụ là định hướng nghề nghiệp, tư vấn chọn nghề và tuyển chọn nghề Ba nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau GDHN là một quá trình liên tục giúp đỡ mọi người suốt cả cuộc

Trang 31

đời để họ thực hiện được dự án cá nhân cũng như nghề nghiệp của mình bằng cách xác định những mong muốn và năng lực của mình thông qua thông tin và tư vấn về thực tế thế giới công việc, sự phát triển của nghề nghiệp, thị trường lao động, thực tiễn kinh tế và nhu cầu trong đào tạo Trong nhà trường phổ thông, thực chất công tác GDHN cho HS là quá trình GD nhằm điều chỉnh động cơ hứng thú nghề nghiệp của các em nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân với XH, giữa cá nhân với nghề, GD sự lựa chọn nghề nghiệp một cách có ý thức nhằm đảm bảo cho con người hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp và đạt năng suất cao Bên cạnh đó, GDHN phải giúp HS có được hướng giải quyết vấn đề và đối mặt với những ước mơ không thực hiện được

Như vậy, theo Phạm Viết Vượng, giáo dục hướng nghiệp là hoạt động định hướng nghề nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh, nhằm giúp họ chọn một nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân và yêu cầu nhân lực của xã hội [28, tr 322]

1.2.4 Khái niệm học sinh trung học phổ thông

Theo từ điển Lạc Việt, học sinh là người theo học ở trường [38]

Theo Bách khoa Toàn thư Việt Nam, học sinh hay học trò là những thiếu niên hoặc thiếu nhi trong độ tuổi đi học (6-18 tuổi) đang học tại các trường tiểu học, trung học cơ

sở hoặc trung học phổ thông [36] Học sinh là đối tượng cần sự giáo dục của cả gia đình

và nhà trường, vì vậy thông thường học sinh được tạo điều kiện đi học ở gần nhà Học sinh rất dễ bị tác động bởi các hiện tượng xã hội, vì vậy rất cần thiết sự theo dõi, định hướng, giáo dục từ gia đình và nhà trường

Nói tóm lại, từ những cách nhận thức đó, ta có thể hiểu học sinh THPT là những người đang theo học chương trình giáo dục và đào tạo ở các cơ sở giáo dục THPT

1.3 Các vấn đề lý luận về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

1.3.1 Nhiệm vụ, vai trò của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông a) Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp

GDHN cho HS phổ thông là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực GDHN có các nhiệm vụ sau đây:

Nhiệm vụ đầu tiên, là qua GDHN các em được làm quen với những nghề cơ bản

trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần

Trang 32

thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình Nhiệm vụ này được thể hiện trong suốt những năm còn ngồi trên ghế nhà trường Nhiệm vụ đó giúp các em có điều kiện tìm hiểu nghề trong xã hội (đặc biệt là nghề của địa phương) Từ sự làm quen này, sẽ giúp cho các bạn trẻ trả lời câu hỏi: Trong giai đoạn hiện nay, những nghề nào đang cần phát triển nhất, thái độ đối với nghề như thế nào là đúng, v.v Đồng thời, HS còn phải biết những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra, những điều kiện vào học nghề v.v…

Tóm lại, nhiệm vụ thứ nhất là hình thành ở HS những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển

Nhiệm vụ thứ hai, là hướng dẫn phát triển hứng thú nghề nghiệp: trong quá trình tìm

hiểu nghề, ở HS sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú nghề nghiệp Em HS này thích nông nghiệp, em khác thích công nghiệp, có em lại chỉ chú ý đến nghệ thuật, v.v Người làm hướng nghiệp sẽ hướng dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện, những hoàn cảnh riêng của từng em một

Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người gắn bó với nghề Vì vậy, hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp nghề của con người Ở một số nước, người ta đề ra nguyên tắc: Không bố trí vào nghề nếu không có hứng thú với nghề Trên quan điểm chủ nghĩa nhân đạo cũng như quan điểm tâm lý học, nguyên tắc đó là đúng

Song việc giáo dục đạo đức, giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa đối với sự hình thành và phát triển hứng thú Trong xã hội, không ít nghề ở ngoài sự định hướng của HS Nhưng khi thấy được hết tầm quan trọng của một nghề, có những HS đã dứt khoát chọn nghề ấy, và cảm thấy thoải mái hoặc hài lòng với sự lựa chọn của mình, từ đó nảy nở hứng thú với nghề

Nhiệm vụ thứ ba, là giúp HS hình thành năng lực nghề nghiệp tương ứng: Người ta

chỉ có thể yên tâm sống lâu dài với nghề nếu họ có năng lực chuyên môn thực sự, đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề của mình Xét đến cùng, ai cũng muốn có năng suất lao động cao, có uy tín trong lao động nghề nghiệp mặt khác, nghề nghiệp cũng không chấp nhận những người thiếu năng lực Vì vậy, trong quá trình hướng nghiệp, phải tạo điều kiện sao cho HS hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã có

Trang 33

Đối với HS phổ thông, con đường hình thành năng lực nghề nghiệp là tổ chức lao động sản xuất kết hợp với dạy nghề, HS sẽ được thử sức trong các hình thức hoạt động nói trên, từ đó năng lực nghề nghiệp sẽ nảy nở và phát triển

Nhiệm vụ cuối cùng, là giáo dục cho HS thái độ lao động, ý thức tôn trọng người lao

động thuộc các ngành nghề khác nhau, ý thức tiết kiệm và bảo vệ của công… Đây là những phẩm chất nhân cách không thể thiếu được ở người lao động trong xã hội của chúng

ta Có thể coi đây là nhiệm vụ giáo dục đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, là nhiệm vụ chủ yếu đối với thế hệ trẻ Cùng với các nhiệm vụ trên, nhiệm vụ này góp phần vào việc làm cho những phẩm chất nhân cách của người lao động được hài hòa và cân đối

Tóm lại, GDHN có mục đích cơ bản là hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào các ngành nghề mà đất nước hay ở từng địa phương đang cần Quá trình giáo dục hướng nghiệp phải làm cho HS có những hiểu biết cần thiết về thị trường lao động, biết cách lựa chọn nghề nghiệp có cơ sở khoa học, được làm quen với nghề để có hứng thú và thái độ đúng đắn, yêu quý nghề, và điều quan trọng là HS có được tình cảm, thói quen lao động để tiến tới có thể biết làm một số nghề truyền thống, nghề thông dụng đang cần duy trì và phát triển ở địa phương

Ngay từ khi học phổ thông, HS đã được chuẩn bị tâm thế và kỹ năng sẵn sàng đi vào cuộc sống, tự tạo việc làm ở gia đình và có thể tham gia lao động ở các thành phần kinh tế khác Đó là thiết thực góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng quê hương giàu mạnh, có cuộc sống lành mạnh để tiếp tục vừa làm vừa học lên

b) Vai trò của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

- Giáo dục hướng nghiệp giúp cho HS đánh giá bản thân ở những đặc điểm như:

Thứ nhất, trợ giúp HS khám phá hiểu được khả năng, năng lực nghề, năng lực học

tập của bản thân

Thứ hai, trợ giúp HS khám phá hiểu được tính cách phù hợp với nghề

Thứ ba, trợ giúp HS tìm hiểu sở thích, hứng thú của bản thân

- Giáo dục hướng nghiệp trợ giúp HS tìm hiểu về xu hướng nghề, giá trị nghề

- Trợ giúp HS xác định sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh gia đình với sự lựa chọn nghề trong tương lai

Trang 34

- Trợ giúp HS tìm hiểu về ngành, nghề, hệ thống trường đào tạo, nhu cầu thị trường lao động:

Thứ nhất, tìm hiểu về ngành nghề: Điều quan trọng quá trình lựa chọn nghề đúng là

HS phải hiểu rõ về nghề mình lựa chọn Hiểu những đặc điểm của nghề, yêu cầu của nghề, chính vì lẽ đó HS cần phải biết thu thập thông tin về nghề nghiệp, biết phân tích và lựa chọn thông tin một cách toàn diện nhất

Thứ hai, tìm hiểu về hệ thống trường, lớp đào tạo nghề của trung ương và địa

phương, hệ thống các trường đại học, cao đẳng

Thứ ba, tìm hiểu thông tin về ngành, nghề đào tạo

Thứ tư, tìm hiểu về nhu cầu thị trường lao động

Như vậy, sự nhận thức về nghề là kim chỉ nam, là cơ sở để thúc đẩy nhu cầu, hứng thú và tạo ra nguyện vọng chọn nghề cho HS Nhận thức đúng và đủ sẽ giúp các em có những rung cảm nghề nghiệp tích cực và chọn nghề phù hợp Nhận thức đúng đắn, đầy

đủ, sâu sắc về nghề nghiệp sẽ có tác dụng thúc đẩy hành động chọn nghề của HS phù hợp với nguyện vọng, khả năng của mình, hình thành tình cảm nghề nghiệp bền vững

- Trợ giúp HS ra quyết định chọn nghề phù hợp, có thể nói, chọn nghề phù hợp là nội dung rất quan trọng quá trình tham vấn nghề Khi ra quyết định chọn nghề là hoạt động của bản thân được chọn lọc để đưa ra một quyết định đảm bảo đạt được một kết quả nào đó theo mong muốn của bản thân và được cam kết để hành động;

F.Parsons (1909) đã đưa ra các bước trong quá trình chọn nghề gồm có: Đánh giá hiểu biết về bản thân; Hiểu biết của bản thân về thế giới nghề; Kết hợp giữa bản thân và thế giới nghề nghiệp [31] Tác giả Eugene Joseph Martinez (1980) chỉ ra rằng ra quyết định chọn nghề được thể hiện qua 3 giai đoạn: Hiểu việc quyết định họn nghề; Tự hiểu bản thân; Hiểu thông tin [29], UNESCO (2002) đã đưa ra 6 bước trong quá trình ra quyết định chọn nghề: Nâng cao nhận thức bản thân; Liên kết sự nhận thức bản thân với những yêu cầu nghề nghiệp; Nghiên cứu, tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp; Ra quyết định; Xác định mục tiêu;

Kế hoạch tìm kiếm nghề nghiệp [35]

Khi đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp, điều quan trọng là cá nhân phải ý thức được giá trị, năng lực, sở thích của bản thân, sự hiểu biết đúng về bản thân là động lực kích

Trang 35

thích sự lựa chọn nghề phù hợp Do vậy, HS muốn có được những quyết định chọn nghề đúng đắn thì cần phải đối chiếu năng lực, sở thích, tính cách, của cá nhân với những đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề, và với nhu cầu nhân lực của xã hội Quan trọng và chủ yếu nhất là kết hợp hài hòa ba yếu tố trên trong đó yếu tố đặt lên hàng đầu đối với HS là “Nghề

đó cần cho xã hội” Theo như Trần Thế Linh (1994): “Lựa chọn nghề nghiệp là quá trình đối chiếu so sánh những đặc điểm yêu cầu tính chất của một nghề với điều kiện của bản thân về năng lực, nhu cầu, nguyện vọng, sở thích để tìm cho mình một nghề nghiệp phù hợp Việc lựa chọn này đòi hỏi một sự cân nhắc, suy nghĩ nghiêm túc xuất phát từ những điều kiện đã có của bản thân, kết hợp với việc tiếp thu kinh nghiệm của những người đi trước” [36]

- Trợ giúp HS giải quyết những mâu thuẫn giữa bản thân và cha mẹ trong sự lựa chọn ngành nghề: Hiện tượng HS bị cha mẹ, người thân trong gia đình phản đối việc chọn nghề của các em cũng khá phổ biến Người lớn can thiệp vào việc chọn nghề của các em thường

do động cơ muốn con em mình chọn những nghề mà theo chủ quan của họ thì đó là lĩnh vực hoạt động mang lại lợi ích thiết thực

Mâu thuẫn giữa chọn nghề theo sở thích và chọn nghề theo năng lực: Bản thân HS

sẽ có mâu thuẫn này, giữa một bên là năng lực không đủ với một bên là sở thích vượt quá

so với khả năng, do vậy, người GV cần phải giúp HS hiểu được chọn nghề theo yếu tố nào là cần thiết

- Trợ giúp HS giải tỏa những khó khăn tâm lí trong quá trình chọn nghề, cùng với các nội dung tham vấn nghề nêu trên, việc trợ giúp HS giải tỏa tâm lí là nội dung cuối cùng và không thể thiếu được trong tham vấn nghề Chính vì thế giải tỏa tâm lí cho HS không những là nội dung mà còn là mục tiêu của tham vấn nghề Trong quá trình trợ giúp HS tự đánh giá bản thân, tìm hiểu về ngành, nghề, về trường thi, trợ giúp HS lựa chọn nghề, người GV phải luôn luôn chú ý đến trạng thái tâm lí của HS: Băn khoăn, lo lắng, buồn bực, chán nản,… để nhận xét và đánh giá mức độ nhận thức và giải quyết những khó khăn trong quá trình chọn nghề của HS Trạng thái tâm lí trên luôn tỉ lệ thuận với mức độ giải quyết khó khăn của HS Nhờ có quá trình tham vấn của GV, những khó khăn trong quá trình chọn nghề của HS dần được tháo gỡ và cùng với nó là trạng thái tâm lí dần được cải

Trang 36

thiện Như vậy, việc giải tỏa tâm lí cho HS là hệ quả tất yếu có được sau khi GV thực hiện xong các nội dung trên Để thực hiện tốt nội dung này, đòi hỏi người GV phải có kĩ năng

và kinh nghiệm quan sát, phát hiện những biểu hiện tâm lí của HS trong quá trình tham vấn nghề Sau khi được tham vấn nghề, HS hiểu biết hơn về bản thân, về ngành nghề và lựa chọn được ngành nghề phù hợp, từ đó HS có được trạng thái tâm lí thoải mái, vui vẻ, yên tâm, tin tưởng hơn vào bản thân và sự lựa chọn nghề của mình

1.3.2 Nội dung của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Hướng nghiệp là một họat động GD trong nhà trường phổ thông GDHN giúp HS

có những hiểu biết nhất định về nghề nghiệp, về định hướng phát triển KT - XH của địa phương, của vùng và của đất nước Từ đó có thể định hướng phát triển, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với hứng thú cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu XH Trên cơ sở đó,

HS tiếp tục học tập, rèn luyện để có thể phát triển trong hoạt động nghề nghiệp tương lai Hướng nghiệp cho HS nhằm thực hiện mục tiêu GD toàn diện, góp phần vào việc phân luồng HS bậc trung học, là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực XH Hoạt động GDHN đã được Bộ GD và ĐT đưa vào chương trình phổ thông từ lớp

10 đến lớp 12 gồm những nội dung chủ yếu sau [39]:

- Nội dung thứ nhất là những chủ đề giúp HS tìm hiểu thế giới nghề nghiệp

- Nội dung thứ hai là những chủ đề giúp HS tìm hiểu thông tin về định hướng phát

triển KT - XH, về thị trường lao động ở địa phương, cả nước, xa hơn nữa là trong khu vực và thế giới

- Nội dung thứ ba là những chủ đề giúp HS tự đánh giá hứng thú và năng lực nghề

nghiệp của bản thân

- Nội dung thứ tư là tư vấn chọn nghề cho HS

Theo quan điểm và kết quả điều tra của Lê Hương, hiểu biết của học sinh về những điểm tựa cần chú ý khi lựa chọn ngành nghề không hoàn toàn chi phối hành động thực tế của các em trong lựa chọn ngành học Tính thực dụng được thể hiện ở khá nhiều em (khoảng 1/2 số học sinh) khi các em xem khả năng dễ tìm được việc làm sau quá trình đào tạo nghề (nhu cầu xã hội về nhân lực trong nghề đã lựa chọn) hoặc triển vọng phát triển của nghề trong tương lai là 1 trong 5 nhân tố quan trọng nhất cần tính đến khi quyết

Trang 37

Sự lựa chọn ngành nghề chịu sự chi phối bởi định hướng giá trị nghề của các em nhiều hơn là những hiểu biết lý thuyết là phải chọn nghề như thế nào cho khoa học Những lý do chi phối hành động lựa chọn ngành học khá phù hợp với định hướng giá trị của các em thể hiện trong đánh giá các giá trị của hoạt động nghề nghiệp Thu nhập tốt là

lý do được nhiều em lấy làm cơ sở để quyết định sẽ theo học một nghề nào đó

Về cơ bản, những lý do xuất phát điểm để học sinh lựa chọn một ngành nghề nào đó thật sự gắn với những giá trị đích thực của nghề nghiệp: Nghề nghiệp có thể đem lại thu nhập, thoả mãn những nhu cầu tinh thần và tạo cơ hội cho mỗi cá nhân đóng góp sức mình cho xã hội Tính nhàn hạ của công việc hay cơ hội làm việc gần nhà không phải là những giá trị chi phối hành động lựa chọn ngành sẽ học của nhiều em Cũng không nhiều

em bị chi phối bởi mong muốn của bố mẹ , đặc biệt là bạn bè Cơ hội thăng tiến sau này cũng chỉ được khoảng gần 1/5 số em xem là 1 trong 5 lý do quan trọng nhất để em lựa chọn ngành nghề

– Điều đáng chú ý là sự phù hợp giữa năng lực cá nhân với nghề chỉ chi phối hành động lựa chọn nghề của 57,2% số em và hứng thú nghề chi phối 58,7% số em

Hiểu biết của học sinh THPT về những ngành nghề đã lựa chọn sẽ học sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông

Theo kết quả khảo sát thì khoảng 2/3 số học sinh có biết sơ sơ về các công việc cụ thể của những người lao động làm trong những ngành nghề mà các em đã chọn hoặc nơi làm việc của những người có chuyên môn ngành đó, khoảng 1/6 biết rõ và ít hơn một chút là không biết gì về những điều này Tuy nhiên, thực chất của những hiểu biết đó là như thế nào thì chúng ta cũng dề hình dung được, khi mà hiện nay ở nước ta chưa có những tổ chức soạn thảo những hệ thống thông tin chuẩn, chi tiết và bám sát những thay đổi trong quá trình phát triển của các loại ngành nghề trong xã hội [22]

- Nội dung thứ năm là GD cho HS thái độ lao động, ý thức tôn trọng người lao động

thuộc các nghành nghề khác nhau

1.3.3 Hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Theo Phạm Viết Vượng [28], hiện nay GDHN ở trường THPT được thực hiện thông qua các con đường:

Trang 38

- GDHN thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản nhằm khai thác mối liên hệ

giữa kiến thức môn học với các ngành nghề, gắn nội dung của bài học với cuộc sống sản xuất bằng cách tích hợp, lồng ghép những kiến thức môn học với kiến thức nghề nghiệp giúp cho HS hiểu biết những vấn đề liên quan đến các ngành nghề trong xã hội, phát hiện

và bồi dưỡng những năng khiếu của HS Trên cơ sở đó GV định hướng chọn nghề cho

HS phù hợp với năng khiếu đó

- GDHN thông qua hoạt động dạy học môn công nghệ nhằm cung cấp cho HS

những nguyên lí cơ bản về kĩ thuật, công nghệ khoa học, quy trình sản xuất trong thực tế, làm cho HS hiểu được những ứng dụng của chúng trong hoạt động nghề nghiệp khác nhau, giúp HS có những kiến thức cơ bản về ngành nghề trong xã hội

- GDHN thông qua tổ chức cho HS học các nghề phổ thông tại các trung tâm hướng

nghiệp dạy nghề như chăn nuôi, làm vườn, trồng cây hoa cảnh…các nghề truyền thống, sửa chữa dân dụng, tin học…Tại các trung tâm hướng nghiệp các em vừa được học kiến thức nghề, vừa được thực hành, luyện tập các kỹ năng của một nghề

- GDHN thông qua tổ chức cho HS tham quan các nhà máy, xí nghiệp, các cơ quan

văn hóa, xã hội, các viện nghiên cứu khoa học

- GDHN thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa tìm hiểu về nghề, mời những

chuyên gia tư vấn tâm lí, y học, lao động đến nói chuyện và giải đáp những thắc mắc của học sinh khi chọn nghề

- Tổ chức các kì thi tìm hiểu về nghề, thi các sản phẩm “khéo tay hay làm” nhân các

ngày hội kỉ niệm ngày Phụ nữ mùng 8 tháng 3, ngày Thành lập Đoàn 26 tháng 3

1.3.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 1.3.4.1 Các yếu tố thuộc về học sinh

- Nhận thức và thái độ của HS về vấn đề chọn nghề: HS THPT có độ tuổi từ 15

đến 18 tuổi, một lứa tuổi ngây thơ, hồn nhiên với nhiều ước mơ, hoài bão, luôn khát khao vươn tới và luôn muốn tự khẳng định giá trị bản thân mình Tuổi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời, của cuộc sống đầy hấp dẫn, lý thú nhưng cũng đầy bí ẩn, thử thách Chọn nghề là công việc hệ trọng của con người và của cả đời người, người ta thường bảo, chọn nghề là chọn cuộc đời, chọn số phận Do đó, việc lựa chọn nghề nghiệp

Trang 39

đã trở thành mối quan tâm sâu sắc, thường xuyên ngự trị trong hoạt động và suy nghĩ của

HS, nhất là các em HS lớp 12 Bởi vì xác định và chọn được đúng nghề nghiệp phù hợp với năng lực của bản thân và yêu cầu của XH là việc các em đã định đoạt tương lai và vạch ra hướng đi cho mình

Vì lẽ đó, sau khi tốt nghiệp THPT, tuyệt đại đa số HS chỉ muốn xét vào các trường

ĐH, coi con đường đi học ĐH là hướng duy nhất có tương lai để lập thân, lập nghiệp mà không nghĩ đến trình độ, khả năng, điều kiện về mọi mặt của bản thân và gia đình HS cũng không chú ý đến điều kiện và yêu cầu phát triển KT - XH của địa phương, của vùng

và của đất nước

Mặc khác, HS cũng chưa tự đánh giá được đúng phẩm chất và năng lực, những đặc điểm về tâm sinh lý, những điểm mạnh điểm yếu của bản thân, hoàn cảnh gia đình cũng như đặc điểm KT - XH của địa phương nơi mình sinh sống Do đó phần lớn HS chọn nghề chỉ theo một suy nghĩ duy nhất là dựa vào ý thích cá nhân, hoàn toàn theo cảm tính

và chủ quan Vì vậy, không ít HS biết rằng khả năng học đại học khó có thể vượt qua những thử thách mới trên giảng đường đại học, song vẫn đăng ký xét vào đại học xem sao, theo phong trào hay vì một chút sỹ diện cá nhân và gia đình, hoặc có cơ hội đi đây,

đi đó, ra tỉnh, lên thành phố…

- Kiến thức của HS về vấn đề chọn nghề: đa phần HS thiếu nhiều kiến thức về chọn

nghề, chưa hiểu được mình sẽ chọn ngành nghề gì để định hướng cho tương lai Đối với chọn nghề không thể nay chọn nghề này, mai chọn nghề khác hoặc chọn nghề “theo phong trào”, theo sự áp đặt của người khác vừa lãng phí thời gian, vừa lãng phí tiền bạc nhiều

HS THPT không tỏ ra năng động, nhạy bén, không thể chỉ dựa vào thông tin tư vấn một chiều, mà phải có sự tư vấn đa chiều để có thể phân tích, tổng hợp Ngành nào cũng quý nhưng điều quan trọng là ngành đó có phù hợp với khả năng học tập, khả năng tài chính của cá nhân mình và gia đình hay không tất cả những hạn hẹp trong nhận thức đó đã đẩy nhiều HS tiến thoái lưỡng nan khi đặt chân vào giảng đường đại học hay khi bắt tay vào nghề nghiệp của mình

- Đặc điểm nhân cách của HS: nói HS là người lớn thì chưa phải người lớn, nhưng

nói trẻ con thì cũng không còn trẻ con HS vừa mang dáng vấp của người lớn nhưng cũng

Trang 40

vừa mang dáng vấp của một đứa trẻ, dáng vấp của người lớn đó là HS đã có những hoài bảo và ước mơ về một tương lai của mình, bên cạnh đó dáng vấp của một đứa trẻ cũng ngự trị trong tâm hồn của học sinh đó là lo chưa tới những vấn đề trong tương lai của mình hay

lo lắng cho xã hội Chính vì vậy, HS thường có tâm lý học đòi theo người lớn, kiên quyết theo những lựa chọn của mình mặc dù chưa nhận thức rõ là đúng hay sai Đây là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của HS, mạnh khi các em chọn đó là đúng và vì như vậy các em

sẽ kiên quyết làm cho đạt mục đích mà mình đã lựa chọn, nhưng sẽ là yếu nếu như sự lựa chọn đó là sai sầm, lạc hướng Chính đặc điểm này nên cần phải giáo dục và định hướng nghể nghiệp cho các em ngay từ sớm để không làm lỡ vỡ tương lai của học sinh

1.3.4.2 Các yếu tố thuộc về Nhà trường

- Nhận thức của cán bộ quản lí nhà trường và giáo viên về tầm quan trọng của GDHN cho HS: cán bộ quản lý đóng vai trò quan trọng trong thành công của hoạt động giáo dục

trong nhà trường nói chung, hoạt động giáo dục hướng nghiệp nói riêng

Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu được hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp một cách đầy đủ và chuyên nghiệp của học sinh ngày càng cao; tuy nhiên giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, so với các hoạt động khác, chưa được quan tâm và đầu tư kỹ lưỡng Nếu cán bộ quản lý nhà trường có trách nhiệm cao với hoạt động giáo dục hướng nghiệp, thì hoạt động này sẽ được quan tâm song song với các hoạt động giáo dục khác của nhà trường như dạy văn hoá, bồi dưỡng học sinh giỏi… và chất lượng của hoạt động này sẽ được nâng lên Nếu cán bộ quản lý không quan tâm, thì mọi cố gắng của các bộ phận khác đều không đạt được kết quả mong muốn

Bởi vậy, biện pháp này có ý nghĩa rất quan trọng và cần tăng cường tinh thần trách nhiệm cho cán bộ quản lý, làm cho cán bộ thấy được sự quan trọng của định hướng và tư vấn nghề đối với sự phát triển của xã hội nói chung, của cá nhân học sinh nói riêng Xây dựng chế độ trách nhiệm cá nhân của cán bộ quản lý, giao chức trách, nhiệm vụ cụ thể với những quyền hạn nhất định, trên cơ sở đó tiến hành kiểm tra việc hoàn thành nhiệm vụ đó

- Kiến thức và kĩ năng của cán bộ quản lí, giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động GDHN cho HS: cán bộ quản lý là người định hướng, dẫn dắt học sinh vào quá trình

lựa chọn nghề nghiệp cho nên cán bộ quản lý phải là người có kiến thức xã hội tổng hợp,

Ngày đăng: 20/09/2022, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Kỉ yếu hội thảo “Đối thoại Pháp – Á về các vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại Pháp – Á về các vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[5]. Quốc hội (2005), Luật Giáo dục sửa đổi 2009, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục sửa đổi 2009
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[6]. UBND tỉnh Kiên Giang (2010), Chương trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, Kiên Giang.1.2. Cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh Kiên Giang đến năm 2020", Kiên Giang
Tác giả: UBND tỉnh Kiên Giang
Năm: 2010
[7]. Lê Vân Anh (1982), “Một số ý kiến của N.C.Krupskaia về hướng nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến của N.C.Krupskaia về hướng nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Lê Vân Anh
Năm: 1982
[8]. Đặng Danh Ánh (2001), Một số vấn đề tâm lý - GDHN, Tạp chí Thông tin khoa học Giáo dục số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm lý - GDHN
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2001
[9]. Nguyễn Trọng Bảo (1985), GD lao động, KTTH, Hướng nghiệp trường phổ thông, Nxb sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GD lao động, KTTH, Hướng nghiệp trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo
Nhà XB: Nxb sự thật
Năm: 1985
[12]. Phạm Tất Dong (chủ biên) (1990), Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông
Tác giả: Phạm Tất Dong (chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1990
[13]. Phạm Tất Dong (chủ biên) (1987), Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông
Tác giả: Phạm Tất Dong (chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1987
[14]. Phạm Tất Dong (chủ biên) (1994), Hướng nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, Thế giới mới, số 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Phạm Tất Dong (chủ biên)
Năm: 1994
[15]. Phạm Tất Dong (Chủ biên), Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Trần Mai Thu (2006), Hoạt động GDHN 10, Sách giáo viên, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động GDHN 10, Sách giáo viên
Tác giả: Phạm Tất Dong (Chủ biên), Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Trần Mai Thu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
[16]. Phạm Tất Dong (Chủ biên), Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Trần Mai Thu (2007), Hoạt động GDHN 11, Sách giáo viên, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động GDHN 11, Sách giáo viên
Tác giả: Phạm Tất Dong (Chủ biên), Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Trần Mai Thu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
[17]. Phạm Tất Dong (Chủ biên), Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Trần Mai Thu (2008), Hoạt động GDHN 12, Sách giáo viên, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động GDHN 12, Sách giáo viên
Tác giả: Phạm Tất Dong (Chủ biên), Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Trần Mai Thu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2008
[18]. Phạm Tất Dong (Chủ biên), Hà Đễ, Phạm Thị Thanh, Trần Mai Thu (2005), GDHN 9, Sách giáo viên, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDHN 9, Sách giáo viên
Tác giả: Phạm Tất Dong (Chủ biên), Hà Đễ, Phạm Thị Thanh, Trần Mai Thu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
[19]. Lê Thị Mai Hoa, (2015), Hỏi – Đáp về giáo dục hướng nghiệp và nghề nghiệp trong các cơ sở giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi – Đáp về giáo dục hướng nghiệp và nghề nghiệp trong các cơ sở giáo dục
Tác giả: Lê Thị Mai Hoa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
[20]. Trương Thị Hoa (2014), Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông khu vực Hà Nội qua tham vấn nghề, Luận án Tiến sĩ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông khu vực Hà Nội qua tham vấn nghề
Tác giả: Trương Thị Hoa
Năm: 2014
[22]. Lê Hương, (2017), Ở Việt Nam hiện nay, giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp vẫn còn chưa thật sự được chú trọng, Viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ở Việt Nam hiện nay, giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp vẫn còn chưa thật sự được chú trọng
Tác giả: Lê Hương
Năm: 2017
[23]. Lê Hồng Minh (2002), Hướng nghiệp và sự phân luồng HS trung học tại một số nước trên thế giới, chuyên đề I của đề tài HN&TNHN - 02 cấp Thành phố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiệp và sự phân luồng HS trung học tại một số nước trên thế giới
Tác giả: Lê Hồng Minh
Năm: 2002
[24]. Nguyễn Thị Nhung (2008): “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông miền núi Tây Bắc” Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông miền núi Tây Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung
Năm: 2008
[25]. Bùi Việt Phú (2009), Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa, Luận án tiến sĩ
Tác giả: Bùi Việt Phú
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm2003và năm2004 - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
Bảng 1 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm2003và năm2004 (Trang 28)
- Cách tiến hành: Quan sát hoạt động, hình thức, nội dung tư vấn và ghi nhận cụ thể bằng biên bản quan sát (xem Phụ lục 7, trang 99) - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
ch tiến hành: Quan sát hoạt động, hình thức, nội dung tư vấn và ghi nhận cụ thể bằng biên bản quan sát (xem Phụ lục 7, trang 99) (Trang 51)
Bảng 2.1: Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh về - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh về (Trang 51)
Bảng 2.2: Thực trạng nội dung GDHN cho HS - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
Bảng 2.2 Thực trạng nội dung GDHN cho HS (Trang 53)
Trong phạm vi nghiên cứu, người khảo sát tập trung vào 7 hình thức GDHN cho HS tại trường hiện nay về  Mức độ thường xuyên (Không bao giờ, Hiếm khi, Thỉnh thoảng,  Thường xuyên,  Rất thường xuyên)  cũng  như Mức độ thực  hiện (Kém, Yếu, Trung bình,  Khá, - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
rong phạm vi nghiên cứu, người khảo sát tập trung vào 7 hình thức GDHN cho HS tại trường hiện nay về Mức độ thường xuyên (Không bao giờ, Hiếm khi, Thỉnh thoảng, Thường xuyên, Rất thường xuyên) cũng như Mức độ thực hiện (Kém, Yếu, Trung bình, Khá, (Trang 57)
Nhìn chung, các hình thức GDHN cho HS chỉ được thường xuyên thực hiện thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản, môn công nghệ, tổ chức cho HS học các nghề phổ  thơng - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
h ìn chung, các hình thức GDHN cho HS chỉ được thường xuyên thực hiện thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản, môn công nghệ, tổ chức cho HS học các nghề phổ thơng (Trang 60)
10 Hiểu biết của cha mẹ HS về tình hình kinh tế - xã - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
10 Hiểu biết của cha mẹ HS về tình hình kinh tế - xã (Trang 61)
Nhóm biện pháp liên quan đến hình thức GDHN cho HS - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
h óm biện pháp liên quan đến hình thức GDHN cho HS (Trang 92)
BẢNG HỎI - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
BẢNG HỎI (Trang 105)
10 Hiểu biết của cha mẹ HS về tình hình kinh tế - xã hội, về các - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
10 Hiểu biết của cha mẹ HS về tình hình kinh tế - xã hội, về các (Trang 107)
BẢNG HỎI - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
BẢNG HỎI (Trang 108)
BẢNG HỎI - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
BẢNG HỎI (Trang 112)
10 Hiểu biết của quý phụ huynh về tình hình kinh tế - xã hội, về các - Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông nguyễn trung trực, thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang
10 Hiểu biết của quý phụ huynh về tình hình kinh tế - xã hội, về các (Trang 114)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w