Chương II: Vấn đề đạo đức kinh doanh ở một số quốc giaTrong chương này, người viết xin đề cập đến kinh nghiệm phát triển đạo đứckinh doanh, về những gì đã đạt được và những mặt còn tồn t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU
Viện Quản lý-Kinh Doanh
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CỦA 3 NƯỚC
MỸ, VIỆT NAM, NHẬT BẢN
Ngành :Quản trị kinh doanh
Chuyên ngành :Marketing và tổ chức sự kiện
Khoá học :2016-2020
Giảng viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Sinh viên thực hiện :Vũ Gia Tô 16031297
Phạm Thành Danh 16031299 Trần Thanh Hà 16031070
Từ Minh Hiển 16031196
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: Lý luận chung về đạo đức kinh doanh 2
1. Tổng quan về đạo đức kinh doanh 2
1.1 Khái niệm đạo đức 2
1.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh 2
2. Các khía cạnh thể hiện của đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp 6
2.1 Đạo đức trong quản trị doanh nghiệp 6
2.2 Đạo đức trong quan hệ với khách hàng 7
2.3 Những hoạt động marketing phi đạo đức 7
3. Vai trò của đạo đức kinh doanh 9
Chương II: Vấn đề đạo đức kinh doanh ở một số quốc gia 9
1 Mỹ 10
nền kinh tế và nền tảng đạo đức kinh doanh phát triển nhất thế giới 10
1.1 Sự chủ động trong nhận thức và giải quyết các vấn đề đạo đức kinh doanh của các doanh nhân Mỹ 10
1.2 Sự tham gia giám sát và _phản biện xã hội tích cực của công chúng Mỹ 16
1.3 Sự quan tâm của chính phủ Mỹ đến vấn đề đạo đức kinh doanh 18
2 Nhật Bản 24
3 Việt Nam 37
Chương III: Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập 44
1 Thực trạng đạo đức kinh doanh Việt Nam 44
2 Bài học kinh nghiệm để phát triển đạo đức kinh doanh ở Việt Nam 56
2.1 Nhóm giải pháp từ góc độ doanh nghiệp: 56
2.2 Nhóm giải pháp từ góc độ Nhà nước: 60
KẾT LUẬN 62
Trang 3CHƯƠNG I: Lý luận chung về đạo đức kinh doanh
1 Tổng quan về đạo đức kinh doanh.
1.1
Khái niệm đạo đức
khái niệm đạo đức được hiểu là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong quan hệ với cá nhân khác, với toàn xã hội.
Nội dung của các chuẩn mực đạo đức thay đổi theo điều kiện lịch sử cụ thể:Qua từng giai đoạn phát triển khác nhau của các hình thái tổ chức xã hội Chúng
ta dễ dàng nhân thấy sự khác biệt trong chuẩn mực đạo đức của từng thời kỳ.Nếu như trong xã hội phong kiến, việc trung thành với quân vương là tiêu chuẩntiên quyết trong đánh giá tư cách đạo đức con người thì đến các xã hội sau này,tiêu chuẩn này đã mất đi
Trong các hình thái xã hội phát triển cao hơn về sau này, khi có sự xuất hiệncủa Nhà nước, pháp luật đã được ra đời và cùng đóng vai trò điều chỉnh hành vicủa con người trong xã hội với đạo đức Tuy nhiên, đạo đức có những đặc điểmkhác biệt mà pháp luật không có được:
•Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức không mang tính cưỡng chế, cưỡng bứcnhư pháp luật mà mang tính tự nguyện Các chuẩn mực đạo đức cũng khôngđược qui định thành văn
•Phạm vi điều chỉnh của đạo đức rộng hơn so với pháp luật khi nó không chỉđiều chỉnh những hành vi của con người như pháp luật mà còn bao quát mọilĩnh vực của thế giới tinh thần
1.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh
1.2.1 Sự phát triển của khái niệm đạo đức kinh doanh trong các thời kì lịch sử.a) Sự phát triển của khái niệm đạo đức kinh doanh trước thời kì hiện đại
Lịch sử xuất hiện của đạo đức kinh doanh gắn liền với sự ra đời và phát triển
Trang 4của buôn bán, thương mại trên thế giới Từ thuở ban đầu, trong các hoạt độngbuôn bán, trao đổi người ta đã qui định, đòi hỏi với nhau những nguyên tắc,chuẩn mực đạo đức như: không được trộm cắp, phải trung thực, sòng phẳngtrong trao đổi; phải có chữ tín, tôn trọng các cam kết thỏa thuận Đây là nhữngnguyên tắc ban đầu của đạo đức kinh doanh.
Trong giai đoạn đầu phát triển, những tín điều tôn giáo đóng vai trò quantrọng trong việc hình thành và xây dựng ý thức tuân thủ các nguyên tắc, chuẩnmực đạo đức của mọi người
Ở phương Tây, trong Luật Tiên tri lâu đời đã có những lời khuyên như: đếnmùa thu hoạch, mọi người không nên gặt hái hết hoa màu mà nên dành lại mộtphần để dành cho những người nghèo khó; hay mỗi tuần nên dành một ngày đểcho cả chủ và thợ được nghỉ ngơi Đến thời Trung cổ, Giáo hội La Mã đã cóLuật đề ra những nguyên tắc của đạo đức kinh doanh như: mọi người phải trungthực trong trao đổi, buôn bán theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán”; không nêntrả lương quá thấp cho người làm công
Ở phương Đông, những tư tưởng về đạo đức kinh doanh đã được tìm thấytrong Luật Hồi giáo với những điều răn dạy ngăn cản việc cho vay lấy lãi, trừtrường hợp bỏ vốn ra đầu tư, buôn bán thì được phép hưởng lợi và đặc biệt lànhững tư tưởng của các học giả Trung Quốc thời cổ đại mà tiêu biểu đó làKhổng Tử và Hàn Phi Tử Nhắc đến Khổng Tử là nhắc đến tư tưởng Đức trịđược thể hiện qua Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Dũng của ông
Nhẫn là biết yêu thương, giúp đỡ người khác và lấy đó làm phương hướng
rèn luyện của bản thân Nhân là yếu tố quan trọng nhất, đóng vai trò chi phốitrong Ngũ thường
Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì dốc sức làm không mưu lợi cá nhân với
cả phương châm “không thành công cũng thành nhân” Quan điểm này đã đượcphát triển thành tư tưởng “đạo đức vĩ mô” trong đạo đức phương Tây thời gian
Trang 5sau này.
Lễ là hình thức của Nhân, chủ trương “điều mình không muốn làm cho mình
thì không nên làm cho người khác”
Trí là có trí tuệ, biết mình, biết người.
Dũng là sự kiên cường, quả cảm vượt qua khó khăn để đạt được mục đích đề
ra, thậm chí là sẵn sàng hi sinh bản thân vì mục đích cao cả Ở phương Tây,triết lý quản lý của nhiều công ty coi rủi ro là một yếu tố tất yếu trong quá trìnhhoạt động, ra quyết định và họ khuyến khích tinh thần dám đối mặt và phấn đấuvượt qua thách thức, khó khăn
Khác hẳn với Khổng Tử, Hàn Phi Tử lại chủ trương dùng pháp trị, coi hìnhphạt là cách thức ngăn chặn những hành vi xấu hiệu quả nhất Ông đưa ra bakhái niệm trong học thuyết cai trị của mình đó là Thế, Pháp và Thuật
Thế là quyền thế, là sự coi trọng quyền lực Theo ông, quyền lực phải được
tập trung và thưởng phạt là cách thức cai trị
Pháp là pháp luật, là căn cứ để phân biệt đúng - sai, phải - trái, thể hiện tính
công bằng và phải được công khai, phổ biến rộng rãi
Thuật là nghệ thuật cai trị Ông cho rằng trong nghệ thuật cai trị bao gồm 2
khía cạnh là kỹ thuật và tâm thuật Kỹ thuật là cách thức tuyển dụng, đánh giá,quản lý Còn tâm thuật là các mưu mẹo, thủ thuật khống chế, điều khiển hànhvi
Khái niệm đạo đức kinh doanh.
Trên thế giới hiện nay, tồn tại rất nhiều định nghĩa về đạo đức kinh doanhcủa các học giả, các nhà nghiên cứu dựa trên những góc độ và quan điểm nhìnnhận khác nhau
Khái niệm đơn giản nhất về đạo đức kinh doanh của các học giả phương Tây
đưa ra đó là định nghĩa của Brenner theo đó: “Đạo đức kinh doanh là những
nguyên tắc được chấp nhận để phân định đúng sai, nhằm điều chỉnh hành vi
Trang 6của các nhà kinh doanh
Đạo đức kinh doanh có các nguyên tắc là:
Tính trung thực: Gồm trung thực với Nhà nước cụ thể là: trung thực trong
chấp hành pháp luật của Nhà nước, không làm ăn phi pháp, không sản xuất vàbuôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ có hại cho thuầnphong mỹ tục và trung thực với đối tác, người tiêu dùng cụ thể là: không dùngcác thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời, giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinhdoanh, nhất quán trong nói và làm
Tôn trọng con người: Đối với cộng sự và những người dưới quyền thì phải
tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềmnăng phát triển của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do cánhân và các quyền hợp pháp khác Đối với khách hàng: phải tôn trọng nhu cầu,
sở thích và tâm lý khách hàng Đối với đối thủ cạnh tranh thì phải tôn trọng lợiích của đối thủ
Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội.
Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt.
Đạo đức kinh doanh điều chỉnh các chủ thể trong hoạt động kinh doanh bao gồm:
Tầng lớp doanh nhân thực hiện hoạt động kinh doanh: đạo đức kinh doanhđiều chỉnh hành vi đạo đức của tất cả các thành viên trong các tổ chức kinhdoanh ( hộ gia đình, công ty, tập đoàn, xí nghiệp) như ban giám đốc, cán bộnhân viên Sự điều chỉnh này chủ yếu thông qua công tác lãnh đạo, quản lýtrong những tổ chức đó Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức nghề nghiệp củahọ
Khách hàng và các đối tác kinh doanh của doanh nghiệp: Các khách hàngkhi thực hiện hoạt động mua hàng cũng đều xuất phát từ lợi ích kinh tế của bản
Trang 7thân, đều có tâm lý muốn mua rẻ và được phục vụ chu đáo Vì vậy, nó cũng cầnphải chịu sự điều chỉnh của đạo đức kinh doanh, tránh tình trạng, khách hàng lợidụng vị thế của mình để chèn ép, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của các doanhnhân.
2.
Các khía cạnh thể hiện của đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp
2.1
Đạo đức t rong quản trị doanh nghiệp
Vấn đề đạo đức trong quản trị doanh nghiệp chủ yếu được thể hiện trong cácvấn đề cơ bản liên quan đến mối quan hệ giữa người chủ sở hữu hay quản lý đốivới nhân viên như sau:
Đạo đức trong tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng lao động
Những vấn đề đạo đức trong quá trình tuyển dụng, bổ nhiệm lao độngthường gặp bao gồm:
Tình trạng phân biệt đối xử: Phân biệt đối xử là việc không cho phép mộtngười nào đó được hưởng những lợi ích nhất định xuất phát từ định kiến vềphân biệt biểu hiện ở các dạng như: phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địaphương, tuổi tác
Tôn trọng quyền riêng tư cá nhân của người lao động: Việc yêu cầu ngườilao động cung cấp các thông tin cá nhân cho doanh nghiệp để hoạt động quản lýđược dễ dàng là yêu cầu chính đáng Tuy nhiên, ngược lại doanh nghiệp cũngphải có trách nhiệm bảo mật thông tin cá nhân cho người lao động
Đạo đức trong đánh giá người lao động.
Hành vi hợp đạo đức của người quản lý trong đánh giá người lao động làngười quản lý không được đánh giá người lao động trên cơ sở định kiến haynhững tình cảm cá nhân Những nhân tố như sự yêu ghét cá nhân, sự ghanhghét, đố kỵ hay dùng ấn tượng của mình về một nhóm người mà người laođộng thuộc nhóm người đó để nhìn nhận họ là những điều người quản lý phải
Trang 8hết sức tránh.
Đánh giá người lao động phải dựa trên những đóng góp thực tế của họ chodoanh nghiệp một cách vô tư, công bằng thông qua sự giám sát của các nhàquản lý Sự giám sát này cũng phải được thực hiện một cách cẩn trọng và tế nhị,trên nguyên tắc tôn trọng quyền cá nhân của người lao động, tránh gây áp lực,tâm lý căng thẳng hay xâm phạm thô bạo quyền cá nhân cho người lao động
Đạo đức trong bảo vệ người lao động.
Vấn đề quan trọng nhất trong bảo vệ người lao động là đảm bảo điều kiệncho người lao động có một môi trường lao động an toàn và lành mạnh Đây làquyền cơ bản của người lao động mà doanh nghiệp phải tuân thủ Mặt khác, nếu
để xảy ra những tai nạn, rủi ro cho người lao động thì bản thân các doanhnghiệp phải gánh chịu những ảnh hưởng xấu tác động trực tiếp đến hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải nhận thức rõ việc đảm bảomột môi trường làm việc an toàn, thuận lợi cho người lao động cũng chính làđảm bảo cho tương lai phát triển bền vững của doanh nghiệp Tuy nhiên nhiềukhi việc đảm bảo các yếu tố an toàn cho người lao động làm doanh nghiệp mấtmột khoản chi phí không nhỏ nên đã có những doanh nghiệp chỉ thực hiện mộtcách hình thức, nửa vời Những hành vi này cũng rất đáng bị lên án
2.2 Đạo đức trong quan hệ với khách hàng
Khách hàng chính là đối tượng phục vụ, là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ,đánh giá chất lượng, tái tạo và phát triển nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.Những vấn đề đạo đức của doanh nghiệp liên quan đến khách hàng thường lànhững thủ đoạn marketing phi đạo đức và vấn đề an toàn sản phẩm Nguyênnhân chủ yếu dẫn tới nảy sinh những vấn đề trên là từ sự tồn tại của sự bất bìnhđẳng thông tin giữa người sản xuất và người tiêu dùng: người sản xuất luôn nắm
rõ thông tin về sản phẩm của mình, còn người tiêu dùng luôn ở thế bị động, họphải quyết định có nên mua sản phẩm hay không dựa trên những nguồn thông
Trang 9tin hạn hẹp về sản phẩm Hậu quả dễ xảy ra là người tiêu dùng phải chịu nhữngthiệt thòi lớn.
2.3
Những hoạt động marketing phi đạo đức
Bản chất của hoạt động marketing là hoạt động nhằm hướng dòng lưuchuyển hàng hóa và dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Triết lý củamarketing là thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng nhờ đó tối đa lợi nhuậncho doanh nghiệp và tối đa lợi ích cho xã hội Nguyên tắc chỉ đạo củamarketing là tất cả các hoạt động marketing đều phải định hướng vào người tiêudùng Vì vậy, nguyên tắc đạo đức trong hoạt động marketing đòi hỏi hoạt độngnày phải cung cấp thông tin một cách chính xác, trung thực nhất cho người tiêudùng cũng như tôn trọng quyền cá nhân của họ giúp người tiêu dùng có nhữngquyết định lựa chọn phù hợp và chính xác nhất Bất kỳ biện pháp marketing nàocung cấp những thông tin dẫn đến quyết định sai lầm của người tiêu dùng đều làphi đạo đức
Các vấn đề liên quan đạo đức liên quan đến marketing thường nảy sinh chủyếu trong quảng cáo và bán sản phẩm, định giá hay trong các kênh phân phốiđiều khiển dòng sản phẩm từ nơi sản xuất tới tay khách hàng Các hình thứcquảng cáo bị coi là phi đạo đức thường gặp như: quảng cáo phóng đại, thổiphồng sản phẩm vượt quá mức hợp lý hoặc che dấu sự thật, đưa ra những thôngtin mơ hồ về sản phẩm tạo nên niềm tin sai lầm của người tiêu dùng về sảnphẩm, gây trở ngại cho người tiêu dùng trong việc đưa ra quyết định lựa chọntiêu dùng tối ưu, dẫn dắt người tiêu dùng đến những quyết định lựa chọn lẻ ra
họ không thực hiện nếu không có quảng cáo; hay quảng cáo có hình thức khócoi, phi thị hiếu, không phù hợp với văn hóa bản địa, nhắm vào những đốitượng nhạy cảm như trẻ em, trẻ vị thành niên gây ảnh hưởng xấu đến hành vi,làm xói mòn nền văn hóa Bên cạnh đó là những chiêu thức bán hàng lừa gạtnhư bán hàng giảm giá nhưng thực chất giá sản phẩm chưa hề được giảm mức
Trang 10nào, hoặc là ghi nhãn “ sản phẩm giới thiệu” cho sản phẩm bán đại trà; hay báncho người tiêu dùng một sản phẩm với giá thấp nhưng để sử dụng được sảnphẩm đó khách hàng phải mua sản phẩm khác với mức giá cao hơn gây thiệthại
cho người tiêu dùng Những hành vi như vậy cần được lên án mạnh mẽ từ phíakhách hàng, cũng như các tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước
2.2.1 Vấn đề an toàn sản phẩm.
Những biểu hiện của sản phẩm không an toàn là: những sản phẩm có thể gâytai nạn cao khi có sự cố, những sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe, những sảnphẩm mang nội dung độc hại, kích thích bạo lực Trách nhiệm của nhà sảnxuất là phải đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm an toàn
Đạo đức t Irong quan hệ cạnh tranh trên thị trường.
Cạnh tranh là một nhân tố tất yếu trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Trong kinh doanh, nó được xem là một nhân tố tích cực thúc đẩy cácdoanh nghiệp luôn cố gắng tự hoàn thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm củamình để có thể tồn tại, phát triển và thành công trên thị trường Có rất nhiềubiện pháp cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể áp dụng để cạnh tranh với các đốithủ của mình bao gồm cả những biện pháp cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranhkhông lành mạnh
3 Vai trò của đạo đức kinh doanh.
• Đạo đức kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinhdoanh
• Đạo đức kinh doanh góp phần làm tăng chất lượng quản lý của doanhnghiệp
• Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự cam kết và tận tâm của nhân viên
• Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng
• Đạo đức kinh doanh góp phần tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
• Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự vững mạnh của nền kinh tế quốcgia
Trang 11Chương II: Vấn đề đạo đức kinh doanh ở một số quốc gia
Trong chương này, người viết xin đề cập đến kinh nghiệm phát triển đạo đứckinh doanh, về những gì đã đạt được và những mặt còn tồn tại tại các quốc giabao gồm: Mỹ - nền kinh tế mạnh nhất thế giới, Nhật Bản - nền kinh tế phát triểnthứ hai thế giới và phát triển nhất của châu Á và Trung Quốc - nền kinh tế đangphát triển và trỗi dậy mạnh mẽ và có nhiều nét tương đồng với Việt Nam.Thông qua việc tìm hiểu về sự phát triển của đạo đức kinh doanh của 3 quốc gianày, chúng ta sẽ đúc rút những kinh nghiệm, bài học để áp dụng vào việc xâydựng và phát triển đạo đức kinh doanh ở Việt Nam
1. Mỹ
nền kinh tế và nền tảng đạo đức kinh doanh phát triển nhất thế giới
Mỹ là nền kinh tế đầu tàu, phát triển nhất của thế giới Và cũng đồng thời, Mỹcũng là nước có nền tảng đạo đức kinh doanh phát triển nhất Nước Mỹ là nơihình thành nên những nội dung đạo đức kinh doanh áp dụng trong hoạt độngkinh doanh hiện đại; là nơi đầu tiên đưa đạo đức kinh doanh trở thành một lĩnhvực nghiên cứu học thuật
Có thể nói, trong bước phát triển mạnh mẽ của đạo đức kinh doanh ở Mỹ,chính những đặc điểm của xã hội Mỹ, văn hóa Mỹ đã tạo ra môi trường thuậnlợi, là cái nôi giúp đưa đạo đức kinh doanh phát triển Điều này được thể hiệntrong tính chủ động của các doanh nhân Mỹ, của các doanh nghiệp Mỹ: chủđộng nhân thức về tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh, chủ động tìm hiểu
về các vấn đề đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp, chủ động đưa ra các biệnpháp giải quyết; cũng như sự tham gia tích cực của Chính phủ và cộng đồng xãhội tạo sức ép phải phát triển đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp
1.1 Sự chủ động t rong nhận thức và giải quyết các vấn đề đạo đức kinh doanhcủa các doanh nhân Mỹ
• Chủ động nhận thức về tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh.
Đa phần các doanh nhân Mỹ sở hữu những tập đoàn, những công ty có vaitrò quan trọng trong nền kinh tế Mỹ hiện nay là con cháu của những người da
Trang 12trắng đến từ châu Âu và những người Do Thái di cư đến Mỹ Tôn giáo của họ làđạo Tin Lành và đạo Do Thái Trong cả hai tôn giáo này, người ta đều quanniệm đạo đức và kinh doanh luôn phải đi song hành, gắn bó chặt chẽ với nhau.Người ta cũng đề cao việc giữ gìn uy tín kinh doanh và chống lại những hành vibất chấp đạo đức để đạt được lợi nhuận như: đối với các doanh nhân người DoThái, người ta không bao giờ bán các mặt hàng có hại cho khách hàng củamình Họ quan niệm sự thành công và giàu có của các doanh nhân phải là kếtquả của đức hạnh và sự nỗ lực cá nhân.
Các doanh nhân Mỹ được sinh ra, lớn lên và được giáo dục trong môi trường
xã hội nước Mỹ mang những đặc điểm:
Thứ nhất, xã hội Mỹ đề cao vai trò của cá nhân nhưng cũng đòi hỏi tinh thần
có trách nhiệm cao của mỗi cá nhân trong xã hội Học thuyết về đạo đức quantrọng nhất ở nước Mỹ là thuyết vị lợi Theo học thuyết này, mỗi khi đưa ra mộtquyết định, hay thực hiện một hành động, người ta phải cân nhắc kĩ lưỡng đếnkết quả, hậu quả và những tác động của nó không chỉ đối với bản thân người raquyết định mà còn cả đối với những người khác, đối với cộng đồng và toàn xãhội Một hành động chỉ được nên thực hiện khi nó có thể đem lại cả lợi ích chongười thực hiện và cho cả cộng đồng Những hành động chỉ mang lại lợi íchcho một cá nhân mà gây phương hại đến lợi ích của cộng đồng thì phải tránh
Vì vậy, hành động của các cá nhân luôn vừa phải đem lại lợi ích cho cá nhân họ
và vừa phải đem lại lợi ích cho xã hội hay ít nhất là không xâm hại đến lợi ích
xã hội
Thứ hai, trong nhận thức của người Mỹ, các nguyên tắc, chuẩn mực, luật lệ
trong xã hội bao gồm cả những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức là pháp luậttối cao mà họ có trách nhiệm phải tuân theo để đảm bảo cho chính lợi ích vàquyền được tôn trọng của họ trong xã hội Điều này xuất phát từ nguyên nhânlịch sử là xã hội Mỹ bao gồm nhiều nhóm người với các sắc tộc, các nền văn
Trang 13hóa khác nhau Để xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa ấy có thể tồn tại và phát triểnthì phải có trật tự, kỉ cương xã hội vững chắc Một hệ thống các nguyên tắc, luật
lệ xã hội và đạo đức thống nhất được mọi người tuân thủ là yếu tố đảm bảo chotrật tự xã hội Hơn thế nữa, mỗi người Mỹ tin rằng họ đều có quyền và cơ hộingang bằng nhau trong xã hội, vì vậy họ cũng có trách nhiệm ngang bằng nhautrong việc duy trì sự ổn định xã hội Một cuộc thăm dò ý kiến được tiến hành tạimột số nước phát triển đã chứng minh rằng người Mỹ là những người có niềmtin vững chắc nhất vào sự tồn tại của một hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực xãhội Với yêu cầu những người tham gia lựa chọn một trong hai ý kiến xem ýkiến nào phù hợp nhất với suy nghĩ của họ đó là:
1 - Họ tin rằng trong xã hội tồn tại những chỉ dẫn, hướng dẫn cụ thể với họđiều gì là tốt và điều gì là xấu Những chỉ dẫn này áp dụng cho tất cả mọi người
và trong mọi hoàn cảnh
2 - Họ tin rằng trong xã hội không tồn tại những chỉ dẫn cụ thể cho họ thấyđiều gì là tốt, điều gì là xấu Một điều là tốt hay xấu phụ thuộc hoàn toàn vàohoàn cảnh sống của chúng ta
Kết quả được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1: Kết quả cuộc điều tra về niềm tin vào sự tồn tại của một hệ thống
nguyên tắc và chuẩn mực rõ ràng về đạo đức trong xã hội.
Tỷ lệ số ngườitham gia lựa chọn ýkiến thứ 1(%)
Tỷ lệ số ngườitham gia lựa chọn ýkiến thứ 2 (%)
Tỷ lệ số ngườitham gia không có
Trang 14Thứ ba, người Mỹ tin rằng họ có thể chủ động quản lý cuộc sống, cũng như
có thể tự quyết định số phận của chính bản thân họ Những khẩu hiệu quenthuộc đối với người Mỹ đó là: “Điều đó tùy thuộc vào bạn” hay “ Bạn có quyềnlựa chọn” Theo một cuộc thăm dò ý kiến với câu hỏi: “ Thành công của một cánhân được quyết định bởi những nỗ lực của cá nhân người đó hay là bởi sự maymắn và phụ thuộc vào các mối quan hệ mà anh ta có?”, có 44% người Mỹ đượchỏi đã trả lời rằng điều đó phụ thuộc chủ yếu bằng nỗ lực cá nhân của họ Đâycũng là tỷ lệ cao nhất trong số các quốc gia tiến hành cuộc thăm dò ý kiến này.Cũng vì vậy, trong cách nhận xét,nhìn nhận, đánh giá về một con người, người
Mỹ không xem trọng những tiêu chí như: địa vị xã hội, tuổi tác, hay xuất thângia đình như ở nhiều quốc gia khác, mà họ đánh giá chủ yếu dựa trên những gìngười đó đã làm, đã đạt được Với vấn đề đạo đức - một vấn đề được xem làtrừu tượng, phức tạp và mang tính phụ thuộc vào các cá nhân mà người ta cho
là không thể kiểm soát được, thì với người Mỹ, họ cho rằng có thể kiểm soátđược đạo đức của chính mình thông qua những hành động hành động của họ.Bởi vì như chúng ta đã nói ở trên, thước đo đánh giá con người trong xã hội Mỹchính là hành động của người đó Chính vì những điều kiện xã hội như vậy, cácdoanh nhân Mỹ đã có sự chủ động trong giải quyết các vấn đề liên quan đến đạođức kinh doanh trong hoạt động của mình bao gồm:
• Chủ động tìm hiểu các vấn đề đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp và
để ra biện pháp giải quyết
Từ sự chủ động trong nhận thức về tầm quan trọng của đạo đức kinh doanhđối với doanh nghiệp, các doanh nhân Mỹ đã chủ động đưa các nguyên tắc,chuẩn mực đạo đức kinh doanh áp dụng trong hoạt động của doanh nghiệp
mình Quá trình này được gọi là quá trình thể chế hóa đạo đức kinh doanh Họ
là những người đi tiên phong trên thế giới trong quá trình này Những biện pháp
Trang 15để thực hiện quá trình này bao gồm: (1) xây dựng bản Quy tắc đạo đức kinh
doanh (Codes of Ethics) trong hoạt động doanh nghiệp; (2) thành lập Ủy ban
đạo đức kinh doanh có nhiệm vụ xây dựng, phát triển, giải quyết các vấn đề liênquan đến đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp, trong Ủy ban này sẽ bao gồmcác bộ phận như: bộ phận tổ chức các chương trinh đào tạo, phổ biến kiến thức
về đạo đức kinh doanh cho các nhân viên trong doanh nghiệp; bộ phận thựchiện chức năng, giám sát, điều tra, phát hiện các hành vi phi đạo đức trongdoanh nghiệp; Hội đồng kỷ luật để đưa ra những phán xét, xử phạt các hành vi
vi phạm các nguyên tắc đạo đức Các chương trình hành động cụ thể vàchuyên nghiệp này đã cho thấy rõ sự quan tâm và đầu tư của các doanh nghiệp
Mỹ trong việc nâng cao đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp mình
Theo một cuộc khảo sát được tiến hành vào năm 2005, 96% trong tổng số
225 doanh nghiệp Mỹ được tiến hành điều tra đã có những hành động cụ thể,tích cực nhằm nâng cao nhận thức và sự tuân thủ đạo đức kinh doanh trong hoạtđộng của doanh nghiệp Gần 60 % doanh nghiệp đã bổ nhiệm vị trí quản lý cấpcao (Chief Ethics Officer) chuyên trách về đạo đức kinh doanh trong doanhnghiệp, và 1/3 các chương trình hành động nâng cao đạo đức kinh doanh trongdoanh nghiệp ấy đã được thực hiện bằng cách lấy ý kiến đóng góp rộng rãitrong toàn công ty 92% số nhân viên được hỏi đã từng được tham gia vào cácchương trình đào tạo nhằm nâng cao đạo đức kinh doanh trong công ty Đã cónhững doanh nghiệp Mỹ đã đưa đạo đức kinh doanh trở thành yếu tố tạo nên lợithế cạnh tranh và làm nên thành công của công ty Câu chuyện thành công củaJohnson&Johnson là trường hợp rất điển hình chứng minh cho lợi ích của đạođức kinh doanh cho các doanh nghiệp
Johnson&Johnson (J&J) là một trong những tập đoàn hàng đầu của Mỹchuyên sản xuất, kinh doanh dược phẩm và dụng cụ y tế Từ thập niên 1920đến nay, J&J luôn đề cao bản sắc của doanh nghiệp dựa trên hai giá trị chung:
Trang 16“The Identity of J&J: Integrity & Respondibility” (“Bản sắc của J&J: Ngay
thẳng và trách nhiệm”) được khởi xướng bởi con trai nối nghiệp của người sánglập công ty là Robert Wood Johnson Trong lịch sử, J&J đã có những hành động
cụ thể để minh chứng cho bản sắc đó của công ty mà hai hành động sau đây làminh chứng rõ rệt nhất:
Năm 1965, J&J tung ra thị trường sữa dưỡng da cho trẻ em rất được ưathích Một số khách hàng lại dùng sữa ấy cho chính mình những khi tắm nắng,
vì thế thị phần của sữa dưỡng da J&J càng ngày càng lớn Cuối 1968, bộ phậnnghiên cứu & phát triển của J&J nhận thấy rằng nếu dùng sữa dưỡng da ấy đểtắm nắng sẽ có nguy cơ bị ung thư da J&J tự nguyện nhờ một số phòng thínghiệm độc lập kiểm định thêm và khi chắc chắn kết quả, ban lãnh đạo J&J họpnhân viên lại để cùng làm bản thông báo cho các hãng thông tấn xã về kết quảxét nghiệm của mình Kể từ tháng 2-1969, J&J thu lại tất cả sữa dưỡng da chưađược bán trên thị trường, và ngưng sản xuất cho đến khi J&J khắc phục đượcnguy cơ trên Doanh số hằng năm của loại kem dưỡng da J&J lúc đó là khoảng
240 triệu USD/năm
Một sự kiện khác xảy ra vào năm 1981, ở thành phố Chicago có một ngườibệnh tâm thần cho thuốc độc vào một số lọ thuốc trị nhức đầu nhãn hiệuTylenol do J&J sản xuất và bày bán ở các quầy hàng bán thuốc trong nhữngsiêu thị Sự kiện trên làm thiệt mạng bốn người và cảnh sát không bắt đượcngười tâm thần gây các án mạng trên Mặc dù chỉ xảy ra ở Chicago và giới chứctrách an ninh địa phương nghĩ rằng người rối loạn tâm thần trên chỉ cho thuốcđộc vào một số lọ Tylenol đã bày bán ở siêu thị, ban lãnh đạo J&J sau khi hội ývới nhân viên vẫn cương quyết rút lại để kiểm định tất cả lọ thuốc Tylenol đãphân phối không chỉ ở Mỹ mà ở toàn thế giới, vì theo J&J, không có gì bảo đảm
là người bị bệnh thần kinh trên chỉ bỏ thuốc độc vào các lọ Tylenol lúc đã bàybán, mà không bỏ vào lúc sản xuất hoặc trước khi được phân phối đi khắp nơi
Trang 17Toàn bộ chi phí để thực hiện quyết định trên là 350 triệu USD.
Có thể nói, tinhh thần trách nhiệm đã trở thành hành vi chuẩn mực để đánhgiá mọi hoạt động của J&J và trở thành văn hóa “trách nhiệm”, được xuất phát
từ cái tâm của toàn thể cán bộ nhân viên, đặc biệt từ lãnh đạo cao nhất của J&Jđối với khách hàng Chính bằng tinh thần luôn có trách nhiệm ấy, J&J đã dànhđược cảm tình, sự trung thành của khách hàng và đến lượt mình, sự ủng hộ từphía khách hàng đã đem lại cho công ty những thành công nổi bật Theo thống
kê, trong suốt hơn 100 năm qua, thương hiệu J&J luôn tồn tại bền vững và công
ty luôn đạt được tốc độ tăng trưởng hàng năm là 10.5% trong suốt thời gian tồntại, đáng chú ý là càng ngày tốc độ tăng trưởng ấy càng cao Ngay trong năm
2008, năm khó khăn nhất của nền kinh tế Mỹ, doanh số bán của công ty đã tăng4,3% và lợi nhuận tăng thêm 22% Điều đó đã khiến cho J&J trở thành công tyđứng thứ 6 đạt lợi nhuận cao nhất và là một trong 5 công ty có giá trị nhất ởFortune 500
1.2 Sự tham gia giám sát và _phản biện xã hội tích cực của công chúng Mỹ
Ở Mỹ, việc xem xét, đánh giá, giải quyết các vấn đề trong phạm vi một cánhân, để một cá nhân tự giải quyết là điều rất hạn chế, đặc biệt đối với các vấn
đề đạo đức Những cuộc tranh luận mang tính chất mở, rộng rãi trong côngchúng để đánh giá, nhận xét về một vấn đề là điều thường hay được người Mỹtiến hành Ba bộ phận luôn đóng góp những ý kiến phản biện xã hội quan trọngnhất trong xã hội Mỹ đó là các tổ chức xã hội, các hiệp hội đại diện cho tiếngnói của người dân Mỹ; giới học giả và giới truyền thông Mỹ
Sự tham gia tích cực của người dân Mỹ trong việc thúc đẩy đạo đức kinhdoanh trong doanh nghiệp được thể hiện số lượng ngày càng tăng các hiệp hộingười tiêu dùng Mỹ Họ là những người đóng góp những tiếng nói phản biệnquan trọng, những quyết định của họ là ủng hộ hay tẩy chay đối với một công tycso tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty đó Có thể nói, họ là
Trang 18nhân tố có thể gây sức ép đến chính sách của các công ty Mỹ.
Bên cạnh đó, giới học giả Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề đạo đức kinhdoanh trong doanh nghiệp Sự quan tâm ấy được thể hiện qua số các Trung tâmnghiên cứu về đạo đức kinh doanh liên tục gia tăng thuộc các trường Đại họchay các Tổ chức nghiên cứu xã hội Hầu hết các trường Đại học ở Mỹ đã đưađạo đức kinh doanh vào giảng dạy với tổng số sinh viên theo học ngày càngtăng cao Ở Mỹ, hiện đã có tạp chí nghiên cứu chuyên ngành về đạo đức kinh
doanh được xuất bản trong đó có những tạp chí nổi tiếng như: Journal of
Business Ethics, Business Ethics Weekly Những đóng góp của các học giả cho
việc thúc đẩy phát triển đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp được thể hiệnqua những kết quả nghiên cứu, những lời khuyến cáo, tư vấn cho các doanhnghiệp về tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh Trong đó, đóng góp quantrọng nhất là vào những năm 1980, các học giả Mỹ đã hoàn thành học thuyết, lýluận về xây dựng văn hóa và đạo đức daonh nghiệp được dựa trên tư tưởng đạođức Katian, học thuyết về hợp đồng xã hội, học thuyết về vai trò giám sát của
cổ đông trong doanh nghiệp Có thể nói, đây là kim chỉ nam để các doanhnghiệp Mỹ áp dụng trong xây dựng đạo đức và văn hóa daonh nghiệp
Trong thời gian gần đây, nhận thức của giới truyền thông Mỹ về đạo đứckinh doanh đang ngày càng được nâng cao Thông qua hoạt động đưa tin củamình, các phương tiện truyền thông Mỹ không những góp tiếng nói phê phán,
đả kích các doanh nghiệp phi đạo đức mà còn góp phần nâng cao sự nhận thứccủa toàn xã hội về vấn đề này Tiếng nói của các phương tiện thông tin đạichúng đang ngày càng thể hiện vai trò phản biện xã hội quan trọng của mìnhtrong việc tạo sức ép, buộc các doanh nghiệp phải hoạt động nghiêm chỉnh cóđạo đức
Hàng năm,dựa trên sự bình bầu của người tiêu dùng, các học giả và cácphương tiện truyền thông Mỹ, người ta đều chọn ra danh sách 100 doanh nghiệp
Trang 19hoạt động kinh doanh có đạo đức tốt nhất trong năm để tôn vinh trong xã hội.Những giải thưởng như thế này cũng chính là sự ghi nhận xứng đáng cho sự nỗlực, phấn đấu của các doanh nghiệp; đông thời khuyến khích họ nâng cao hơnnữa đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp mình.
Bản thân những người lao động Mỹ cũng có nhận thức rõ ràng về đạo đứckinh doanh và có những yêu cầu, mong muốn của họ về đạo đức của các công
ty nơi họ làm việc Những nhân viên làm việc trong các công ty Mỹ có quyền
và trách nhiệm phán xét xem liệu những người chủ, những người đứng đầuquản lý công ty đã thực sự hoạt động kinh doanh có đạo đức hay không? Và họ
có quyền được tiếp cận các thông tin về hành vi của những người đứng đầu đểđưa ra nhận xét này
Việc đưa việc đánh giá về các hành vi, hoạt động của các doanh nhân Mỹ cótheo đúng các tiêu chuẩn đạo đức hay không ra tranh luận, phản biện trong côngchúng đã tạo nên một sức ép đủ mạnh để các doanh nhân Mỹ phải nhận thứcđược tầm quan trọng và việc cần thiết của việc hoạt động kinh doanh có đạođức đối với sự thành công hay thất bại của bản thân và của công ty Một doanhnhân luôn là một người đáng tin cậy, một người luôn hoạt động vì lợi ích củakhách hàng và của đối tác, anh ta sẽ là một doanh nhân thành đạt Và ngược lại,một doanh nhân thành đạt thì luôn phải suy nghĩ và hành động có đạo đức đốivới nhân viên, khách hàng và cộng đồng xã hội
1.3 Sự quan tâm của chính phủ Mỹ đến vấn đề đạo đức kinh doanh
Chính phủ Mỹ luôn dành sự quan tâm đúng mức và có nhưng chương trìnhhành động cụ thể nhằm thúc đẩy, yêu cầu và ràng buộc các doanh nghiệp hoạtđộng phải có văn hóa kinh doanh Mỹ là nước đầu tiên trên thế giới ban hànhcác đạo Luật nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Cho đến nay hệ thốngpháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của Mỹ được coi là một trong những hệthống hoàn chỉnh nhất trên thế giới Hệ thống pháp luật này bao gồm các đạo
Trang 20luật và các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm giám sát, thực thi chúng Cácđạo luật tiêu biểu của Mỹ là:
• Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm : Nội dung chính của luật là yêu cầu
các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải có trách nhiệm đối với thương tật
và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người sử dụnghoặc những người ở gần sản phẩm đó Trách nhiệm sản phẩm thường dựatrên các nguyên tắc pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc tráchnhiệm tuyệt đối Phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng đối với tất cả các doahnghiệp bán hàng hóa của mình trên thị trường Mỹ
• Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng : Luật này qui định các tiêu chuẩn an toàn
sản phẩm liên quan đến sự vận hành, thành phần, nội dung, thiết kế, sảnxuất, hoàn tất, đóng gói và dán nhãn Nguyên tắc chung là nhà sản xuất sảnphẩm tiêu dùng là đối tượng của quy định này phải phát hành giấy chứngnhận khẳng định hàng phù hợp với các tiêu chuẩn qui định và phải dán nhãntrên sản phẩm ghi rõ ngày và nơi sản xuất sản phẩm, tên và địa chỉ của nhàsản xuất, chứng nhận tuân thủ các luật lệ áp dụng và mô tả ngắn gọn các luật
lệ đó
Bên cạnh những đạo luật trên, chính phủ Mỹ còn ban hành rất nhiều các đạoluật qui định chi tiết về các ngành hàng cụ thể như: Luật về các chất nguy hiểm,Luật về vải dễ cháy, Luật về thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, Luật về an toàn
tủ lạnh gia đình
Luật pháp về bảo đảm tính công bằng trong cạnh tranh, chống độc quyền,chống các hành vi câu kết của các doanh nghiệp cũng được ra đời từ sớm ở Mỹ.Đến năm 1980, hệ thống luật về cạnh tranh của Mỹ được coi là chặt chẽ vànghiêm khắc nhất thế giới, với các đạo luật tiêu biểu như: đạo luật Sherman(1890), luật Clayton (1914) là hai luật cơ bản cho chính sách chống Tơrớt của
Mỹ, luật Robinson - Patman (1936) qui định việc xử lý các hành vi phân biệt
Trang 21đối xử.
Văn bản pháp luật có sự điều chỉnh trực tiếp nhất đến đạo đức kinh doanh
của doanh nghiệp là Những hướng dẫn về hình phạt của liên bang (The Federal
Sentencing Guideline ) được ban hành vào năm 1991 hướng dẫn các Tòa ántrong việc xét xử các vụ việc liên quan đến các hành vi phi đạo đức của cáccông ty Mỹ Bản qui tắc xét xử này được ra đời nhằm mục đích không chỉ đề rabiện pháp trừng phạt đích đáng đối với các doanh nghiệp vi phạm, mà qua đó nócòn thúc đẩy, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các chương trình pháttriển đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp Một qui định quan trọng trongbản qui tắc xét xử này đó là: nếu một doanh nghiệp bị đưa ra xét xử do có hành
vi vi phạm đạo đức kinh doanh thì việc xử phạt mà doanh nghiệp đó phải gánhchịu có thể được xem xét giảm nhẹ nếu doanh nghiệp đó chứng minh được rằng
họ đã có chương trình phát triển đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp mình.Tuy các doanh nghiệp Mỹ đã đạt được những thành công, tiến bộ trong việcthực hiện, áp dụng đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp, nhưng trong thờigian gần đây, nước Mỹ đã phải đối mặt với hàng loạt vụ bê bối liên quan đếnđạo đức kinh doanh dẫn tới phá sản trong các doanh nghiệp từng là niềm tự hàocủa kinh tế Mỹ Làn sóng các vụ bê bối ấy được bắt đầu với vụ bê bối về gianlận thông tin tài chính của gã khổng lồ Enron vào năm 2001, tiếp theo đó người
ta lại khám phá thêm những vụ bê bối cũng liên quan đến gian lận thông tin tàichính của WorldCom, Tyco International, Adelpliia mà trách nhiệm gây ranhững vụ bê bối này chủ yếu thuộc về những người quản lý cấp cao ở các công
ty trên Những vụ bê bối đó đã hé lộ ra những điểm còn tồn tại trong hệ thốngđạo đức kinh doanh của doanh nghiệp Mỹ, đặc biệt là đạo đức trong việc công
bố trung thực, minh bạch các thông tin tài chính doanh nghiệp Trong hoạt độngcủa mình, tập đoàn Enron và công ty kiểm toán Arthur Andersen (công ty chịutrách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán cho Enron) đều đã ban hành những
Trang 22Qui tắc đạo đức kinh doanh (Codes of Ethics) trong công ty, thậm chí, công tyArthur Andersen còn cho xuất bản các video về các tình huống đạo đức kinhdoanh được sử dụng rộng rãi trong các trường Đại học Vậy điều gì đã làm chonhững qui tắc đạo đức kinh doanh ở các doanh nghiệp này không phát huy hiệuquả? Đã có những nghiên cứu trước đó của các học giả cho thấy rằng nhân tốquan trọng nhất tác động để người quản lý thực hiện các hành động có đạo đức
là những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức của chính bản thân người đó; tiếp đến
là hành vi của những nhà quản lý cấp cao hơn; còn yếu tố quan trọng nhất tácđộng để nhà quản lý thực hiện hành vi phi đạo đức là hành vi của cấp trên, tiếpđến theo thứ tự là xu thế đạo đức của các công ty cùng trong lĩnh vực, ngànhnghề của công ty họ; chính sách đạo đức của công ty và cuối cùng là nhu cầu tàichính cá nhân của họ Như vậy vấn đề được đặt ra là doanh nghiệp phải xâydựng được môi trường văn hóa đạo đức thực sự, sâu sắc trong doanh nghiệp để
từ đó tạo tác động để tất cả các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như các nhân viêntrong doanh nghiệp nhận thức được rõ rằng hành động có đạo đức là quyền lợi,trách nhiệm của họ; tránh tình trạng chính sách, phương hướng hoạt động củadoanh nghiệp đề ra theo một hướng, nhưng bản thân các nhân viên lại nghĩ khác
và hành động khác
Đứng trước những tác động ấy, trong bản công bố kết quả nghiên cứu của
mình, Viện nghiên cứu về đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp (The
Business Roundtable Institute for Corporate Ethics) đã chỉ ra những vấn đề đạođức cấp thiết cần được giải quyết trong các doanh nghiệp Mỹ đó là: (1) Lấy lạilòng tin của công chúng; (2) Đáp ứng được sự kì vọng của các nhà đầu tư khôngchỉ về lợi nhuận mà còn về đạo đức doanh nghiệp; (3) Đảm bảo tính trung thực,chính xác của các bản báo cáo tài chính; (4) Công bằng trong việc chi trả cackhoản bồi hoàn và (5) Xây dựng hình mẫu đạo đức của các nhà quản lý doanhnghiệp Để giải quyết những vấn đề này, các doanh nghiệp Mỹ đã tập trung vào
Trang 233 biện pháp sau:
1 - Tiếp tục đẩy mạnh các chương trình xây dựng, áp dụng đạo đức kinhdoanh, xây dựng niềm tin trong doanh nghiệp, đưa đạo đức kinh doanh thực sựtrở thành một yếu tố văn hóa trong doanh nghiệp
Theo điều tra của Hội đồng đạo đức kinh doanh Mỹ (The Council for
Business Ethics), 85% các CEO trong các công ty Mỹ đã xác nhận rằng doanhnghiệp của họ đang ngày càng quan tâm, chú trọng đạo đức kinh doanh Trong
đó, những sự thay đổi chủ yếu là: nâng cao vai trò của hệ thống báo cáo và traođổi thông tin nội bộ (chiếm 33%), thiết lập các đường dây nóng về đạo đức kinhdoanh (chiếm 17%), phát triển nội quy tuân thủ đạo đức trong công ty (chiếm12%), tăng cường sự kiểm soát của ban giám đốc (chiếm 10%)
2 - Chuyên nghiệp hóa, riêng biệt hóa bộ phận đảm trách về đạo đức kinhdoanh trong doanh nghiệp Doanh nghiệp tiến hành bổ nhiệm nhân sự cấp caonhư một Phó chủ tịch để chuyên trách về đạo đức kinh doanh trong hoạt động
của mình Sự thay đổi đó được thể hiện qua số thành viên của Hiệp hội các nhà
quản lý đạo đức doanh nghiệp (The Ethics Officer Asociation) đã tăng từ 12
thành viên năm 1992 lên tới 995 thành viên năm 2004
3 - Siết chặt quản lý, tăng cường hiệu lực của Bộ qui tắc ứng xử (Codes ofConduct) và những hướng dẫn thực hành đạo đức trong doanh nghiệp (Ethicalguidelines) Nguyên nhân tại sao các công ty đã có những chương trình xâydựng và phát triển đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp này lại bị vướng vào
vụ bê bối liên quan đến đạo đức kinh doanh? Sau vụ bê bối Enron, vấn đề đượcđặt ra đối với các doanh nghiệp Mỹ là làm sao để có thể đảm bảo hiệu lực, đểQui tắc đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp thực sự có tác dụng Cách thức đểthực hiện điều này là phải xây dựng được cơ chế giám sát, quản lý chặt chẽ;phải xây dựng cơ chế qui định trách nhiệm rõ ràng từ thấp đến cao của tất cảcác thành viên trong công ty và phải khuyến khích việc tố giác các hành vi phi
Trang 24đạo đức phát sinh trong công ty để có thể ngăn chặn từ sớm những hành vi đótránh gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho công ty.
Những tập đoàn lớn như: Boeing, Lockheed Martin, Deloitte&Touche lànhững điển hình đã làm tốt những biện pháp này
Ở Boeing, họ đã tổ chức các chương trình đào tạo nhằm nâng cao và pháttriển kĩ năng ra quyết định và giải quyết các vấn đề một cách có đạo đức đối vớitoàn thể 178.000 nhân viên của công ty Đồng thời, họ đã tiến hành soạn thảoNhững hướng dẫn về thực hành đạo đức một cách cụ thể và có qui mô rộng lớnhơn trước Lý giải cho vấn đề này, các nhà lãnh đạo Boeing đã nói rằng sở dĩ họlàm như vậy, vì họ nhận thức được rằng chỉ có hoạt động kinh doanh có đạođức mới là con đường dẫn họ đến thành công bền vững trong tương lai
Ở Lockheed - Martin, họ đã được biết tới với các chương trình phát triển đạođức doanh nghiệp rất bài bản và có khả năng bao quát mọi vấn đề Ngoài việccung cấp cho nhân viên các chương trình đào tạo về đạo đức kinh doanh,Lokheed Martin còn thiết lập một đường dây liên lạc để trợ giúp các nhân viêntrong bộ phận phụ trách về đạo đức kinh doanh của hãng qua rất nhiều cácphương tiên liên lạc khác nhau để các nhân viên có thể yêu cầu những lời tư vấn
từ những người có chuyên môn Phương châm của họ là sẽ không bao giờ có sựtrách phạt nhân viên khi thường xuyên sử dụng đường dây trợ giúp về đạo đứckinh doanh
Ở Deloitte&Touche, chương trình nâng cao đạo đức doanh nghiệp của họđược tập trung vào 3 điểm nhấn: (1) xây dựng giá trị doanh nghiệp; (2) xâydựng chương trình quản lý, giám sát chặt chẽ và (3) phương pháp giải quyết cáchậu quả xảy ra Yếu tố thứ nhất, xây dựng giá trị doanh nghiệp có sức lan tỏamạnh mẽ sẽ là yếu tố thúc đẩy các nhân viên hành động đúng đắn, có đạo đức.Yếu tố thứ hai, một chương trình giám sát hiệu quả không chỉ giám sát thôngqua các dữ liệu, thông tin mà còn giám sát chính hành vi của các nhân viên, sẽ
Trang 25giúp ngăn chặn những hành vi phi đạo đức ngay từ khi nó bắt đầu hình thành.
Và yếu tố thứ ba, nếu một hành vi phi đạo đức xảy ra trong doanh nghiệp, công
ty sẽ tiến hành giải quyết ngay từ sớm, xác định rõ nguyên nhân và trách nhiệmcủa những người liên quan
Bên cạnh sự quan tâm, đầu tư của bản thân các doanh nghiệp, chính phủ,Quốc hội Mỹ cũng thúc đẩy quá trình luật hóa các nguyên tắc, chuẩn mực đạođức kinh doanh để ràng buộc hơn nữa trách nhiệm của họ đối với các vấn đềđạo đức kinh doanh Tiêu biểu là ngay sau khi xảy ra hàng loạt các vụ bê bốicủa các tập đoàn lớn liên quan đến thông tin tài chính, Quốc hội Mỹ đã thông
qua Đạo luật Sarbanes - Oxley đưa ra những qui định chặt chẽ đối với các
doanh nghiệp về báo cáo, cung cấp các thông tin tài chính trong doanh nghiệp.Đây là Đạo luật gây được nhiều sự chú ý nhất vì nó giải quyết vấn đề nhức nhốinhất là chống các hành vi gian lận của các doanh nghiệp Mỹ trong công bố cácthông tin tài chính Nó được kì vọng là sẽ vá những lỗ hỏng hiện nay trong kiểm
soát hoạt động của các doanh nghiệp Mỹ sau sự ra đời của Những hướng dẫn về
hình phạt của liên bang (the Federal Sentencing Guideline) vào năm 1991.
2 Nhật Bản.
Những tư tưởng đạo đức kinh doanh đầu tiên đã xuất hiện từ khá sớm trong
xã hội phong kiến Nhật Bản khi hoạt động buôn bán, trao đổi bắt đầu có nhữngbước phát triển mạnh mẽ với hai luồng tư tưởng chủ đạo là Đinh nhân đạo hayđạo của thị dân và Bushido ( Võ sĩ đạo ) đề cập đến những giá trị của giới võ sĩ(Samurai) được truyền thụ trong giới cầm quyền Nhật Bản
Bushido là hệ tư tưởng ra đời sớm nhất từ cuối thế kỷ 12, được xây dựngdựa trên cơ sở lý luận của Nho học và những giá trị đạo đức của giới võ sĩ.Những đức tính được nhấn mạnh trong Bushido là: trung thành; không ngại hysinh; trọng tín nghĩa, lễ nghĩa; có liêm sỉ; sống thanh bạch, giản dị, cần kiệm; cótinh thần thượng võ; trọng danh dự và có lòng thương người Bushido là cột trụ
Trang 26tinh thần của chính quyền phong kiến, của giới võ sĩ Nhật Bản Sau này, đếnthời Minh Trị duy tân, những con người lèo lái công cuộc duy tân của Nhật Bảnvốn xuất thân từ giới võ sĩ đã đưa Bushido áp dụng vào những nguyên tắc đạo
đức kinh doanh hiện đại Điều này được thể hiện đậm nét qua những lời “gia
huấn” (kakun, tức là những điều răn dạy người nhà) của Iwasaki Yataro
(1834-1885), một võ sĩ cấp dưới ở Tosa (đảo Shikoku) và cũng là người sáng lập Công
ty Mitsubishi sau đây:
Điều l: Không bị chi phối bởi những việc nhỏ mà phải chú tâm đến việc kinh doanh những sự nghiệp lớn.
Điều 2: Khi đã bắt đầu một sự nghiệp thì chắc chắn phải làm cho thành công.
Điều 3: Không làm những sự nghiệp có tính cách đầu cơ.
Điều 4: Khi toan tính, mọi sự nghiệp phải đặt lợi ích quốc gia lên trên hết Điều 5: Không bao giờ quên tinh thần vị công trong sáng không để mất lòng thành.
Điều 6: Phải cần mẫn, cần kiệm, và biết nghĩ đến người khác.
Điều 7: Phải sử dụng nhân sự cho thích đáng.
Điều 8: Đối đãi tử tế với người làm.
Điều 9: Phải gan dạ, quả cảm khi bắt đầu một sự nghiệp nhưng cặn kẽ, kỹ lưỡng khi thực hiện.[8]
Một doanh nhân nổi tiếng khác trong thời kì này là Shibusawa Eiichi 1931), cũng là một nhân vật theo luân lý Bushido đã để lại những lời răn dạy đểđời cho các thế hệ doanh nhân sau này về tầm quan trọng của đạo đức kinhdoanh Ông được coi là “cha đẻ” của giới tài chính Nhật Bản và là người đã cócông xây dựng 500 xí nghiệp tạo nền móng vững chắc cho nền công nghiệpNhật Bản Trong sự nghiệp của mình, Shibusawa luôn luôn chú trọng và nhấnmạnh khía cạnh luân lý trong kinh doanh Ông cho rằng không thể tách rời luân
Trang 27(1840-lý ra khỏi kinh doanh Ông khẳng định: “Đừng lầm tưởng là thương nghiệp vàđạo đức không thể dung hòa được với nhau như nước với lửa Cho dầu tri thức
có phát triển và tài sản có gia tăng bao nhiêu chăng nữa, nếu không có đạo đứcthì không thể nào phát huy được hết sức mình trong thiên hạ” Một trong nhữngcâu châm ngôn nổi tiếng của ông dành cho giới doanh nhân đó là “Sĩ hồnthương tài” (shikon shosai) Theo ông, một người doanh nhân cần có “Sĩ hồnthương tài”, tức là cần có sự tổng hợp giữa tinh thần của một người võ sĩ với tàithương mại, kinh doanh Bởi vì, phàm muốn lập thân ắt phải có tinh thần võ sĩ,luôn cố gắng, nỗ lực phấn đấu không biết mệt mỏi, nhưng nếu chỉ có “sĩ hồn”
mà không có “thương tài” sẽ bị “tự diệt” về kinh tế “Thương tài” cũng phải đặtcăn bản trên đạo đức Những loại “thương tài”, bất đức, dối trá, điêu ngoa, phùphiếm - tách rời khỏi đạo đức, thì chỉ là tài vặt và khôn vặt và không thể thànhcông lâu bền Shibusawa tin rằng những người trong công nghiệp và thươngnghiệp cần phải có tinh thần Bushido vì bất kỳ ở nước văn minh nào các nhà xínghiệp và kinh doanh cũng lấy lời hứa làm trọng, và người Nhật nếu khôngmuốn bị thua thiệt thì phải tuyệt đối tôn trọng chữ Tín
Đinh nhân đạo là hệ tư tưởng ra đời sau Bushido vào khoảng cuối thế kỉ 17.Người sáng lập ra Đinh nhân đạo là nhà tư tưởng Ishida Baigan (16851744).Trong học thuyết Đinh nhân đạo của mình, ông đã đề cao vai trò của tầng lớpthương nhân đối với xã hội Ông cho rằng cấu trúc xã hội với 4 thành phần: sĩ,nông, công, thương đã có từ xưa, trong đó mỗi giai tầng có một vai trò của nó,không thể thiếu được thành phần nào Cả 4 giai tầng ấy đều sống trên đất củaquân vương, phục vụ quân vương, nên đều được hưởng ân trạch của quânvương Vì cùng là bề tôi, nên vũ sĩ được hưởng niên bổng của quân vương,nông dân được hưởng thóc lúa, thì thương nhân được hưởng lời lãi - tất cả đều
là bổng lộc vua ban Từ chỗ khẳng định vị trí của người thị dân, Baigan đã đưa
ra “đạo” - tức là chuẩn mực đạo đức của giai tầng này Ông cho rằng: Các giai
Trang 28tầng khác nhau đều phải tự hạn chế dục vọng và hành xử theo đạo để giữ giá trịgiai tầng của mình: Sĩ có trách nhiệm khai phóng tư tưởng và cầm giữ cươngthường, nông dân có bổn phận cần cù nơi đồng ruộng để cung cấp lương thực,thì người thị dân cũng phải hành xử theo đạo Đạo của người thị dân thể hiện
thành 3 đức: tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia; tiết kiệm trong
chi tiêu cho bản thân; cần cù, sáng tạo và 2 nghĩa: chính trong kinh doanh sản xuất; trực trong giao dịch thương mại Về luân lý, nên tránh tửu, sắc, cờ bạc để
dành thì giờ và tiền bạc cho sáng tạo và kinh doanh Luân lý ấy không cấm việcthưởng thức xướng ca, nhưng không được sa vào trác táng.[9]
Có thể khẳng định, chính những tư tưởng này đã đóng góp rất lớn vào côngcuộc duy tân của Nhật Bản, đưa Nhật Bản từ một đất nước nông nghiệp, nghèonàn, lạc hậu trở thành một trong những đất nước giàu mạnh trên thế giới Đồngthời, nó cũng tạo thành nền móng vững chắc để xây dựng nên môi trường vănhóa doanh nghiệp đặc trưng, và hơn nữa là đạo đức kinh doanh cho các doanhnghiệp Nhật Bản sau này
Đến thời kì hiện đại, từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ II, trong hoàn cảnhNhật Bản là nước bại trận phải chịu nỗi nhục nhã và sự tàn phá nặng nề củachiến tranh, chính phủ, các doanh nhân và người dân Nhật Bản đã đặt mục tiêuphải nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh phát triển kinh tếnhằm đưa nước Nhật trở về vị trí một cường quốc kinh tế, phát triển và thịnhvượng như năm xưa là mục tiêu hàng đầu Cũng vì thế, mà đã có những giaiđoạn, việc xây dựng, phát triển đạo đức kinh doanh đã dường như bị lãng quêntrong xã hội và trong các doanh nghiệp Nhật Bản, nhưng càng về sau này nó lạicàng khẳng định được tầm quan trọng của chính mình Trong bài viết “ Đạo đứckinh doanh ở Nhật Bản” (Business Ethics in Japan) của tác giả Iwao Taka, ông
đã chia sự phát triển của đạo đức kinh doanh Nhật Bản thời hiện đại ra 5 giaiđoạn chính:
Trang 29• Giai đoạn 1: Từ trước thập kỷ 60: Giai đoạn tập trung cho phát triển kinh tế.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiệm vụ hàng đầu mà Chính phủ, doanhnghiệp, người dân Nhật Bản đặt ra lúc này là tập trung tất cả cho phát triển kinh
tế, khắc phục những hậu quả của chiến tranh Các doanh nghiệp Nhật Bảndường như không quan tâm đến các vấn đề xã hội và môi trường Cụm từ “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” gần như đã bị quên lãng trong cộngđồng các doanh nghiệp Nhật Bản
Một ví dụ rất đặc trưng về đạo đức của các doanh nghiệp trong thời kì này là
về cách thức giải quyết tranh chấp của doanh nghiệp với người dân bị ảnhhưởng do tác động làm ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp Bất kể mức
độ gây thiệt hại của doanh nghiệp đối với các nạn nhân là bao nhiêu, họ chỉ phảitrả một khoản tiền tượng trưng như là lòng thương hại của họ đối với các nạnnhân mà không phải là những khoản bồi thường thỏa đáng Trách nhiệm pháp lýcủa doanh nghiệp trong những trường hợp này rất mập mờ, không được quiđịnh rõ ràng
• Giai đoạn 2: Từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1970: Giai đoạn xuất hiện ngày càng nhiều các vấn đề xã hội liên quan đến doanh nghiệp.
Giai đoạn này đã ghi nhận những chuyển biến tích cực trong thái độ của cácdoanh nghiệp cũng như của xã hội đối với các vấn đề về trách nhiệm với môitrường và xã hội của doanh nghiệp Nguyên nhân trực tiếp tạo ra sự chuyển biếnnày là từ vụ việc của 4 công ty lớn của Nhật Bản bị phát hiện đã có những hoạtđộng xâm hại nghiêm trọng đến môi trường xung quanh công ty mà tiêu biểu là
vụ việc ở Minamata Năm 1968, sau 12 năm điều tra nguyên nhân gây ra dịchbệnh lạ bùng phát ở Minamata, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra được những bằngchứng chính thức chứng minh được rằng nguyên nhân gây ra dịch bệnh nàyxuất phát từ quá trình sản xuất thủy ngân ở nhà máy Chisso
Trang 30Với những trường hợp bị phát hiện trên, một vấn đề cấp bách được đặt ra vớiChính phủ, với xã hội Nhật Bản là họ phải có những hành động cần thiết để épbuộc các doanh nghiệp phải hoạt động có trách nhiệm với xã hội Năm 1967,
Chính phủ Nhật Bản đã ban hành “Đạo luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường”
(The Basic Law of Enviromental Polluttion Control) Ba năm sau đó, vào năm
1971, một cơ quan chuyên trách về môi trường của Chính phủ cũng đã đượcthành lập nhằm thúc đẩy việc thi hành đạo luật trên.Về phía người tiêu dùngNhật Bản, họ cũng đã có những hoạt động, tiếng nói phản đối các doanh nghiệpNhật Bản có những hành vi xâm hại môi trường, gây tác hại cho xã hội
Dưới sức ép từ phía Chính phủ và người dân, các doanh nghiệp Nhật Bản đãphải có những hành động để nâng cao trách nhiệm xã hội của mình Hai tổ chức
kinh tế lớn của Nhật Bản là Keidaren ( Liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật Bản) với 1000 thành viên và Keizai Doyukai (Hiệp hội các chủ doanh nghiệp Nhật
Bản) với 1500 thành viên đã khuyến nghị các thành viên của mình rằng họ cần
nỗ lực hơn nữa để xây dựng một xã hội thịnh vượng và thực hiện việc quản lýlấy lợi ích xã hội làm trung tâm trong hoạt động của doanh nghiệp mình
• Giai đoạn 3: Nửa cuối những năm 1970: Bước giật lùi của đạo đức kinh doanh.
Năm 1973, thế giới chịu tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng dầu mỏ.Vốn là nước phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn dầu nhập khẩu, nền công nghiệpNhật Bản đã phải gánh chịu những hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng Cácdoanh nghiệp Nhật Bản đã phải tập trung đẩy mạnh công cuộc cơ cấu lại tổchức, hoạt động của doanh nghiệp để tồn tại Rất tiếc là trong hoàn cảnh đó,doanh nghiệp đã lại không chú ý vào việc thay đổi, xây dựng đạo đức kinhdoanh của doanh nghiệp Ngay cả khi, vụ scandal nhận hối lộ của Chính phủNhật Bản bị phanh phui, nó cũng không làm gia tăng thêm sự quan tâm củadoanh nghiệp Nhật Bản với đạo đức kinh doanh
Trang 31• Giai đoạn 4: Những năm 1980: Giai đoạn bong bóng kinh tế bùng nổ.
Sau giai đoạn khủng hoảng, nhờ những quyết định thực hiện quá trình tái cơcấu kịp thời, các doanh nghiệp Nhật Bản đã vượt qua khó khăn và bước vàothời kì phát triển mạnh mẽ Nền kinh tế Nhật Bản cũng đã tăng trưởng với tốc
độ chóng mặt Với thành công như vậy, các nhà doanh nghiệp Nhật Bản đãnhận được không ít lời ngợi khen từ phía các học giả trong nước cũng như nướcngoài Họ đặc biệt đánh giá cao mối quan hệ hợp tác, linh hoạt giữa các nhàquản lí với nhân viên, giữa các nhà cung cấp nguyên liệu với các công ty sảnxuất, giữa các định chế tài chính với khách hàng
Những lời khen ngợi ấy vô hình chung đã khiến các nhà doanh nghiệp NhậtBản nghĩ rằng cách thức quản lí doanh nghiệp của họ hiện nay không chỉ hiệuquả mà còn đảm bảo được các chuẩn mực đạo đức kinh doanh Bởi vì, các mốiquan hệ kinh doanh bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ấy đang được xâydựng dựa trên nền tảng tin cậy, hợp tác chặt chẽ, đôi bên cùng có lợi Chính tâm
lý lạc quan thái quá ấy đã cản trở việc áp dụng những nguyên tắc đạo đức kinhdoanh trong hoạt động của doanh nghiệp Nhật Bản thời kì này
• Giai đoạn 5: Từ những năm 1990 đến nay: Đạo đức kinh doanh khẳng
đinh lại vai trò quan trọng của mình.
Sự phát triển của đạo đức kinh doanh trong giai đoạn này được chia theo 2
xu hướng: xu hướng chủ động và xu hướng bị động.
Xu hướng chủ động được thể hiện qua việc các tổ chức,hiệp hội của doanh
nghiệp Nhật Bản như Keidaren, Keizai Doyukai đang ngày càng đóng vai tròquan trọng trong việc định hướng cho các nhà doanh nghiệp Nhật Bản có nhữngbước phát triển hoạt động kinh doanh theo hướng tích cực có đạo đức kinhdoanh
Tuy nhiên, xu hướng bị động lại là xu hướng có vai trò quan trọng nhất trong
việc thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động có đạo đức kinh doanh Xu hướng bị
Trang 32động được bắt nguồn từ hàng loạt các vụ scandal xảy ra liên tục trong các doanhnghiệp Nhật liên quan đến các vấn đề đạo đức Vụ việc đầu tiên trong chuỗi cácscandal này xảy ra vào năm 1988 liên quan đến hoạt động giao dịch nội gián.Trong vụ việc này, công ty Recruit (một công ty chuyên cung cấp thông tin tàichính) đã dành cho các chính trị gia, các quan chức quyền mua cổ phiếu chưaniêm yết của công ty Recruit Comos (một công ty kinh doanh bất động sản)vớigiá rẻ để đổi lại, các quan chức, các chính trị gia này sẽ dành cho họ những ưuđãi trong lĩnh vực kinh doanh của mình Tiếp đó là hàng loạt các vụ bê bối liênquan đến việc hối lộ các quan chức của các công ty xây dựng, việc thu củakhách hàng những khoản tiền bất hợp lí của các nhà cung cấp gas, việc gia tăngcác khoản nợ xấu và mất khả năng kiểm soát của các định chế tài chính, việcbán các sản phẩm máu bị nhiễm HIV của các công ty dược phẩm đã thực sựlàm chấn động xã hội Nhật Bản So sánh với các vụ bê bối đã xảy ra trong cácgiai đoạn trước đây, thì các vụ bê bối về sau này càng có qui mô rộng và tínhchất nghiêm trọng hơn trước Đi kèm với đó, trong chính sách, pháp luật củaNhà nước, cũng như trong xã hội Nhật Bản đã có những bước thay đổi, bổ sungcăn bản trong các điểm sau:
1- Sự gia tăng trong nhận thức của công chúng Nhật Bản đối với các vấn đềbảo vệ môi trường, thay đổi khí hậu toàn cầu
2- Áp lực quốc tế đòi hỏi Nhật Bản phải mở cửa thị trường hơn nữa
3- Việc có hiệu lực của các đạo luật về trách nhiệm pháp lý của doanhnghiệp đối với các sản phẩm, luật sửa đổi của luật Thương mại về qui định quản
lí của Chính phủ đối với doanh nghiệp
4- Việc gia tăng quyền lực cho Ủy ban chuyên trách về đảm bảo công bằngtrong hoạt động thương mại của Chính phủ
Đứng trước những tác động sâu sắc của các vụ bê bối và sức ép ngày càngcao của Chính phủ và công chúng, các doanh nghiệp Nhật Bản đã nhận thức