1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức từ thực tiễn ở thành phố đông hà, tỉnh quảng trị

111 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Thực Hiện Pháp Luật Về Công Chức - Từ Thực Tiễn Ở Thành Phố Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị
Tác giả Nguyễn Phi Cường
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thị Diệu Oanh
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua và yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới cho thấy pháp luật về công chức hiện hành đã bộc lộ những hạn chế nhất định như: qui định tuyển dụng, đào tạo, bồ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN PHI CƯỜNG

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ CÔNG CHỨC - TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN PHI CƯỜNG

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ CÔNG CHỨC - TỪ THỰC TIỄN Ở

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

CHUYÊN NGÀNH:

LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số: 8 38 01 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN THỊ DIỆU OANH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu tham khảo và công trình nghiên cứu của các tác giả khác về những vấn đề có liên quan đều được chỉ dẫn nguồn cụ thể Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận

án là trung thực và không có sự sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy, cô và đồng nghiệp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới:

Ban Giám đốc, Ban quản lý Sau đại học, Khoa Nhà nước Pháp luật và

Lý luận cơ sở, Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn

PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh, công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn

Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Trị đã tạo điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn thành Luận văn UBND thành phố Đông Hà đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình làm Luận văn

Các thầy, cô trong Hội đồng chấm Luận văn đã cho em những đóng góp quý báu để hoàn thành Luận văn này

Lời cảm ơn chân thành được gửi tới các bạn đồng nghiệp, những người bạn đã chia sẻ những kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành luận văn Bằng tất cả năng lực và nỗ lực hoàn thiện Luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, tôi rất mong nhận được những đóng góp của các thầy, cô và các bạn

Học viên Nguyễn Phi Cường

Trang 5

MỤC LỤC Trang bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục bảng biểu

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 8 1.1.1 Khái niệm pháp luật về công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 8

1.1.2 Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 13

1.1.3 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 14

1.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 14

1.2.1 Xây dựng ban hành chương trình kế hoạch, văn bản pháp luật 14

1.2.2 Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật về công chức 16

1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật về công chức 17

1.2.4 Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 19

1.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 22

1.3.1 Yếu tố pháp luật 22

1.3.2 Truyền thống, văn hóa, phong tục, tập quán 23

1.3.3 Yếu tố kinh tế - xã hội 24

1.3.4 Chủ thể tổ chức thực hiện và quản lý đối với công chức 25

1.3.5 Phẩm chất đạo đức, năng lực của công chức 26

Tiểu kết chương 1 27

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

CÔNG CHỨC Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - TỈNH QUẢNG TRỊ 28

2.1 Tình hình công chức ở thành phố Đông Hà 28

2.2 Tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 32

2.2.1 Ban hành chương trình kế hoạch, văn bản hướng dẫn pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 32

2.2.2 Tình hình phổ biến pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 33

2.2.3 Tình hình tổ chức thực hiện các nội dung pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà 36

2.2.4 Tình hình thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 50

2.3 Đánh giá chung về tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 52

2.3.1 Kết quả đạt được 52

2.3.2 Một số hạn chế về thực thi pháp luật 56

Tiểu kết chương 2 68

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC - TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ 69

3.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 69

3.1.1 Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức phải theo quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay 69

3.1.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức phải tuân thủ các nguyên tắc về quản lý công chức, thi hành công vụ, đảm bảo khách quan, công khai, minh bạch, kịp thời 71

Trang 7

3.1.3 Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức phải căn cứ vào đặc điểm,

tính chất, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng, miền, địa phương 72

3.2 Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức - Từ thực tiễn ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 73

3.2.1 Giải pháp chung 73

3.2.2 Giải pháp đối với thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 80

Tiểu kết Chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYH Bảo hiểm y tế

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số liệu công chức thành phố Đông Hà từ năm 2016 đến 2020 (10 tháng đầu năm) 30Bảng 2.2: Số liệu trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức thành phố Đông Hà từ năm 2016 đến 2020 (10 tháng đầu năm) 31Bảng 2.3: Số liệu tuyển dụng công chức của thành phố Đông Hà từ 2016 -

2020 (10 tháng đầu năm) 39

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để hệ thống chính trị ở các cấp hoạt động có hiệu quả, yếu tố quan trọng và quyết định là phải có đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn đáp ứng được tốt yêu cầu thực thi công vụ Cán

bộ, công chức là những người trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân và là người trực tiếp tổ chức để nhân dân thực hiện Trong đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức có trách nhiệm tham mưu giúp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công Vì vậy, chất lượng của đội ngũ công chức ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật của chính quyền

Xuất phát từ vai trò quan trọng của chính quyền các cấp và đội ngũ công chức, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ban hành pháp luật

để điều chỉnh đối với công chức Pháp luật về công chức đã được hình thành

và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1945 đến nay Qua các giai đoạn lịch sử, pháp luật về công chức đã đạt được những thành tựu nhất định góp phần vào việc thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân vững mạnh Đã có nhiều văn bản qui phạm pháp luật được ban hành tạo hành lang pháp lý cho việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng đội ngũ công chức các cấp Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua và yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới cho thấy pháp luật về công chức hiện hành đã bộc lộ những hạn chế nhất định như: qui định tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương và phụ cấp, thôi việc, nghỉ hưu đối với các đối tượng này vẫn còn bất cập, chưa khuyến khích và chưa động viên được đội ngũ công chức ở cơ sở;

Trang 11

2

chất lượng công chức và hiệu quả hoạt động chưa cao Mặt khác, xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập kinh tế cũng như chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân

và vì dân, công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia đòi hỏi phải đổi mới sự điều chỉnh pháp luật đối với công chức cấp Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức - từ thực tiễn

ở thành phố Đông Hà” nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cơ

sở vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có tính thực tiễn cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, trực tiếp nghiên cứu về Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Có thể kể một số công trình nghiên cứu

có những liên quan nhất định đến nội dung của đề tài như sau:

Sách chuyên khảo về "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" do PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), nghiên cứu những vấn đề lý luận và phương pháp luận nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước; thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay; quan điểm và phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.09 (2002 - 2004) về "Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" do Bộ Nội vụ chủ trì, đã phân tích tính tất yếu khách quan của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thực trạng đội ngũ và thể chế quản

lý cán bộ, công chức; phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công

Trang 12

3

chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2001 nghiên cứu về "Đổi mới chính sách đối với cán bộ chính quyền cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính" của

Bộ Nội vụ; Dự án năm 2004 về "Điều tra thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ Hội đồng nhân dân các cấp và cán bộ chuyên trách cơ sở" do Bộ Nội vụ chủ trì, đã đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ Hội đồng nhân dân (HĐND) và cán bộ, công chức cơ sở, chỉ ra những nguyên nhân và từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, năng lực công tác của cán bộ HĐND và cán bộ, công chức cơ sở Sách chuyên khảo về

"Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay" do GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên), nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn từ quan điểm lý luận đến lịch sử và thực tiễn; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở và chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở ở nông thôn; đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục kiện toàn chính quyền và đội ngũ cán bộ ở cơ sở nước ta hiện nay Tác giả Lê Tư Duyến với bài "Bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn - thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4, 2005; TS Vũ Đức Đán với bài "Vấn

đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở" đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5, 2002; TS Nguyễn Hữu Đức với bài "Từ đặc điểm, tính chất đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở để xây dựng chế độ, chính sách phù hợp" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 8, 2003; ThS Vũ Hữu Kháng với bài "Phân định thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân và tập thể Ủy ban nhân dân" đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3, 2003; TS.Lê Chi Mai với bài "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở - vấn đề và giải pháp" đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 20, 2002; Tác giả Hữu Phan với bài

"Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với các chức danh cán bộ, công chức cấp xã" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 10, 2003 (tổng thuật Hội nghị tọa

Trang 13

4

đàm); TS Thang Văn Phúc với bài "Những định hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể (2001 - 2010)" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 9, 2003 Sách chuyên khảo về "Công vụ, công chức nhà nước" của GS.TS Phạm Hồng Thái đã đưa ra quan niệm về pháp luật công vụ, công chức; phân tích và đánh giá về nội dung của pháp luật công vụ, công chức ở nước ta hiện nay Luận án về "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức ở nước ta" của Nguyễn Văn Tâm (1997), đã phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về công chức nhà nước; sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về công chức nhà nước; đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức ở nước ta

PGS.TS Bùi Đức Kháng chủ nhiệm (2010), Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ - công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập, Đề tài khoa học cấp bộ, TP Hồ Chí Minh

Hồ Đức Việt, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (2010), “Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Lý luận chính trị, (số 2)

Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

“Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức - từ thực tiễn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của tác giả Vũ Thu Hương, 2017, Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn phân tích những vấn đề lý luận tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Tác giả cũng đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại huyện Thanh Oai, Hà Nội Cuối cùng, luận văn đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức từ thực tiễn

Trang 14

5

tại huyện Thanh Oai, Hà Nội

“Hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước”, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Hành chính của tác giả Tạ Ngọc Hải, 2012, Học viện Khoa học xã hội Luận án đã làm rõ các khái niệm, đặc điểm của pháp luật công chức, công vụ; nguyên tắc, quan niệm, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện các quy định pháp luật về công chức, công vụ, nhận thức về tác động, tầm ảnh hưởng và các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến pháp luật công chức, công vụ; phân loại, tiêu chuẩn hóa chức danh công chức theo vị trí việc làm và kết quả công việc; cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ,

vi phạm kỷ luật; nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của công chức, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ trên cơ sở đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng công chức trong điều kiện chuyển đổi mô hình chế độ công chức, công vụ

“Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của tác giả Trần Thị Hạnh,

2012, Học viện Khoa học xã hội Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan niệm pháp luật về CCCX, luận án xây dựng khái niệm khoa học pháp luật

về CCCX, đồng thời phân tích làm rõ vai trò, đặc điểm và nội dung của pháp luật về CCCX; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay Luận án chỉ ra sự khác biệt quan trọng trong việc điều chỉnh của pháp luật

về CCCX so với pháp luật về công chức và các bộ cấp xã trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với 7 chức danh CCCX, tức là gồm cả chức danh là Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã và Trưởng công an xã Điều mà từ trước đến nay các công trình nghiên cứu pháp luật về CCCX hầu như còn bỏ trống Luận án đã phân tích chỉ ra những hạn chế cơ bản trong hệ thống pháp luật về CCCX Một trong những hạn chế cơ bản nhất là pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay điều chỉnh đồng nhất, cứng nhắc với tất cả các chức danh CCCX cũng như giữa CCCX ở đô thị (phường, thị trấn) và

Trang 15

6

ở nông thôn (xã) nên không phù hợp với thực tiễn; pháp luật về CCCX chủ yếu điều chỉnh về “người” mà chưa chú trọng đến “việc”… Từ đó, luận án đề xuất quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay Những công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận

và thực tiễn đối với đề tài Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tìm tài liệu học viên thấy chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật công chức gắn với địa phương cụ thể là thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Do

đó đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật công chức - từ thực tiễn ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị” được học viên chọn để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức từ thực tiễn ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những vấn đề lý luận về công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về công chức bao gồm khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc và các yếu

tố bảo đảm tổ chức thực hiện

- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, tìm ra các ưu điểm và hạn chế khi tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: từ năm 2016 đến nay

- Không gian: thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

Trang 16

7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu những tài liệu lý luận, văn bản, sách báo và các công trình

đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhằm mục đích tổng quan nghiên cứu vấn đề và xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật công chức dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phân tích phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh, phương pháp lịch sử

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục viết tắt, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 Chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở thành phố Đông Hà - tỉnh Quảng Trị

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật về công chức - từ thực tiễn ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

Trang 17

8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1.1.1.1 Công chức, pháp luật về công chức

Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó

là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ, được hưởng lương và các khoản phụ cấp từ nhà nước Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước

sở tại và thường nằm trong biên chế, phạm vi làm việc của công chức là các

cơ quan nhà nước

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề then chốt, Người chỉ ra rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” Xác định vai trò của người cán bộ

Hồ Chí Minh đánh giá: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[5]

Khái niệm công chức ở Việt Nam được hình thành gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII năm

2008 đã thông qua Luật Cán bộ công chức, đây là một văn bản có giá trị pháp

lý cao nhất từ trước tới nay và được cắt nghĩa rõ ràng về khái niệm cán bộ, công chức Điểm mới quan trọng nhất trong Luật cán bộ, công chức là đổi

Trang 18

9

mới chế độ công vụ mà trước hết là Luật này đã phân định rõ đối tượng cán

bộ và công chức, tách biệt với đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do bộ luật khác quy định (Luật Viên chức đã có hiệu lực năm 2010), trừ một số vị trí quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn là công chức Chính điều này đã làm cho hoạt động công vụ tránh được những chồng chéo, vướng mắc trong cách giải quyết, giúp cho công chức định vị rõ phạm vi hoạt động, vị trí của mình trong công việc

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 tại Khoản 2, Điều 4 quy định:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Tại Khoản 3, Điều

4 quy định “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [22]

Luật sửa đổi bổ, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức số 52/2019/QH14, Điều 1 khoản 1: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Trang 19

10

trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương

từ ngân sách nhà nước”

Từ ngày 01/7/2020, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không còn là công chức mà chuyển thành viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Theo GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu, hệ thống pháp luật là “Tổng thể các quy phạm pháp luật được quy định một cách khách quan bởi các điều kiện kinh tế - xã hội, được phân chia thành các bộ phận cấu thành khác nhau (các ngành luật, phân ngành luật, chế định pháp luật), phù hợp với đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhưng các bộ phận khác nhau ấy có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau” [11]

Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận quan niệm pháp luật là các quy phạm pháp luật Như vậy, pháp luật chỉ gắn với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công chức Từ đó, có thể hiểu pháp luật về công chức là các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh hoạt động công vụ của những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Với khái niệm như vậy, nội hàm của pháp luật về công chức bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định công chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Như vậy pháp luật về công chức

sẽ được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc khác nhau do nhiều chủ thể ban hành Bên cạnh việc quy định trong các văn bản như Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức 2008 và các nghị định,

Trang 20

11

thông tư, quyết định về công chức, pháp luật về công chức còn chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác như Luật Lao động điều chỉnh về tiền lương, thời gian làm việc, Luật Hình sự quy định về xử lý hình sự khi công chức vi phạm pháp luật hình sự, Luật Dân sự… Ngoài ra còn rất nhiều văn bản dưới luật khác có tính chất chuyên ngành điều chỉnh bởi lẽ đội ngũ công chức vừa chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dânvề công tác tổ chức, biên chế vừa chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên

- Pháp luật về công chức là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được qui định trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật do nhiều chủ thể ban hành trong

đó chủ yếu là các quy phạm thuộc ngành Luật hành chính

Pháp luật về công chức được quy định trong các văn bản như: Luật Cán

bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các Nghị định của Chính phủ, Thông tư, Quyết định, Thông tư liên tịch của các Bộ hướng dẫn thi hành và Quyết định của UBND tỉnh Bên cạnh đó công chức còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như Lao động, dân sự, hình sự… Ngoài ra theo lĩnh vực chuyên môn, công chức còn chịu sự điều chỉnh của những Luật chuyên ngành như công chức Địa chính - Xây dựng - Đô thị - Môi trường chịu sự điều chỉnh của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật xây dựng…, công chức Tài chính - Kế toán chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân sách, Luật Kế toán đặc điểm này của pháp luật về công chức đòi hỏi khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công chức cần phải phân định rành mạch thẩm quyền, phạm vi của từng chủ thể khi ban hành các văn bản qui phạm pháp luật, đồng thời phải tránh mâu thuẫn, đảm bảo tính thống nhất

- Nội dung pháp luật về công chức rất đa dạng từ tuyển dụng, khen thưởng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, đánh giá…

Trang 21

12

1.1.1.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định pháp luật liên quan tới trách nhiệm công vụ của công chức đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của công chức và các cá nhân, tổ chức có liên quan

Việc tổ chức thực hiện pháp luật về công chức có vai trò quan trọng vì công chức làm việc ở Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính có vị trí đặc biệt trong các cấp chính quyền Hiệu quả và sức mạnh của Nhà nước do chính quyền trung ương quyết định và cách thức tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở Trong đó, cấp cơ sở là cấp gần dân nhất, là cấp chủ yếu thực thi pháp luật Các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước muốn đi vào cuộc sống phải thông qua hoạt động của chính quyền cấp xã, cụ thể là hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và công chức xã nói riêng

Công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho Nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn

Bên cạnh đó, thực hiện pháp luật công chức được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu: không thực hiện hành vi trái pháp luật công chức và thực hiện hành vi hợp pháp, tuân thủ pháp luật công chức, pháp luật công chức trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể sử dụng pháp luật đòi hỏi trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật công chức phải có nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp Từ những phân tích ở trên, chúng ta

có thể hiểu Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động sắp xếp, định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp

Trang 22

13

luật về công chức được triển khai trong thực tiễn; làm cho cơ quan quản lý công chức, cơ quan sử dụng công chức và công chức nắm rõ các quy định của pháp luật, tự giác chấp hành pháp luật; pháp luật về công chức được tuân thủ nghiêm túc trong thực tiễn

1.1.2 Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động sắp xếp, có định hướng nhằm đưa pháp luật công chức vào cơ quan nhà nước Suy cho cùng, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động nhằm đưa pháp luật công chức vào cơ quan nhà nước, trở thành ý thức và thói quen xử sự trong cơ quan nhà nước Hoạt động đó được thực hiện một cách có chủ định,

có tổ chức, có định hướng và có kế hoạch cụ thể Qua hoạt động đó, mục đích của chủ thể tác động nhằm hình thành ở các đối tượng được tác đông những tri thức, thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật về công chức, là cho mọi đối tượng tự giác tuân thủ pháp luật, có ý thức pháp luật cao

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể nhất định

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là một chuỗi các hoạt động

từ phổ biến, giáo dục pháp luật cán bộ, công chức, ban hành văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy nhằm triển khai pháp luật cán bộ, công chức, bảo đảm các điều kiện cơ sở vật chất để thực thi pháp luật cán bộ, công chức và kiểm tra, đánh giá, tổng kết công tác thi hành pháp luật cán bộ, công chức trong thực tế

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là sự tác động một cách thường xuyên, lâu dài chứ không phải chỉ là sự tác động nhất thời, một lần của chủ thể tới đối tượng được được tổ chức thực hiện pháp luật Đó là một quá trình đưa pháp luật về công chức vào cơ quan nhà nước gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước

Trang 23

14

1.1.3 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về công chức

Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động tới các đối tượng là công chức nhà nước nhằm đạt được mục đích của cơ quan nhà nước Do vậy, có thể nói,

tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động có định hướng, có chủ định của các cơ quan nhà nước

Bộ Nội vụ là cơ quan được Chính phủ giao giúp Chính phủ thực hiện quản lý thống nhất trong cả nước về công tác tổ chức Các nội dung quản lý nhà nước về công chức còn được phân cấp cho các bộ và cơ quan ngang bộ,

cơ quan khác thuộc Chính phù, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã và cơ quan đơn vị sử dụng công chức Công chức làm việc trong nhiều

cơ quan, tổ chức khác nhau theo quy định của pháp luật vì vậy tổ chức thực hiện pháp luật công chức sẽ do các cơ quan, tổ chức này triển khai thực hiện 1.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về công chức

1.2.1 Xây dựng ban hành chương trình kế hoạch, văn bản pháp luật Đây là nội dung quan trọng trong tổ chức thực hiện pháp luật về công chức, bởi lẽ đây là hoạt động có tính định hướng cho mọi hoạt động, là tiền đề

để đi vào cuộc sống, mang lại hiêu quả cao Ngược lại việc hoạch định sai cho

ra đời chính sách không phù hơp với thực tế, thiếu tính khả thi, sẽ mang lại hậu quả không mong muốn trong quá trình thực hiện hiện pháp luật của công chức Những tổn hại này không chỉ tạm thời, cục bộ, mà nó còn ảnh hưởng lâu dài đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Chính sách muốn đi vào thực tiễn đòi hỏi các hoạch định chính sách được cụ thể hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc thi hành trên thực tiễn cuộc sống, song bên cạnh đó, các chính sách này còn bao gồm cả phương án, hành động không mang tính bắt buộc mà có tính định hướng, kích thích sự phát triển Việc hoạch định chính sách này tập trung vào các vấn đề như:

Trang 24

15

Thứ nhất, xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành

về bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức

Thứ hai, đối với việc đề xuất ban hành văn bản quy phạm pháp luật Việc đề xuất ban hành văn bản QPPL phải đảm bảo cơ sở pháp lý, cơ

sở thực tiễn; dự liệu được hết các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện; tính toán kỹ về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung, các chính sách trong đề xuất xây dựng văn bản, đảm bảo tính khả thi sau khi văn bản được ban hành

Trước khi xây dựng dự thảo phải tiến hành đánh giá, tổng kết một cách

cụ thể, khách quan, toàn diện lĩnh vực dự kiến tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật, để ngay từ giai đoạn này khẳng định được có hay không, nên hay không nên tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này, tránh tình trạng tổ chức thực hiện soạn thảo, triển khai lấy ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định, sau đó mới nhận thấy (hoặc qua công tác góp ý, thẩm định) cho thấy nội dung trong dự thảo thiếu căn cứ pháp lý, không khả thi hoặc không cần thiết ban hành làm mất nhiều thời gian, nhân lực cho công đoạn này

Thứ ba, đối với văn bản cần sửa đổi, bổ sung:

Trong công tác rà soát văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cần thực hiện rà soát toàn diện, tổng thể Nếu thực hiện việc rà soát theo từng nhóm lĩnh vực và sau đó tham mưu sửa đổi, bổ sung từng lĩnh vực thì mất nhiều thời gian, nhân lực, kinh phí Thay vào đó, các cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát toàn diện, tổng thể các văn bản QPPL thuộc lĩnh vực đơn vị mình quản lý sau đó tổng hợp dự thảo một văn bản chung để sửa đổi, bổ sung cho tất cả các lĩnh vực Với giải pháp này vừa tiết kiệm thời gian, đồng thời vừa đảm bảo nguyên tắc theo quy định tại Khoản 3 Điều 12 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 “Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành

Trang 25

16

để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng cơ quan ban hành”

1.2.2 Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật về công chức

Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật công chức là một trong những nội dung quan trọng của công tác tổ chức thực hiện pháp luật công chức, nhằm giúp công chức không tiến hành những hoạt động mà pháp luật công chức cấm Đồng thời, việc tuyên truyền giúp công chức nhà nước nhận thức được những hành vi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật về công chức cụ thể quy định về các nghĩa vụ pháp lý theo luật công chức

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật công chức có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tuyên truyền miệng; thông qua các cuộc thi tìm hiểu; thông qua tờ rơi; thông qua hệ thống thông tin đại chúng…

Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền khá phổ biến mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đó chủ yếu là các văn bản pháp luật đó nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật, niềm tin vào pháp luật và ý thức pháp luật cho người nghe và kích thích người nghe hành động theo các chuẩn mực pháp luật Tuyên truyền miệng về pháp luật có nhiều ưu thế thể hiện ở tính linh hoạt, có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào và số lượng người nghe; người nói

có điều kiện thuận lợi để giải thích, phân tích, làm sáng tỏ nội dung cần tuyên truyền, hai bên có thể hỏi đáp trực tiếp để đáp ứng yêu cầu của nhau Trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật từ trước đến nay, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tuyên truyền miệng được sử dụng phổ biến, rộng rãi và có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác

Trang 26

17

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật công chức còn có thể thực hiện thông qua việc biên soạn, phát hành tài liệu pháp luật Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật gồm nhiều loại như đề cương tuyên truyền, văn bản pháp luật, sách hướng dẫn, giải thích pháp luật, sách pháp luật bỏ túi, sách hỏi đáp pháp luật,

tờ rơi, tờ gấp, bản tin, tranh áp phích, lịch… trong tuyên truyền miệng, trong các hoạt động giảng dạy và học tập pháp luật công chức tại các trường đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công chức… đều sử dụng tài liệu pháp luật để thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chịu sự tác động nhất định của chất lượng các tài liệu pháp luật, vì vậy, việc biên soạn, phát hành các tài liệu này cũng được chú trọng cả hình thức và nội dung

Ngoài ra, để pháp luật công chức trở nên gần gũi và trở thành nhận thức trong hoạt động quản lý nhà nước, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật còn

có thể thực hiện thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật; thông qua hoạt động thực thi pháp luật; thông qua việc thực hiện ký cam kết không vi phạm pháp luật

1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật về công chức

Thực hiện pháp luật về công chức nhằm thực hiện các qui định của pháp luật về quản lý công chức, đưa các qui phạm pháp luật này vào thực tiễn cuộc sống, biến nó thành những hành vi xử sự thực tế góp phần phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về công chức

Pháp luật về công chức được thực hiện trong đời sống xã hội thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Các qui phạm pháp luật về công chức của nước ta hiện nay được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì nội dung rất rộng, liên quan đến tất cả các mặt của lĩnh vực quản lý công chức

Trang 27

18

Nội dung của pháp luật về chức được dựa trên các nội dung quản lý công chức Bất kỳ nội dung quản lý công chức nào cũng cần có những thể chế tương ứng

Căn cứ Luật CBCC 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các văn bản hướng dẫn thi hành thì nội dung về công chức hành chính bao gồm:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức

Đây là nội dung quan trọng có tính chất quyết định đến chất lượng đội ngũ công chức làm việc sau này của cơ quan hành chính Tuyển dụng là việc thực hiện các quy trình chuyên môn, nghiệp vụ để lựa chọn các ứng viên đủ tiêu chuẩn vào làm việc theo yêu cầu của từng vị trí việc làm và nhu cầu của các cơ quan, đơn vị trong khung biên chế được giao sử dụng hàng năm Công tác tuyển dụng được tổ chức khách quan, công bằng, cạnh tranh theo hướng mở và phương thức tuyển dụng đa dạng, phù hợp là cách thức để chọn được người có khả năng làm việc trong bộ máy

Hiện nay, công tác tuyển dụng được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 24/2010 NĐ-CP của Chính phủ Trong tuyển dụng, UBND tỉnh có thẩm quyền quyết định việc tuyển dụng công chức trên địa bàn tỉnh Sở Nội

vụ là cơ quan tham mưu, là thường trực Hội đồng tuyển dụng do UBND tỉnh thành lập, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về thực hiện các quy trình chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện việc tuyển dụng

Thứ hai, thực hiện pháp luật về nâng ngạch, chuyển ngạch và tiêu chuẩn ngạch, bổ nhiệm ngạch công chức

Nâng ngạch là việc chuyển công chức từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn theo tiêu chuẩn ngạch quy định tại Thông tư số 11/2014 TT-NV ngày 9/10/

2014 của Bộ Nội vụ và Thông tư số 05/2017 TT-NV ngày 15/8/2017 của Bộ Nội vụ sửa đổi một điều của Thông tư số 11/2014 TT-BNV

Trang 28

19

Tại 02 văn bản trên, Bộ Nội vụ quy định cụ thể các ngạch công chức trong bộ máy hành chính gồm: Chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên Ở mỗi ngạch có quy định cụ thể các tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ đào tạo, bồi dưỡng

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 50; Khoản 3 Điều 28 Nghị định số 24/

2010 NĐ-CP thì UBND tỉnh có thẩm quyền tổ chức thi nâng ngạch nhân viên lên cán sự và cán sự lên chuyên viên, xét chuyển ngạch công chức, bổ nhiệm ngạch công chức từ ngạch chuyên viên chính trở xuống

Thứ ba, thực hiện pháp luật về đánh giá, phân loại công chức hàng năm Đánh giá công chức là khâu quan trọng trong công tác quản lý của các

cơ quan hành chính nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

từ trung ương đến địa phương, góp phần thực hiện thành công nội dung cải cách hành chính nhà nước Đánh giá công chức kịp thời, chính xác là cơ sở để thực hiện tốt công tác bổ nhiệm, quy hoạch, quản lý, sử dụng và thực hiện chính sách đối với công chức; rà soát lại đội ngũ công chức về cơ cấu, năng lực thực thi công vụ, phẩm chất đạo đức, thể lực, trình độ chuyên môn, thái độ thực thi công vụ kết quả đánh giá công chức còn giúp cho công tác đề bạt,

bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật để đánh giá công chức có hiệu lực, hiệu quả thì việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật liên quan là rất cần thiết

1.2.4 Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về công chức

Tổ chức giám sát và đánh giá việc tổ chức thực hiện pháp luật công chức thông qua các hình thức thanh tra, kiểm tra là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao ý thức thực hiện pháp luật về công chức trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức Giám sát và đánh giá chính là cơ chế hữu hiệu để điều chỉnh và

xử lý những sai sót có thể có nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra

Trang 29

20

Ở từng nội dung cụ thể của pháp luật công chức, giám sát và đánh giá

có rất nhiều ý nghĩa đối với việc nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật Đó là công cụ để kiểm soát việc thực hiện pháp luật và đặc biệt là

để hạn chế sự lạm quyền của các công chức, viên chức trong quá trình tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật Giám sát và đánh giá cũng tạo ra áp lực để các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật phải thực hiện theo đúng bổn phận của mình, tránh trường hợp trễ nải trong việc thực hiện nhiệm vụ Và giám sát, đánh giá cũng là công cụ để thu thập phản hồi nhằm điều chỉnh bản thân các quy định của văn bản quy phạm pháp luật Thực tế cũng đã cho thấy có những bài học thành công trong việc tổ chức thực hiện pháp luật nhờ thực hiện việc giám sát một cách chặt chẽ công tác tổ chức thực hiện pháp luật

Ở góc độ vĩ mô, cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật nói chung

và pháp luật công chức nói riêng gắn liền với việc cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh của quyền lực nhà nước Kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền được hiểu là một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểm soát phạm vi hoạt động của cơ quan nhà nước; kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm soát những người thực thi quyền lực và có thể kiểm soát từ bên ngoài và bên trong nhà nước Kiểm soát từ bên ngoài nhà nước là kiểm soát từ Nhân dân và xã hội, kiểm soát từ bên trong là kiểm soát do chính Nhà nước thực hiện Trong hệ thống đó, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật ở tầm vĩ mô của các cơ quan nhà nước sẽ được xác định rõ ràng Và đây cũng chính là động lực chính trị cơ bản nhất để vận hành có hiệu quả hệ thống cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật

Trang 30

21

Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật công chức là một nội dung quan trọng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra Kết quả theo dõi, đôn đốc, kiểm tra sau thanh tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định hiệu lực của hoạt động thanh tra, xác định hoạt động thanh tra có đạt được kết quả đề ra hay không

Việc tổ chức thực hiện pháp luật công chức cũng như các lĩnh vực pháp

lý khác luôn đảm bảo hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng cơ sở pháp lý về công chức để hình thành quan hệ pháp luật giữa công chức với đơn vị công tác và các chủ thể khác của xã hội, và giai đoạn mỗi công chức, cá nhân và tổ chức liên quan tham gia quan hệ pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo luật

Công tác thanh tra công vụ không chỉ có ý nghĩa phòng ngừa, phát hiện

và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của công chức trong việc chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng công chức mà còn góp phần bảo đảm các điều kiện cho hoạt động công vụ

Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành Do đó, thanh tra công vụ có thể hiểu là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục

do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của công chức; việc chấp hành pháp luật về quản

lý, sử dụng công chức và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ

Trang 31

22

Thanh tra công vụ được thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt; và thanh tra đột xuất khi phát hiện đối tượng thanh tra có dấu hiệu

vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do

Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Giám đốc Sở Nội vụ giao

1.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 1.3.1 Yếu tố pháp luật

Pháp luật về công chức là phương tiện quan trọng trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước Để bộ máy đó hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình; phải xác lập được một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa chúng, phải có những phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước Những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên

cơ sở những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật Thực tế Việt Nam những năm qua cho thấy khi chưa có một hệ thống pháp luật về công chức đầy đủ, đồng bộ, thống nhất và chính xác để làm cơ sở cho việc củng

cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước, thì dễ dẫn đến tình trạng trùng lặp, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền của các cấp chính quyền, bộ máy dễ sinh ra cồng kềnh và kém hiệu quả, không quản lý hiệu quả công chức, chưa tạo được cơ chế hữu hiệu tạo động lực cho công chức trong quá trình thực thi công vụ

Quản lý nhà nước là lĩnh vực có quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó có quan hệ quản lý nhân sự - một trong những vấn đề trọng yếu của nền hành chính quốc gia Pháp luật về công chức với hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc khác nhau để điều chỉnh các quy định về: tiêu chuẩn; quyền và nghĩa vụ của công chức, tuyển dụng; điều động, tiếp nhận, trình

tự và thủ tục đánh giá; thôi việc và thủ tục nghỉ hưu; xử lý kỷ luật; các

Trang 32

23

chế độ chính sách đối với công chức

1.3.2 Truyền thống, văn hóa, phong tục, tập quán

Văn hóa truyền thống dân tộc, nơi mà các tổ chức đang tồn tại và hoạt động có ảnh hưởng quan trọng đối với văn hóa của tổ chức đó Lối suy nghĩ của người Việt Nam phần lớn chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nông nghiệp, nét văn hóa cộng đồng, vùng miền, văn hóa làng đã tạo nên ý thức cộng đồng cao, trọng tập thể Tuy nhiên, nó làm cho vai trò của tập thể được đề cao, cái tôi cá nhân ít được chú trọng, hay cá nhân thường bị chi phối bởi những chuẩn mực của cộng đồng nên thông thường không dám làm điều gì trái ngược với chính kiến của đám đông, vai trò cá nhân không được đề cao, nhân viên luôn chờ đợi ý kiến chỉ đạo của cấp trên tạo nên tình trạng trì trệ, ỷ lại vào tập thể, thiếu chủ động, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc Một hiện tượng phổ biến hiện nay là hoạt động công vụ của công chức ít quan tâm đến chất lượng, hiệu quả thực thi, đặc biệt họ sử dụng nguồn lực của tổ chức một cách tùy tiện, họ coi tài sản tập thể như

“của chùa”, thói quen chi tiêu bừa bãi, lãng phí theo kiểu “cha chung không

ai khóc” là tình trạng thường gặp

Bên cạnh, việc né tránh mâu thuẫn, đấu tranh và ngần ngại trước những thay đổi cũng là một đặc tính của văn hóa hành chính Việt Nam xuất phát từ sự tế nhị, kín đáo, tâm lý ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý” Chính kiểu văn hóa tế nhị, kín đáo này góp phần tạo cơ sở cho một số kỹ thuật hành chính như bỏ phiếu kín tín nhiệm Điều này có thể làm cho các nhà quản lý khó khăn hơn trong việc thu nhận được những thông tin phản hồi thực chất

về các vấn đề trong tổ chức

Như vậy cho chúng ta thấy rằng việc lập lại một trật tự vốn đã được hình thành từ xưa, đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người là việc không

dễ, chính vì lý do đó mà ta cải cách hành chính, nhằm tái thiết và đưa những

“thói quen” đó vào trong một khuôn khổ mà ta đã định ra Ảnh hưởng của yếu

Trang 33

24

tố truyền thống, nét văn hóa của dân tộc vốn đã được hình thành từ ngàn xưa

là việc làm khó nhưng chúng ta vẫn phải làm để làm cho nền hành chính chúng ta ngày càng hoạt động hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới ngày nay

1.3.3 Yếu tố kinh tế - xã hội

Mức độ hoàn thiện tổ chức thực hiện pháp luật về công chức phản chiếu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bất kỳ một xã hội, một quốc gia nào, thể chế quản lý công chức cấp cũng phải phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển, sẽ thúc đẩy công chức phát triển và ngược lại Pháp luật công chức suy cho cùng chính là hệ thống văn bản pháp luật quản lý công chức Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì điều kiện kinh tế, các quan hệ kinh tế quyết định trực tiếp đến sự ra đời của pháp luật, đồng thời quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của nó Các Mác đã viết: "Trong thời đại nào cũng thế, chính là vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Chẳng qua chế độ pháp luật về chính trị, cũng như về dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế"

Trong tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, có thể nói, đất nước càng đổi mới thì nhận thức về những tác động của nền kinh tế thị trường ngày càng thâm nhập sâu sắc và rõ rệt vào đời sống xã hội nước ta Trong bối cảnh mở cửa và thực hiện nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi một bộ máy Nhà nước năng động, hoạt động có hiệu quả là cấp bách và chính đáng của mọi người và mọi tổ chức kinh tế - xã hội Nhưng sự vận hành có hiệu quả của bộ máy Nhà nước trên thực

tế lại phụ thuộc vào những con người cụ thể, mọi công việc được giải quyết nhanh hay chậm do chính những quyết định của đội ngũ công chức từ cấp Trung ương cho đến cấp cơ sở, thấp nhất là cán bộ, công chức cấp xã Bởi vậy, hoàn

Trang 34

25

thiện pháp luật về công chức là hết sức cần thiết, nhằm tạo ra một hệ thống pháp luật từ đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm, quản lý cho đến chế độ, chính sách một cách đồng bộ, thống nhất, ổn định, làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền địa phương trong thời kỳ mới

1.3.4 Chủ thể tổ chức thực hiện và quản lý đối với công chức

Tổ chức thực hiện đối với công chức được thực hiện căn cứ vào trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của công chức; đồng thời thực hiện các nội dung quản lý như: quản lý biên chế, quản lý hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức, tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch; bố trí, sử dụng, điều động, luân chuyển, biệt phái, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, xử lý vi phạm; thực hiện chính sách, chế độ tiền lương, thôi việc, nghỉ hưu và các chính sách đãi ngộ khác đối với công chức

Quản lý công chức để đảm bảo mục tiêu cần phải được thực hiện trên

cơ sở các nguyên tắc và chế định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công chức chính

là công cụ để các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý công chức triển khai việc tổ chức, thực hiện quản lý công chức theo quy định Pháp luật

về quản lý công chức trước hết phải được xác định là hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật quy định những nội dung liên quan đến quản lý công chức, bao gồm: luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư quy định về quản

lý công chức

Một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng đội ngũ công chức

là việc chấp hành nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công chức Vì vậy, chất lượng của hệ thống thể chế về quản lý công chức phải được đảm bảo hoàn thiện, thống nhất, khả thi đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề thực tiễn trong quản lý công chức Việc quy định các nội dung quản lý

Trang 35

26

công chức và tổ chức thực hiện quản lý công chức phải đảm bảo phù hợp với

hệ thống chính trị ở nước ta, mặt khác phải đảm bảo được yếu tố chuyên nghiệp của đội ngũ công chức, đạt mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức có

đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

1.3.5 Phẩm chất đạo đức, năng lực của công chức

Năng lực của cán bộ, công chức nói chung luôn gắn với mục đích tổng thể, với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện cụ thể Năng lực liên quan chặt chẽ đến quá trình làm việc, phương pháp làm việc hiệu quả và khoa học công nghệ Yêu cầu năng lực sẽ thay đổi khi tình hình công việc và nhiệm vụ thay đổi Vì vậy, năng lực làm việc của cán bộ, công chức hay còn gọi là năng lực thực thi trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của cán bộ, công chức là khả năng của cán bộ, công chức để hoàn thành nhiệm

vụ được giao trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định

Trong hoạt động quản lý nhà nước, năng lực của công chức chính là khả năng của công chức thực hiện có kết quả hoạt động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước với đối tượng quản lý phù hợp với trật tự hành chính quy định và xác định theo ý chí của nhà quản lý một cách hiệu quả

Năng lực thực thi công vụ là thuật ngữ chỉ khả năng về thể chất và trí tuệ của mỗi công chức trong việc sử dụng các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, trình

độ, thái độ hành vi để hoàn thành công việc được giao, xử lý tình huống và để thực hiện nhiệm vụ trong mục tiêu xác định Năng lực thực thi công vụ không chỉ bao gồm các yếu tố như trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi ứng

xử mà còn bao hàm cả khả năng kết hợp hài hòa các yếu tố đó trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

Con người luôn được xem là trung tâm của mọi vấn đề, là nguồn lực quan trọng nhất trong tất cả các nguồn lực Bởi lẽ chính con người sẽ quyết định sự tồn tại của tất cả Trong quá trình tổ chức thực hiện chúng ta phải luôn hướng

Trang 36

27

đến yếu tố này, bởi lẽ không thể nào áp đặt những gì ta nghĩ để buộc người khác phải thực hiện mà tất cả những yếu tố đó phải hướng đến công chức Sự áp đặt cứng nhắc là điều tối kỵ trong một xã hội, trong một tổ chức, đặc biệt là đối với nước ta, một nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Pháp luật về công chức được ban hành và điều chỉnh như thế nào phải xuất phát từ đặc điểm về trình độ năng lực, nhận thức của đội ngũ công chức Nếu cao hoặc thấp hơn đều không phù hợp Mặt khác con người ở đây được hiệu là tổ chức và cá nhân có trách nhiệm chính trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý công chức Mức độ tổ chức thực hiện pháp luật về công chức yêu cầu của thực tiễn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các cơ quan, cá nhân tham gia vào hoạt động tổ chức

Tiểu kết chương 1 Trong chương 1, học viên đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung nhất của pháp luật về công chức, tổ chức thực hiện pháp luật công chức như: đưa ra quan niệm, đặc điểm pháp luật về công chức; khái niệm, đặc điểm nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về công chức và những yếu tố bảo đảm quá trình trình tổ chức thực hiện pháp luật về công chức

Những vấn đề lý luận ở chương 1 sẽ tạo tiền đề, làm cơ sở phân tích thực trạng và đánh giá quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về công chức từ thực tiễn ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tại chương 2

Trang 37

28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - TỈNH QUẢNG TRỊ

UBND thành phố có Chủ tịch, 02 phó chủ tịch; hiện tại có 01 phó chủ tịch; các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban Nhân dân thành phố Đông Hà gồm có 12 cơ quan chuyên môn được thành lập theo Nghị định số 37/2015NĐ-CP gồm: Phòng Nội vụ; Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Lao động - Thương binh và

Xã hội; Phòng Văn hoá và Thông tin; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế; Thanh tra; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; Phòng Kinh tế; Phòng Quản lý đô thị và 01 cơ quan đặc thù được UBND tỉnh thành lập là Đội Trật tự xây dựng thành phố

Trang 38

29

Thành phố Đông Hà có 09 đơn vị hành chính cấp phường, gồm: Phường 1; phường 2 phường 3, phường 4, phường 5, phường Đông Giang, phường Đông Thanh, phường Đông Lễ và phường Đông Lương

Hệ thống chính trị cấp phường có: Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận TQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội

Đảng ủy có Bí thư Đảng ủy, 2 Phó Bí thư Đảng ủy, trong đó 1 Phó Bí thư phụ trách công tác Đảng (Phó Bí thư Thường trực), Phó Bí thư phụ trách chính quyền (Chủ tịch UBND); Văn phòng Đảng ủy có 01 cán bộ, công chức chuyên trách; cán bộ các ban Đảng và UBKT Đảng ủy đều kiêm nhiệm

HĐND phường có Chủ tịch (hầu hết do Bí thư Đảng ủy kiêm chức), Phó Chủ tịch HĐND chuyên trách, còn các ban của HĐND cấp phường kiêm nhiệm; riêng Văn phòng chung cho cả HĐND và UBND

UBND cấp phường có chủ tịch và 02 phó chủ tịch; các bộ phận chuyên môn gồm có 12 công chức

Mặt trận TQVN phường có cơ quan thường trực gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực; các tổ chức đoàn thể gồm có: Công đoàn

cơ sở, Hội Nông dân, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHPN, Hội Cựu Chiến binh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam…

2.1.2 Số lượng và chất lượng công chức

Tổng biên chế hành chính được UBND tỉnh giao năm 2020 là 107 biên chế, được thể hiện cụ thể qua bảng số liệu như sau:

Trang 39

Nguồn: Phòng Nội vụ thành phố Đông Hà

Trang 40

- Đối với cán bộ công chức thành phố

Bảng 2.1: Số liệu trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức thành phố Đông Hà từ năm 2016 đến 2020 (10 tháng đầu năm)

STT Trình độ

chuyên môn

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

10 tháng năm 2020

Ngày đăng: 20/09/2022, 09:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Nội vụ (2010), Thông tư số 13/2010/TT-BNV Quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2010/TT-BNV Quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2010
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến cấp xã; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến cấp xã
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
9. Chuyên đề “nền công vụ, công chức”, Thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý ấn hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nền công vụ, công chức
10. Nguyễn Hữu Đức (2003), “Từ đặc điểm, tính chất đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở để xây dựng chế độ, chính sách phù hợp", Tổ chức nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đặc điểm, tính chất đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở để xây dựng chế độ, chính sách phù hợp
Tác giả: Nguyễn Hữu Đức
Nhà XB: Tổ chức nhà nước
Năm: 2003
11. Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu (2009), Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2009
15. Thang Văn Phúc (2003),” Những định hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể (2001 - 2010)”, Tổ chức nhà nước. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những định hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể (2001 - 2010)
Tác giả: Thang Văn Phúc
Nhà XB: Tổ chức nhà nước
Năm: 2003
17. Quốc hội khóa VIII, Luật thi đua, khen thưởng ngày 26/11/2003 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng, khen thưởng ngày 14/06/2005, luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thi đua, khen thưởng số 39/2013/QH13 ngày 16/11/2013, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thi đua, khen thưởng
Tác giả: Quốc hội khóa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
18. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2008), Luật cán bộ, công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật cán bộ, công chức
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
20. Chu Văn Thành (1998) Báo cáo tóm tắt đề tài khoa học cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học của xây dựng chế độ công chức công vụ ở nước ta”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt đề tài khoa học cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học của xây dựng chế độ công chức công vụ ở nước ta”
Tác giả: Chu Văn Thành
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
21. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 phê duyệt Đề án "Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức"; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 phê duyệt Đề án "Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
1. Bộ Nội vụ (2004), Các văn bản pháp luật về cán bộ, công chức, biên chế và chính quyền địa phương, tập 1, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
3. Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 05/2012/TT-BNV về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/03/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Khác
4. Bộ Nội vụ (2013), Thông tư số 02/2013/TTHN-BNV ngày 3 tháng 10 năm 2013 quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ Khác
6. Chính phủ (2010), Nghị định số 93/2010/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Khác
7. Chính phủ (2013), Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Khác
12. Phòng Nội vụ thành phố Đông Hà (2016, 2017, 2018, 2019, 10/2020), Báo cáo tổng hợp số liệu công chức thành phố năm 2016, 2017, 2018, 2019, 10/2020 Khác
13. Phòng Nội vụ thành phố Đông Hà (2016, 2017, 2018, 2019, 10/2020), Báo cáo tổng hợp số liệu thi đua khen thưởng công chức thành phố năm 2016, 2017, 2018, 2019, 10/2020 Khác
14. Phòng Nội vụ thành phố Đông Hà (2016, 2017, 2018, 2019, 10/2020), Báo cáo tổng hợp số liệu tuyển dụng công chức thành phố năm 2016, 2017, 2018, 2019, 10/2020 Khác
19. Quyết định số 103/2009/QĐ-UBND ngày 24/09/2009 của UBND về việc ban hành quy định về quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tiền lương, tiền công cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng trong cơ quan đơn vị thuộc thành phố Hà Nội Khác
23. UBND thành phố Đông Hà (2017), Báo cáo số 203/BC/UBND ngày 08/9/2017 Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết TW3 Khoá VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số liệu công chức thành phố Đông Hà từ năm 2016 đến 2020 - Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức   từ thực tiễn ở thành phố đông hà, tỉnh quảng trị
Bảng 2.1 Số liệu công chức thành phố Đông Hà từ năm 2016 đến 2020 (Trang 39)
Bảng 2.1: Số liệu trình độ chun mơn nghiệp vụ của công chức thành phố Đông Hà từ năm 2016 đến 2020 (10 tháng đầu năm)  STT Trình độ - Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức   từ thực tiễn ở thành phố đông hà, tỉnh quảng trị
Bảng 2.1 Số liệu trình độ chun mơn nghiệp vụ của công chức thành phố Đông Hà từ năm 2016 đến 2020 (10 tháng đầu năm) STT Trình độ (Trang 40)
Bảng 2.2: Số liệu tuyển dụng công chức của thành phố Đông Hà từ 2016 - 2020 (10 tháng đầu năm) - Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức   từ thực tiễn ở thành phố đông hà, tỉnh quảng trị
Bảng 2.2 Số liệu tuyển dụng công chức của thành phố Đông Hà từ 2016 - 2020 (10 tháng đầu năm) (Trang 48)
Hình 3.5. Diễn biến hàm lượng Cd trong nước hồ Yên Trung - Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức   từ thực tiễn ở thành phố đông hà, tỉnh quảng trị
Hình 3.5. Diễn biến hàm lượng Cd trong nước hồ Yên Trung (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm