1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội

146 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Trên Địa Bàn Quận Cầu Giấy, Thành Phố Hà Nội
Tác giả Lê Hoài Thu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Lan Anh
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy, cải cách TTHC là tiền đề để nâng cao chất lượng thể chế, trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải qu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

.…….…………/.………

BỘ NỘI VỤ

……./……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ HOÀI THU

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ LAN ANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ đề tài “Cải cách thủ tục hành chính

trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu khoa

học độc lập của riêng tôi Các thông tin, tư liệu, số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, chính xác, đúc kết qua quá trình nghiên cứu thu thập tài liệu mà có được Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2022

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

LÊ HOÀI THU

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Học viện, cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy tại Học viện Hành chính Quốc gia đã truyền đạt cho tác giả những kiến thức lý luận vô cùng hữu ích, phục vụ tốt cho việc nghiên cứu cũng như công tác chuyên môn của bản thân Cảm ơn các Thầy, Cô khoa sau đại học cùng hai cô giáo chủ nhiệm lớp HC24-B1 đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả có

cơ hội bảo vệ luận văn trước Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ

Với tình cảm trân trọng và chân thành, tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới

TS Nguyễn Thị Lan Anh - Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia đã tận

tình chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ tác giả trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn bạn bè lớp Quản lý công HC24-B1, gia đình, cơ quan đồng nghiệp và các cán bộ công chức làm việc tại UBND phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ về thời gian, tinh thần, cung cấp thông tin, số liệu để tác giả hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2022

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

LÊ HOÀI THU

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 9

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thủ tục hành chính 9

1.1.1 Những khái niệm cơ bản về thủ tục hành chính 9

1.1.2 Đặc điểm, vai trò của thủ tục hành chính 13

1.1.3 Thủ tục hành chính tại UBND cấp quận 19

1.2 Những vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính 22

1.2.1 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính 22

1.2.2 Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính 25

1.2.3 Nội dung cải cách thủ tục hành chính tại UBND cấp quận 31

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến cải cách thủ tục hành chính cấp quận 36

1.3.1 Nhân tố chủ quan 37

1.3.2 Nhân tố khách quan 39

Trang 5

1.4 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn một số

quận thuộc thành phố Hà Nội 41

1.4.1 Quận Tây Hồ 41

1.4.2 Quận Ba Đình 43

1.4.3 Quận Bắc Từ Liêm 45

1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho quận Cầu Giấy 47

Tiểu kết chương 1 49

Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 50

2.1 Khái quát chung về quận Cầu Giấy 50

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và dân cư của quận Cầu Giấy 50

2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng quận Cầu Giấy 51

2.1.3 Ảnh hưởng của tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng đến cải cách hành chính nhà nước trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 54

2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND quận Cầu Giấy 56

2.2 Thực trạng việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 60

2.2.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá công chức làm việc tại bộ phận “một cửa” 60

2.2.2 Về số lượng, chất lượng công chức tại bộ phận “một cửa” 63

2.2.3 Quá trình triển khai tổ chức thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy trong điều kiện phát triển công nghệ số 64

2.2.4 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị 68

2.2.5 Công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, công khai thủ tục hành chính cho công dân, tổ chức 69

2.2.6 Công tác kiểm tra, kiểm soát về cải cách TTHC 72

Trang 6

2.3 Đánh giá thực trạng cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn

quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 73

2.3.1 Đánh giá chung 73

2.3.2 Những kết quả đạt được 76

2.3.3 Những tồn tại, hạn chế 79

2.3.4 Nguyên nhân 83

Tiểu kết chương 2 88

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 89

3.1 Phương hướng cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong thời gian tới 89

3.1.1 Cải cách thủ tục hành chính tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính quận Cầu Giấy với các tổ chức và công dân 89

3.1.2 Thực hiện đồng bộ cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội quận Cầu Giấy 93

3.1.3 Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy góp phần ổn định về chính trị - an ninh xã hội quận Cầu Giấy 95

3.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 97

3.2.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và quan tâm đến chế độ đãi ngộ cho đội ngũ công chức làm việc tại bộ phận “một cửa” 97

3.2.2 Triển khai thực hiện có hiệu quả mô hình “một cửa liên thông” từ UBND phường, UBND quận đến UBND thành phố theo hướng hiện đại, theo kịp với thời đại công nghệ số 99

3.2.3 Đẩy mạnh đổi mới phương thức làm việc và hiện đại hóa cơ sở vật chất 103

Trang 7

3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật về cải cách thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức và

công dân, tổ chức 106

3.2.5 Giải pháp về kiểm tra, kiểm soát TTHC 108

3.2.6 Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành về cải cách thủ tục hành chính của các cơ quan, tổ chức trên địa bàn quận Cầu Giấy 112

3.2.7 Hoàn thiện các quy chế, quy định 113

3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp 115

3.3.1 Đối với Chính phủ 115

3.3.2 Đối với UBND TP Hà Nội 116

3.3.3 Đối với UBND quận Cầu Giấy 118

Tiểu kết chương 3 120

KẾT LUẬN 121

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHỤ LỤC 128

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Khảo sát lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân 74Bảng 2.2 Khảo sát kỹ năng làm việc của cán bộ công chức UBND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 75

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Quản lý TTHC theo ngành dọc 34

Hình 2.1 Bản đồ hành chính quận Cầu Giấy 50

Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức hành chính tại UBND quận Cầu Giấy 56

Hình 2.3 Cơ cấu tổ chức TTHC tại UBND quận Cầu Giấy 59

Hình 2.4 Sơ đồ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC 66

Hình 2.5 Lợi ích của người dân và doanh nghiệp 67

Hình 3.1 Mô hình hệ thống điện tử một cửa quận Cầu Giấy 102

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, cùng với quá trình phát triển đó là những phát sinh mới trong các mối quan hệ xã hội, trong đó có mối quan hệ giữa công dân với thể chế nhà nước; mối quan hệ giữa cán bộ công chức, viên chức với công dân; mối quan hệ nội tại trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu cần phải cải cách TTHC tinh gọn, làm việc hiệu quả phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đưa ra quan điểm: “Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả” [4, tr.286] Nhận thấy, cải cách TTHC là tiền đề để nâng cao chất lượng thể chế, trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp, của bộ máy hành chính; thực hiện chính phủ điện tử… Cải cách TTHC góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, gỡ bỏ những rào cản về thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí, rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính Cải cách TTHC là cách thức nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về chất lượng đầu tư cũng như tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh Cải cách TTHC có tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cụ thể là ảnh hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, việc làm, an sinh xã hội…

Cải cách TTHC không chỉ góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước mà còn góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân, của các nhà đầu tư đối với những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước

Trang 12

đến vấn đề cải cách TTHC ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực và coi đây là vấn

đề cấp bách góp phần phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay Đối với quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, trong những năm gần đây nhờ việc cải cách TTHC

mà các vướng mắc của nhân dân và các doanh nghiệp đã được giải quyết nhanh, kịp thời, sự hài lòng của người dân, các doanh nghiệp trong và ngoài nước trên địa bàn quận sử dụng các dịch vụ hành chính công được tốt hơn, kinh tế phát triển mạnh hơn

Tuy nhiên, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn nhưng vấn đề cải cách TTHC của quận Cầu Giấy vẫn chưa theo kịp được với tốc độ phát triển của kinh tế, cũng như phát triển của công nghệ “kỹ thuật số” hiện nay Để đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy, tác giả chọn nghiên

cứu đề tài “Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành

phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đề cập đến vấn đề cải cách TTHC có rất nhiều công trình nghiên cứu như các đề tài khoa học, các bài viết trên các tạp chí, sách báo… Trong đó có một số

đề tài khoa học, bài báo liên quan như:

Đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay” [6] của tác giả Trần Ngọc Đường (năm 1995) Đề tài đi sâu triển khai các vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới hoạt động của bộ máy hành chính, cụ thể là Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Từ những nghiên cứu về lý luận đề tài chỉ ra thực trạng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Từ phân tích thực trạng đề tài đã đưa ra một số giải pháp, nhằm đổi mới hoạt động của bộ máy hành chính, cụ thể là Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Đây

là đề tài có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc

Sách chuyên khảo “Cải cách hành chính nhà nước” [29] của tác giả Thang

Trang 13

Văn Phúc (năm 2001) Cuốn sách nghiên cứu về cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt những vấn đề lý luận về cải cách hành chính, chỉ ra những kinh nghiệm cải cách hành chính của một số quốc gia trên thế giới, đồng thời khái quát những nhân tố tác động đến cải cách hành chính nhà nước Đề tài chỉ ra thực trạng và nguyên nhân của vấn đề cải cách hành chính ở nước ta hiện nay Qua đó đề tài đưa ra một số giải pháp, đặc biệt trong đó có nhóm giải pháp nhằm cải cách cơ chế hành chính một cửa

Bài viết “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở Thừa Thiên Huế” [9] của tác giả Lê Thị Hằng (năm 2010), đăng tạp chí Quản lý nhà nước, số 172 Bài viết chỉ ra những kết quả đạt được trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở các

cơ quan ban ngành trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Bài viết đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm như: Đối với công tác quản lý, phải có sự lãnh đạo, điều hành sâu sát của các cấp ủy Đảng Đối với vấn đề quản lý đội ngũ cán bộ, công chức phải thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn; trong công tác xử lý các thủ tục hành chính cho người dân, phải xây dựng được cơ chế phối hợp của bộ phận một cửa, một cửa liên thông và có sự phân cấp cho chính quyền, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc; chú trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

Bài viết “Cải cách hành chính và những kinh nghiệm về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở” [38] của tác giả Nguyễn Văn Thâm (năm 2011), đăng tạp chí Quản lý nhà nước, số 188 Bài viết khái quát về cải cách hành chính nhà nước trên các lĩnh vực: Cải cách thể chế, tổ chức bộ máy trên cơ sở khái quát chỉ ra những kinh nghiệm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hành chính ở cơ sở

Bài viết “Cải cách hành chính và vai trò của Đảng chính trị” [8] của tác giả Nguyễn Văn Hậu (năm 2015), đăng tạp chí Lý luận chính trị, số 6 Bài viết phân tích những vấn đề liên quan đến cải cách hành chính Theo tác giả bài viết, vấn đề cải cách hành chính là một tất yếu khách quan Chính yêu cầu của thực tiễn đã thúc đẩy cải cách hành chính Từ bài viết, tác giả chỉ ra vai trò của Đảng

Trang 14

trong công tác chỉ đạo cải cách hành chính Tác giả cho rằng: Cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá để phát triển kinh tế Cải cách hành chính phải được

sự giám sát của nhân dân và cấp ủy ở các tổ chức Đảng

Đề tài “Cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên” [17], luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Văn Lương (năm 2019) Luận án đã làm rõ

cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Thái Nguyên Từ cơ sở lý luận, luận án khái quát thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của những thành công, những hạn chế về cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư ở tỉnh Thái Nguyên Từ phân tích thực trạng, nguyên nhân, luận án đã nêu ra một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao công tác cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư ở tỉnh Thái Nguyên Luận án có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc

Đề tài “Quản lý công chức theo năng lực trong cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính” [40], luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Đắc Toàn (năm 2020) Đề tài đã lý giải sâu sắc về quản lý công chức trong cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời nêu ra thực trạng của những vấn đề nảy sinh trong quản lý công chức hiện nay Từ phân tích thực trạng, đề tài chỉ ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi trong lĩnh vực quản

lý công chức

Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy: Cải cách TTHC là tất yếu khách quan, cho dù ở cấp nào hay thời gian nào thì nhu cầu cải cách TTHC vẫn là một trong những vấn đề cơ bản góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước, ổn định an ninh - chính trị, tạo niềm tin trong nhân dân Đây là nguồn tài liệu quý

để tác giả tham khảo, kế thừa và phát triển cho luận văn thạc sĩ của mình

Đối với quận Cầu Giấy, cải cách TTHC là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quận nói riêng và yêu cầu chung của cải cách nền hành chính; là tiền đề để thực hiện các nội dung cải cách khác như: Nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen,

Trang 15

cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính; xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số… Do vậy, cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đang là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách TTHC, luận văn làm rõ thực trạng, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra, qua đó đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi về cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung sau:

- Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến cải cách TTHC ở cấp quận

- Mô tả và đánh giá thực trạng cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Trang 16

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; những quan điểm của Đảng và Nhà nước

về cải cách hành chính nói chung và cải cách TTHC nói riêng trong giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Là cách thức nghiên cứu dựa trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu

đã có kết hợp với tư duy logic để rút ra các kết luận cần thiết Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để thu thập những thông tin như: Cơ sở lý thuyết về cải cách TTHC cũng như cơ chế “một cửa”, các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện cơ chế “một cửa”, các báo cáo thống kê và kinh nghiệm về cải cách thủ tục hành chính

- Phương pháp quan sát:

Là phương pháp nghiên cứu bằng cách trực tiếp theo dõi, giám sát hành vi ứng xử và ghi chép lại các vấn đề có liên quan đến đối tượng Tác giả áp dụng phương pháp quan sát để tìm ra các mặt hạn chế tồn tại và những yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy

- Phương pháp khảo sát điều tra xã hội học:

Là phương pháp thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi in sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách điền vào các ô tương ứng theo một quy ước nào đó Tác giả áp dụng phương pháp khảo sát điều tra xã hội học

Trang 17

nhằm thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin về các ý kiến nhìn nhận, đánh giá kết quả thực hiện công tác cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành phát 80 phiếu khảo sát đối với cán bộ, công chức làm việc tại UBND quận Cầu Giấy và các phường Phát 80 phiếu khảo sát đối với công dân, tổ chức đến giao dịch TTHC tại bộ phận “một cửa” UBND quận Cầu Giấy

- Phương pháp thống kê:

Là phương pháp khoa học để thu thập thông tin xã hội phục vụ mục đích nghiên cứu, được ứng dụng thường xuyên trong việc thu thập và xử lý dữ liệu phục vụ nghiên cứu định lượng Đồng thời, việc sử dụng phương pháp thống kê

để tóm tắt thông tin thu thập, xử lý, phân tích thông tin, đưa ra các kết luận và báo cáo phản ánh bản chất của sự vật hiện tượng, nhằm hỗ trợ cho việc tìm hiểu

rõ vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở đó tác giả đưa ra kết luận về nội dung nghiên cứu dựa trên các số liệu và giúp cho việc dự báo xu hướng diễn biến của vấn đề nghiên cứu trong thời gian tới Đối với đề tài này tác giả thống kê những số liệu liên quan đến hoạt động cải cách thủ tục hành chính từ năm 2016 đến năm 2021

để qua đó đánh giá được thực trạng đề tài

- Phương pháp phân tích và so sánh:

Là phương pháp khoa học tiến hành nghiên cứu các tài liệu bao gồm các văn bản pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định; Nghị quyết; Quyết định; Thông tư; Chương trình; Đề án… của các cơ quan Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương để làm căn cứ pháp lý cho việc phân tích các khái niệm liên quan đến đề tài luận văn Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh các số liệu thu thập được, cụ thể ở đây là các báo cáo kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính công qua các năm 2016 - 2021 tại UBND quận Cầu Giấy để thấy rõ hơn hiệu quả cải cách TTHC qua từng năm, nhìn nhận những kết quả đạt được cũng như những tồn tại hạn chế trong quá trình tiếp nhận

hồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính

Trang 18

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu có liên quan, các đánh giá, nhận định trong các báo cáo tổng kết của các cơ quan UBND phường và UBND quận về công tác cải cách TTHC

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

cơ quan hành chính với công dân, phục vụ nhân dân tốt hơn

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Luận văn nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về quá trình cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và hoàn thiện cải cách TTHC trên địa bàn quận Cầu Giấy và các quận, huyện khác tại thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cải cách thủ tục hành chính Chương 2: Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận

Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành

chính trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Trang 19

Theo từ Hán Việt “hành chính” (行 政), chữ “hành” trong hành chính có nghĩa là làm Còn chữ “chính” có nguồn gốc từ chữ “tập” có nghĩa là làm cho mọi việc đều ngay thẳng, chữ “chính” còn có cách hiểu nữa là: “ngay thẳng, khuôn phép, chính đáng, phải, ở giữa”, từ đó tạo ra chữ chuẩn thứ hai với các nghĩa: “làm cho ngay thẳng, việc quan, việc nhà nước, cai trị” Trong phép trị nước, Khổng Tử đáp: Chữ chính (cai trị) là do nơi chữ chính (ngay thẳng) mà ra, bởi vậy, trị dân là làm cho dân trở nên ngay thẳng, “chính là làm cho mọi việc đều ngay thẳng, công minh” [1, tr.55] - đây được coi là một trong những cách ngôn hay nhất về việc cai trị Điều cần làm cho ngay thẳng trước hết là cái tâm Trong Nho giáo chữ “chính”

đi với “chính danh”, nghĩa là con người và sự vật ở mối quan hệ nào cũng phải ngay thẳng, đúng đắn Theo Khổng Tử, muốn khiến cho dân trở nên ngay thẳng thì trước hết giới lãnh đạo cần phải đạt được cái tâm trong sáng, ngay thẳng (chính tâm) Trong xã hội xưa, chữ “chính” (ngay thẳng) rất được đề cao, được xem như một trong những phẩm chất hàng đầu của người quân tử Người quân tử thì phải

“chính nhân”, lời nói phải “chính ngôn”, làm việc gì phải “chính danh” Ngày xưa nơi làm việc hàng ngày của vua quan các triều đại phong kiến, bao giờ cũng

Trang 20

treo bốn chữ “Chính đại quang minh” (việc làm đúng đắn, công khai) luôn được treo nơi chính giữa cung điện, vị trí tôn nghiêm, trang trọng nhất

Thuật ngữ “hành chính” dù theo nghĩa của từ La tinh cổ hay theo nghĩa Hán Việt thì đều gặp nhau ở một ý nghĩa chung là hướng về người dân và làm sao cho cuộc sống của họ tốt đẹp hơn

Từ những định nghĩa ở trên có thể thấy rằng về cơ bản hành chính có những đặc tính sau:

Thứ nhất, hành chính phục vụ người khác thông qua việc chấp hành các

quyết định do người đó ban hành và chịu sự kiểm soát của họ

Thứ hai, hành chính là điều hành - khai thác, huy động và sử dụng các quyền

lực (cơ sở vật chất, tài nguyên, nhân lực, tài chính ) theo quy định (luật hoặc điều lệ) nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống (tổ chức hoặc nhà nước)

Tóm lại, có thể hiểu: Hành chính là hoạt động chấp hành và điều hành

trong quản lý một hệ thống theo những quy định định trước nhằm đạt mục tiêu của hệ thống

1.1.1.2 Khái niệm thủ tục, thủ tục hành chính

Khái niệm thủ tục: Theo từ Hán - Nôm, thuật ngữ thủ tục (手續) có nghĩa

là thủ tục, quy cách, quy trình, nghi thức Theo từ điển tiếng việt: “Thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc

có tính chất chính thức”[28, tr.1190] Theo từ điển Bách khoa Pháp: “Thủ tục là toàn bộ những quy tắc và thể thức cần phải tuân theo để hành động về pháp lý trước, trong và cho tới khi kết thúc một việc cần giải quyết cũng như là để hoàn thành những văn bản thi hành bắt buộc”[43, tr.1268]

Từ cách phân tích trên, có thể hiểu thủ tục là hệ thống các nguyên tắc, các yêu cầu, là cách thức tổ chức sắp xếp các công việc theo một trình tự nhất định, đồng thời thực hiện một công việc có tính chất chính thức Hay đơn giản nói theo

cách khác thủ tục là việc thiết lập một công việc theo thứ tự trước sau, nhằm

Trang 21

thực hiện công việc đạt được những kết quả tốt nhất và hiệu quả nhất có thể

Khái niệm thủ tục hành chính: Khi đề cập đến khái niệm thủ tục hành

chính cũng có nhiều quan điểm khác nhau:

“Đa số các nước trên thế giới quan niệm TTHC là những quy tắc phải chấp hành đúng như quy trình ra một quyết định hay giải quyết một công việc thuộc thẩm quyền cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và phục vụ nhu cầu hoạt động hàng ngày cho xã hội, cho công dân của các cơ quan và công chức, viên chức nhà nước” [13, tr.18]

Theo từ điển Bách khoa TTHC trong quan hệ với công dân gồm có hai loại quan trọng:

a) TTHC trong việc các cơ quan nhà nước xét, giải quyết những quyền chủ quan hợp pháp của công dân, trong việc công dân kiện một cơ quan nhà nước

b) TTHC trong việc các cơ quan có thẩm quyền xem xét vấn đề trách nhiệm hành chính và xử phạt các vi phạm của công dân Còn gọi là thủ tục xử lý

vi phạm hành chính, hoặc tố tụng hành chính [42, tr.274-275]

Theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/06/2010 của Chính phủ quy định “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” [20]

Theo giáo trình thủ tục hành chính: TTHC là “trình tự về thời gian và không gian, các giai đoạn cần phải có để thực hiện mọi hình thức hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, bao gồm trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, điều động viên chức; trình tự lập quy, áp dụng các quy phạm để bảo đảm các quyền chủ thể và xử lý vi phạm; trình tự tổ chức tác nghiệp hành chính” [38, tr.6]

Bản chất, hình thức TTHC: Theo GS.TS Nguyễn Hữu Khiển “bản chất

Trang 22

của TTHC là phương thức phục vụ của công quyền Hình thức của nó chính là quan hệ có tính trật tự công vụ, của mối quan hệ do con người nhận thức và thiết lập (con người ở đây là những người thực thi công vụ, từ người có nhiệm vụ đặt

ra thủ tục, người vận hành nó và người kiểm tra nó) Mối quan hệ diễn ra thủ tục giữa công quyền với người dân, giữa công quyền với nhau (nội bộ cơ quan hoặc giữa các cơ quan), giữa những người dân với nhau trong giao dịch dân sự” [14]

Trong mối quan hệ với thể chế hành chính, TTHC là một loại quy phạm

pháp luật mang tính nguyên tắc, do nhà nước ban hành là bộ phận của thể chế hành chính, là công cụ, phương tiện cho các cơ quan nhà nước có điều kiện thực hiện chức năng của mình TTHC là cách thức quản lý của cơ quan công quyền,

cơ quan công quyền đưa ra các nguyên tắc, các yêu cầu trên cơ sở thể chế, pháp luật và các văn bản dưới luật, làm phương tiện để phục vụ, thực thi công vụ

Trong nội bộ của bộ máy hành chính, TTHC là cách thức tổ chức sắp xếp,

giải quyết công việc theo trình tự thực hiện của các cấp có thẩm quyền trong các

cơ quan, bộ máy hành chính nhà nước để giải quyết các công việc cụ thể của cơ quan mình

Trong mối quan hệ với đối tượng quản lý, TTHC được hiểu là quan hệ

giữa các cơ quan nhà nước với công dân trong quá trình giải quyết công việc của dân theo yêu cầu bảo vệ quyền lợi của công dân và của nhà nước cũng như thực hiện đúng nghĩa vụ của các bên

Từ các quan điểm trên có thể hiểu TTHC là những quy định có tính nguyên tắc, yêu cầu, trình tự bắt buộc về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân, công dân Hay nói cách khác, trong các cơ quan nhà nước, TTHC là một quy phạm pháp luật, những nguyên tắc bắt buộc quy định về cách thức tổ chức, sắp xếp theo trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết

Trang 23

công việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, cá nhân, công dân

1.1.2 Đặc điểm, vai trò của thủ tục hành chính

Thủ tục trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định Xét ở góc độ quyền lực, thực hiện thủ tục hành chính là hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước trong mọi trường hợp chỉ được sử dụng bởi những chủ thể do pháp luật quy định và nằm trong cơ cấu quyền lực nhà nước nói chung Mỗi chủ thể chỉ sử dụng quyền lực trong giới hạn nhất định Tương ứng với giới hạn thẩm quyền pháp luật trao cho, mỗi chủ thể có những phương tiện

và điều kiện nhất định đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền (điều kiện vật chất, nhân sự, bộ máy ) Do đó, các thủ tục được thực hiện không đúng thẩm quyền thì không những việc thực hiện thủ tục đó không hợp pháp mà hiệu quả quản lý cũng bị ảnh hưởng

Thủ tục hành chính phải được thực hiện đúng pháp luật Về mặt lý thuyết, tất cả các thủ tục hành chính được pháp luật quy định đều là cần thiết và là quy trình hợp lý nhất để thực hiện các hoạt động quản lý trên thực tế Hơn nữa, mỗi thủ tục hành chính được thực hiện nhiều lần ở những thời điểm khác nhau, bởi các chủ thể khác nhau, sự tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục hành chính tạo nên tính khoa học, đồng bộ, thống nhất trong quản lý hành chính nhà nước Ngay cả

Trang 24

lý hay thực tiễn quản lý thay đổi thì các chủ thể thực hiện thủ tục cũng không được tuỳ tiện thay đổi hoặc bỏ qua Một thủ tục hành chính cụ thể chỉ mất giá trị pháp lý khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ

Tuy nhiên trong thực tế cũng có TTHC đều diễn ra ở các tổ chức, có những tổ chức không phù hợp với luật mà theo phong tục tập quán

Ví dụ: Việc cưới xin của đồng bào các dân tộc ở Việt Nam ta vì nó đã tồn tại từ lâu đời trong nhân dân TTHC chỉ diễn ra khi được pháp luật quy định, còn các hoạt động tổ chức tác nghiệp cụ thể trong hoạt động quản lý là do quy định nội bộ điều chỉnh không phải là TTHC

- Thủ tục hành chính là một nhân tố đảm bảo cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức năng quản lý của các cơ quan nhà nước Thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong các cơ quan thuộc quản lý hành chính nhà nước, nó nằm ngoài thủ tục tư pháp và thủ tục lập pháp

- TTHC quy định quyền và nghĩa vụ các bên tham gia mối quan hệ hành chính Hoạt động quản lý hành chính nếu thiếu TTHC thì quyền và nghĩa vụ các bên tham gia

sẽ không được bảo đảm thực hiện Đây là đặc điểm cần được nhấn mạnh

Thứ hai, thủ tục hành chính mang tính đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt Mỗi không gian khác nhau, thời gian khác nhau, đối tượng quản lý khác

nhau, TTHC cũng khác nhau Bộ máy hành chính trung ương tới các địa phương,

do sự phân cấp, phân quyền mỗi cơ quan trong việc thực hiện thẩm quyền của mình đều tuân theo những thủ tục nhất định Hiện nay ở nước ta là hành chính phục vụ, hoạt động quản lý hành chính trở nên đa dạng về nội dung, phong phú

về hình thức, biện pháp; đồng thời do tác động của quá trình hội nhập quốc tế, đối tượng quản lý không chỉ trong phạm vi nội bộ công dân trong nước mà còn liên quan đến các yếu tố nước ngoài

Thủ tục hành chính với tính chất là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý đương nhiên phải linh hoạt mới có thể tạo nên quy trình hợp lý cho từng hoạt động quản lý cụ thể Do vậy, không thể có một thủ tục hành chính duy

Trang 25

nhất cho toàn bộ hoạt động quản lý hành chính nhà nước mà có rất nhiều thủ tục hành chính Thậm chí để giải quyết một loại công việc nhất định cũng có thể cần các thủ tục hành chính khác nhau

Ví dụ: Pháp luật quy định hai thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là thủ tục đơn giản và thủ tục có lập biên bản Việc định ra hai thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính vừa đơn giản, thuận tiện cho người xử phạt và người bị xử phạt trong trường hợp có thể, vừa đảm bảo tính chặt chẽ, có cơ sở cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính Mặt khác, so với thủ tục lập pháp và thủ tục tư pháp, nhu cầu bãi bỏ thủ tục hành chính cũ, đưa ra thủ tục mới, thay đổi các thủ tục đã

có đặt ra khá thường xuyên đảm bảo thích ứng với sự biến đổi linh hoạt của hoạt động quản lý Khi xây dựng thủ tục hành chính nếu nhận thức đúng đắn về đặc điểm này sẽ tạo ra sự linh hoạt, mềm dẻo cho hoạt động quản lý, nếu phủ nhận đặc điểm này có thể làm xơ cứng hoạt động quản lý, kìm hãm quá trình phát triển xã hội Sự cường điệu tính linh hoạt của thủ tục hành chính cũng có thể dẫn đến việc đặt ra quá nhiều thủ tục một cách không cần thiết hoặc thay đổi thủ tục một cách tuỳ tiện làm cho hoạt động quản lý thiếu ổn định

Thứ ba, thủ tục hành chính không phải là cái bất biến mà thủ tục hành chính luôn có sự thay đổi Khi không gian thay đổi, thời gian thay đổi dẫn đến

luật pháp thay đổi làm cho TTHC cũng thay đổi theo để phù hợp với điều kiện

cụ thể Sự biến đổi của TTHC mang tính khách quan Khi điều kiện kinh tế thay đổi thì muốn hay không muốn TTHC cũng phải thay đổi theo Đặc biệt, ngày nay khoa học phát triển như vũ bão, thế giới đang từng bước tiến vào kỷ nguyên

số 4.0, yêu cầu loại bỏ dần TTHC mang tính lạc hậu, thay vào đó là ứng dụng kỹ thuật số trong quản lý hành chính nhà nước, việc giải quyết TTHC cần phải nhanh, gọn, chính xác Do vậy, TTHC cần phải được cải cách cho phù hợp

Thứ tư, TTHC mang tính chủ quan TTHC là do con người xây dựng, lệ

thuộc vào nhận thức chủ quan của người xây dựng nên nó, nếu nhận thức của con người phù hợp với quy luật khách quan thì TTHC sẽ là động lực thúc đẩy

Trang 26

tiến trình phát triển của xã hội Ngược lại, người xây dựng TTHC mang tính bảo thủ, lạc hậu không tuân thủ quy luật khách quan thì TTHC sẽ là một trở lực kìm hãm tiến trình phát triển của xã hội

- Thủ tục hành chính khi vận dụng, triển khai vào thực tiễn lệ thuộc nhiều vào người triển khai thực hiện nó Trong thực tiễn, chủ thể triển khai, thực hiện

TTHC có trình độ nhận thức, trình độ tiếp cận thông tin, khả năng năng động, ý thức đạo đức, không giống nhau Do vậy, việc triển khai, thực hiện TTHC có sự khác nhau, hơn nữa do điều kiện cụ thể ở các ngành, các cấp, từng lĩnh vực, địa điểm khác nhau nên việc thực hiện TTHC nói chung phức tạp Thực tiễn, việc giải quyết các TTHC mang tính tiêu cực, người ta thường lấy lý do này, lý do khác để phức tạp hoá, quan trọng hoá hơn là đơn giản hoá các thủ tục đó

- Trong thời đại hội nhập quốc tế TTHC chịu tác động của các mối quan hệ quốc tế Khi đất nước hội nhập quốc tế một số lĩnh vực phải tuân thủ

luật pháp quốc tế, đặc biệt lĩnh vực xuất - nhập khẩu, hoạt động mậu dịch quốc tế, đầu tư nước ngoài , những thông lệ quốc tế, những điều ước quốc tế khi Việt Nam tham gia ký kết

- Thủ tục hành chính gắn kết với công tác văn thư Các TTHC nhà nước

chủ yếu thực hiện tại văn phòng của công sở nhà nước, phương tiện truyền đạt chủ yếu là các công văn, giấy tờ Vì thế, “TTHC gắn chặt với công tác văn thư, với việc tổ chức ban hành, sử dụng và quản lý văn bản trong các cơ quan nhà nước” [46, tr.184]

1.1.2.2 Vai trò của thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Thông qua các TTHC, các cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình và đồng thời các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Thủ tục hành chính thể hiện ở quyền lực của cơ quan nhà nước (quyền

Trang 27

được cấp phép, cho phép, chứng nhận, chứng thực không phải ai muốn tự cấp, tự chứng nhận, tự cho phép cũng được) Thủ tục hành chính thể hiện ở chỗ cụ thể hóa pháp luật (chi tiết hóa pháp luật, làm đúng sự chỉ dẫn của pháp luật) Thủ tục hành chính còn thể hiện ở chỗ nó điều tiết công việc hành chính (theo trình tự, thời gian, không gian, và theo từng đối tượng khác nhau) Có thể phân tích vai trò của TTHC như sau:

Thứ nhất, TTHC là một bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quy định nội dung

Trong mối tương quan giữa quy định nội dung và quy định thủ tục của văn bản quy phạm pháp luật, thì quy định TTHC là một bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quy định nội dung Quy định TTHC là một bộ phận quan trọng của quy phạm pháp luật hành chính, là phương tiện để đưa các quy phạm nội dung của luật hành chính và một số ngành luật khác vào cuộc sống

Quy phạm nội dung quy định các nguyên tắc quản lý, thẩm quyền của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức…; quy phạm TTHC chỉ ra cách thức cụ thể để thực hiện các nội dung đó

Ví dụ: Từ quy phạm nội dung về khai sinh Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch; cha mẹ, ông bà, hoặc những người thân thích khác có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ em, pháp luật hộ tịch quy định thủ tục “Đăng ký khai sinh” để bảo đảm thực hiện quyền khai sinh của trẻ em

Các quy phạm TTHC là phương tiện để thực hiện các quy phạm nội dung, nếu thiếu các quy phạm TTHC thì việc áp dụng quy phạm nội dung sẽ không thống nhất, dễ mất trật tự trong hoạt động quản lý Thực tế, người dân quan tâm nhiều đến quy định TTHC vì quy định TTHC buộc họ phải biết và chấp hành khi có yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan hành chính giải quyết một công việc hành chính cụ thể liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ Đây cũng chính là lý do để các cơ quan có thẩm quyền đặt ra vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm TTHC

Thứ hai, TTHC trực tiếp liên quan đến việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của tổ

Trang 28

chức, cá nhân

Mỗi một TTHC đều có sự hiện hữu của hai nhóm chủ thể: Cơ quan có thẩm quyền giải quyết và cá nhân, tổ chức tham gia Cơ quan có thẩm quyền giải quyết được quyền nhân danh nhà nước buộc đối tượng tham gia phải tuân thủ quy định pháp luật, quy định TTHC… (tính chất mệnh lệnh phục tùng, bất bình đẳng trong quan hệ) Vì tính chất này mà khi triển khai thực hiện TTHC rất dễ dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, ban phát, “xin - cho”… nhất là khi các quy định TTHC không đảm bảo rõ ràng, còn mập mờ, khó hiểu hoặc thiếu hợp lý, không phù hợp với thực tiễn cuộc sống

Thứ ba, TTHC chuẩn mực là cơ sở để đảm bảo chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý hành chính nhà nước

Thông qua quy định TTHC chuẩn mực, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền và các tổ chức, cá nhân ở khu vực ngoài nhà nước có thể kiểm tra, giám sát việc giải quyết TTHC của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước; đồng thời thúc đẩy quá trình giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác theo đúng pháp luật, góp phần chống tham nhũng, sách nhiễu nhân dân

Thứ tư, TTHC là biểu hiện trình độ văn minh trong tổ chức, điều hành hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước Do đó, TTHC chính là chất keo kết dính mọi yếu tố và sự vận hành của nền hành chính

Chất lượng và hiệu quả của TTHC liên quan đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước, biểu hiện cụ thể qua các tiêu chí: Giải quyết đúng quy định, giải quyết trong thời gian ngắn nhất (nhanh chóng, kịp thời) và mang lại sự hài lòng cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết TTHC

Thứ năm, TTHC có ảnh hưởng, tác động lớn đến các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài

Giao lưu, hợp tác quốc tế và đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng lớn đến phát

Trang 29

triển kinh tế - xã hội Trong xu thế liên kết, hội nhập, phân công lao động quốc

tế, đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng đang trở thành xu hướng của thời đại, được nhiều quốc gia sử dụng như một chính sách lâu dài, ổn định Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thì hợp tác kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài là con đường tốt nhất để rút ngắn

sự tụt hậu so với các nước khác và có điều kiện để phát huy những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế Trước nhu cầu đó, vai trò trọng tâm, có tính chất quyết định nằm ở chính hệ thống luật pháp nói chung và quy định TTHC nói riêng Hệ thống luật pháp và quy định TTHC thân thiện, phù hợp chính là yếu tố quan trọng để thu hút, khuyến khích các nhà đầu

tư nước ngoài, dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

1.1.3 Thủ tục hành chính tại UBND cấp quận

Trong hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp Theo đó ở cấp quận, UBND quận thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức, bảo đảm việc thi hành hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục - thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Như vậy, cần thiết phải xây dựng, ban hành hệ thống các TTHC để thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp quận trong phạm vi, quyền hạn đã được quy định Ở Việt Nam hiện nay, theo Nghị định 37/NĐ-CP ngày 05/05/2014 của Chính phủ “Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”,

vị trí, chức năng của UBND quận được quy định “thực hiện chức năng tham mưu”, giúp UBND cấp quận “quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương

Trang 30

và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân” cấp quận “và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương” [19]

Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận được quy định: Giúp UBND cấp quận “thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan chuyên môn theo quy định của pháp luật và theo phân công của UBND cấp quận” [19]

Từ chức năng, nhiệm vụ theo luật định như trên, thủ tục hành chính của

cơ quan chuyên môn cấp quận gồm 16 lĩnh vực theo sự phân công của UBND cấp quận như sau:

Thứ nhất, lĩnh vực hành chính tư pháp

- Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân quận quản lý nhà nước về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, chứng thực, hộ tịch, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực công tác tư pháp theo sự ủy

quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân

dân quận giải quyết 34 thủ tục khác nhau

Thứ hai, lĩnh vực kinh tế - quản lý đô thị

- Thẩm định nhiệm vụ và đồ án quy hoạch

- Nhiệm vụ hướng dẫn giải quyết 16 thủ tục liên quan đến cấp phép xây dựng các công trình, dự án, nhà ở, cải tạo, sửa chữa

Thứ ba, lĩnh vực tài nguyên - môi trường

- Ủy ban nhân dân quận quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường, biến đổi khí hậu Chịu sự chỉ đạo, quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân quận, giải quyết 18 thủ tục liên quan đến lĩnh vực đất đai, tài nguyên, môi trường

Trang 31

Thứ tư, lĩnh vực giáo dục đào tạo

- Lĩnh vực này gồm 26 thủ tục, chủ yếu tập trung vào các vấn đề thành lập, hoạt động chuyên môn, hoạt động hành chính của các cơ sở giáo dục

Thứ năm, lĩnh vực lao động thương binh và xã hội

Gồm 21 thủ tục tập trung hướng dẫn các vấn đề bảo trợ và thực hiện bảo trợ xã hội

- Giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền lợi trẻ em

- Giải quyết những vấn đề liên quan đến chế độ chính sách người có công với đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Thứ sáu, lĩnh vực đăng ký kinh doanh: Lĩnh vực này gồm 24 thủ tục liên

quan đến đăng ký kinh doanh và hợp tác xã

Thứ bảy, lĩnh vực y tế: Gồm 02 thủ tục liên quan đến vấn đề y tế

Thứ tám, lĩnh vực nội vụ: Lĩnh vực này gồm 29 thủ tục, các thủ tục chủ

yếu liên quan đến tổ chức hành chính đơn vị sự nghiệp công lập Lập báo cáo,

văn bản, hồ sơ thi đua khen thưởng

Thứ chín, lĩnh vực tôn giáo dân tộc: Bao gồm 08 thủ tục, liên quan

đến các hoạt động tôn giáo, dân tộc, tổ chức truyền giáo và các thủ tục hành chính khác

Thứ mười, lĩnh vực văn hóa thông tin: Lĩnh vực này bao gồm 03 thủ tục,

cấp giấy phép, đăng ký các hoạt động văn hóa - thông tin

Thứ mười một, lĩnh vực công thương: Bao gồm 09 thủ tục, tập trung vào các vấn đề giải quyết liên quan đến giao thương, buôn bán

Thứ mười hai, lĩnh vực thanh tra: Nhiệm vụ hướng dẫn giải quyết những

vấn đề liên quan đến xây dựng, giải quyết các vấn đề thủ tục xây dựng, tranh chấp,

khiếu kiện, khiếu nại, cưỡng chế Lĩnh vực này gồm 10 thủ tục

Thứ mười ba, lĩnh vực kế hoạch đầu tư: Nhiệm vụ giải quyết những vấn đề

liên quan đến đầu tư xây dựng Lĩnh vực này gồm 29 thủ tục

Trang 32

Thứ mười bốn, lĩnh vực tài chính: Nhiệm vụ tham mưu ngân sách, lập báo

cáo quyết toán thu - chi quỹ tài chính Giải quyết 18 thủ tục

Thứ mười lăm, lĩnh vực nông nghiệp: Lĩnh vực này gồm 03 thủ tục cấp

giấy phép liên quan đến các hoạt động nông nghiệp

Thứ mười sáu, lĩnh vực đường thủy nội bộ: Gồm 01 thủ tục

1.2 Những vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính

1.2.1 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính

Khái niệm cải cách: Theo từ điển Bách khoa “Cải cách là đổi mới một số

mặt của sự vật mà không thay đổi căn bản sự vật đó” [41, tr.335] Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông định nghĩa “Cải cách là đổi mới cho tiến bộ hơn, cho phù hợp với sự tiến bộ chung của xã hội mà không đụng tới nền tảng của chế độ hiện hành” [16, tr.69] Trong lĩnh vực xã hội cải cách là cải thiện một số mặt của đời sống xã hội

Theo cách định nghĩa này chúng ta có thể hiểu cải cách là một con đường hay một cách thức nhằm đáp ứng những đòi hỏi của xã hội Cải cách là sự điều chỉnh lớn đối với các cấu trúc chính trị, văn hóa, xã hội mang tính hệ thống và được hoạch định rõ ràng, có lộ trình cụ thể Như vậy, khác với đổi mới, cải cách

sẽ tạo ra những thay đổi mang tính quy mô được thực hiện rộng lớn hơn, có tiêu chí rõ ràng và mức độ triệt để hơn

Phân biệt cải cách với đổi mới: Cải cách và đổi mới là tính có thể kiểm

soát được Tuy nhiên, đổi mới ít nhiều mang ý nghĩa là sự vận động tất yếu, khách quan của sự vật, hiện tượng còn cải cách là sự vận động do chủ thể tiến hành Sự khác biệt ở đây là yếu tố chủ động của chủ thể trong cải cách Như vậy, yếu tố chủ thể là yếu tố quan trọng trong cải cách Một điểm khác nữa giữa cải cách và đổi mới là cải cách không thể là một công việc diễn ra hàng ngày như đổi mới Cải cách là một quá trình có nội dung hành động cụ thể và phương diện

áp dụng rất rộng lớn nên phải có thời gian để áp dụng thực hiện và đánh giá kết quả Cải cách có thể tạo ra ít nhiều xáo trộn trong xã hội cùng những hậu quả

Trang 33

không mong đợi Vì thế, cải cách chỉ được thực hiện khi được nghiên cứu và cân nhắc thấu đáo về cách thức, nội dung cũng như mục đích và hệ quả trước khi áp dụng vào thực tiễn Bên cạnh đó cũng cần phải có đề án để xử lý, khắc phục những hậu quả mà chương trình cải cách mang lại

Từ phân tích trên có thể hiểu: Cải cách là một chương trình kinh tế - xã hội do chủ thể trong xã hội hay chính quyền chủ trương tiến hành nhằm mục tiêu thực hiện bước nhảy vọt chất lượng trong sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng không làm thay đổi bản chất chính quyền nhà nước

Khái niệm cải cách hành chính: Là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một

mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn; các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn; cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia

Cải cách hành chính là vấn đề diễn ra ở tất cả các quốc gia và được coi là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là trọng tâm của công việc cải cách

bộ máy nhà nước nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, thống nhất, có đủ quyền lực, năng lực để thực hiện đúng đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, phục vụ đắc lực cho nhân dân

CCHC nhà nước làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình CCHC được xác định là hành

vi có tính hướng đích của con người nhằm cải biến nền hành chính của một quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng được những yêu cầu nội tại của nền hành chính và những đòi hỏi từ xã hội, người dân và tổ chức

Cải cách hành chính có nhiều cách hiểu khác nhau, với góc nhìn khái quát

của quản lý công có thể hiểu khái quát: Cải cách hành chính là quá trình tác động của chủ thể làm biến đổi thể chế, tổ chức bộ máy của cơ quan quyền lực,

Trang 34

sự biến đổi này thường diễn ra lâu dài và liên tục nhằm nâng cao hiệu suất hành chính, cải tiến chế độ và phương thức hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới phù hợp hơn trong phạm vi quản lý của hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp, cũng như tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước

Khái niệm trên đã khái quát được sự biến đổi của nền hành chính Trong thực tế không có một nền hành chính nào là bất biến, bởi lực lượng sản xuất không phải là trạng thái tĩnh tại Theo triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mọi sự biến đổi trong đời sống xã hội xét cho cùng là sự biến đổi của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất biến đổi làm cho cơ sở hạ tầng biến đổi, cơ sở hạ tầng biến đổi dẫn tới kiến trúc thượng tầng thay đổi Hành chính là một bộ phận của nhà nước mà nhà nước lại là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng Như vậy, trong xã hội khi điều kiện kinh tế thay đổi, tất yếu sẽ dẫn đến sự biến đổi của hành chính, thể chế chế nhà nước Từ những phân tích trên có thể thấy CCHC là việc làm liên tục, thường xuyên ở tất cả các cơ quan nhà nước

Khái niệm cải cách TTHC: Cải cách TTHC mang một số đặc điểm như

cải cách (reform) không phải là cải tổ hay cách mạng (renovation hay revolution), mà là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra nhằm tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp khi tiếp cận với các cơ quan nhà nước

Cải cách TTHC là cải cách lề lối làm việc và nó phải được bắt đầu từ công tác cán bộ, “vấn đề cán bộ có năng lực, có phẩm chất, có trình độ và có trách nhiệm việc giải quyết TTHC cho dân, cho doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Bởi TTHC chỉ là một công cụ quản lý nhà nước trên tinh thần có lợi cho người dân, doanh nghiệp, giảm chi phí xã hội, tăng cường quản lý nhà nước” [11] Nếu không có lợi cho người dân thì cải cách thủ tục cho dù có tốt bao nhiêu chăng nữa cũng chẳng giải quyết vấn đề gì

Cải cách thủ tục hành chính quan trọng là khâu triển khai, ban hành, thực hiện các văn bản hành chính nhanh, gọn, chính xác Cải cách TTHC không chỉ là

Trang 35

việc rà soát để cắt giảm hoặc sửa đổi các quy định về thủ tục, mà quan trọng hơn

là việc công khai, minh bạch, cũng như thực hiện tốt các thủ tục này trên thực tế

Cải cách TTHC hiệu quả thì vấn đề kiểm tra, giám sát các thủ tục hành chính nhanh hơn, chính xác hơn, tránh được những phiền toái cho nhân dân

“Ngoài việc đơn giản hóa, minh bạch hóa, công khai hóa các TTHC cũng như rút thời gian, chi phí thực hiện chúng” [37]

Cải cách TTHC là biện pháp thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu đơn giản hóa các TTHC, nhằm tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp khi đến

cơ quan nhà nước giải quyết công việc

Từ phân tích trên có thể rút ra khái niệm: Cải cách thủ tục hành chính là cải cách các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền; cải cách các quy định

về các loại thủ tục hành chính; cải cách việc thực hiện các thủ tục hành chính

1.2.2 Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính

Thứ nhất, phải thực hiện cải cách TTHC theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng:

Trong hệ thống chính trị của nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo hành chính Nhà nước trước hết bằng các Nghị quyết đề ra đường lối, chủ trương, nhiệm vụ cho quản lý nhà nước Và căn cứ vào đó, Nhà nước ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm thực hiện đường lối chủ trương của Đảng Do vậy, cải cách TTHC phải thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng Nghị quyết Đại hội VII, Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những nhiệm vụ

về sửa đổi hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu

tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương cần phải “cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện

có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước” [3] Chiến lược cũng nêu “trọng

Trang 36

chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả” [3] Điểm nổi bật trong nhiệm kỳ XII là việc đổi mới hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị được làm rất mạnh mẽ, có thể nói như một “cuộc đổi mới” về tổ chức… “bảo đảm hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương hoạt động thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả” [45] Đồng thời tiếp tục cải cách TTHC xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống

quan liêu, tham nhũng…

Thứ hai, phải thực hiện cải cách TTHC theo đúng chính sách, pháp luật của nhà nước:

Bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng công cụ pháp luật để điều hành xã hội, xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội Do vậy, cải cách TTHC phải thực hiện đúng chính sách, pháp luật vì hệ thống thể chế hành chính bao gồm Hiến pháp, Luật pháp, Pháp lệnh và các văn bản quy phạm về tổ chức, hoạt động của hành chính nhà nước và tài phán hành chính Cải cách TTHC là bộ phận của hành chính nói chung

Ở Việt Nam, Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân đang trong tiến trình cải cách tổng thể nền hành chính, trong đó có cải cách TTHC trên cơ

sở pháp luật, từ việc xây dựng, ban hành các TTHC đến việc tổ chức thực hiện, cải cách TTHC Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, nhà nước ta thực hiện cải cách hành chính, TTHC theo hệ thống văn bản như:

- Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 (Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ); đặc biệt, ngày 15/7/2021 Chính phủ đã có Nghị quyết 76/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021 - 2030

- Quyết định số 559/QĐ-TTg ngày 24/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Đề án đơn giản hóa chế độ báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước”

Trang 37

- Nghị định số 09/2019/NĐ-CP ngày 24/01/2019 của Chính phủ quy định chế độ báo cáo định kỳ của cơ quan hành chính nhà nước

- Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ quy định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước

Cải cách TTHC được thực hiện theo các văn bản như:

- Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và Thông tư số 01/2018/TT-VPCP ngày 23/11/2018 của Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định 61/2018/NĐ-CP

- Quyết định số 1291/QĐ-TTg ngày 07/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đóng tại địa phương đưa

ra tiếp nhận tại trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, bộ phận tiếp nhận

và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cấp huyện, cấp xã

- Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, theo đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành toàn bộ hoặc một số bước thực hiện thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc bằng phương tiện điện tử thông qua các dịch vụ công trực tuyến Với quan điểm “Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm để phục vụ; sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cải cách hành chính, nhất là việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin”

- Quyết định 468/QĐ-TTg ngày 27/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành phê duyệt Đề án đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Trang 38

- Nghị quyết số 76/NQ-CP Ngày 15/7/2021 của Chính phủ về Ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 với mục tiêu: “Cải cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả quy định thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp; thủ tục hành chính nội bộ giữa cơ quan hành chính nhà nước; rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thành phần hồ sơ và tối ưu hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch; đổi mới và nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính Đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử để người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện dịch vụ mọi lúc, mọi nơi, trên các phương tiện khác nhau” Nhiệm vụ:

- Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các quy định thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp, bảo đảm thủ tục hành chính mới ban hành phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, trọng tâm là thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực: Đất đai, xây dựng, đầu tư, bảo hiểm, thuế, hải quan, công an, và các thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực khác có số lượng, tần suất giao dịch lớn

Thực hiện các văn bản nói trên, nhiều văn bản của các cấp, các ngành cũng được ban hành triển khai các nội dung về cải cách hành chính nói chung và cải cách TTHC theo phạm vi và thẩm quyền của mình

Ví dụ: Công văn số 1725/BTTTT-ƯDCNTT ngày 04/6/2010 của Bộ Thông tin truyền thông hướng dẫn các yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng

kỹ thuật cho hệ thống một cửa điện tử; Quyết định số 18/2020/QĐ-UBND 04/9/2020 của UBND Thành phố Hà Nội ban hành quy định thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố Hà Nội; Quyết định số 5743/QĐ-UBND ngày 29/12/2020 của UBND Thành phố Hà Nội về việc ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước năm 2021 của thành phố Hà Nội; Kế hoạch số 136/KH-UB ngày 01/6/2021 của

Trang 39

UBND Thành phố Hà Nội về cải cách hành chính nhà nước của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2021 - 2025

Thứ ba, cải cách TTHC phải thực hiện đầy đủ, đồng bộ, hiện đại:

TTHC có tính phổ biến, tính đa dạng phong phú, tính lịch sử cụ thể, cải cách TTHC không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một quận, một cấp chính quyền, mà còn liên quan đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với nhà nước Do công nghệ là cái không ngừng phát triển Bởi vậy, khi điều kiện kinh tế thay đổi, những TTHC cũ trở nên lạc hậu, lỗi thời, hay nói cách khác trong mối quan hệ giữa tiến trình phát triển kinh tế với TTHC thì kinh tế là cái biến đổi trước, TTHC là cái biến đổi sau Do vậy, cải cách TTHC chính là làm cho TTHC phù hợp với tiến trình phát triển của công nghệ Phải bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong hoàn cảnh mới, nghĩa là phải theo kịp được tiến trình phát triển của xã hội Cải cách TTHC chính là làm cho TTHC phù hợp với bối cảnh và yêu cầu hiện đại

Cải cách TTHC mang tính đồng bộ, hiện đại thì không chỉ công khai, minh bạch TTHC mà còn phải rà soát, đơn giản hóa TTHC, tập trung kiến nghị loại bỏ những quy định, những thủ tục không phù hợp, không cần thiết, gây phiền hà, sách nhiễu, khó khăn cho người dân và doanh nghiệp Đồng thời đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định về cơ chế chính sách, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng, cấp các loại giấy phép, đơn giản hóa trình tự thực hiện, giảm thời gian, thành phần hồ sơ

Thứ tư, cải cách TTHC phải thực hiện thể chế kiểm soát thủ tục hành chính:

Yêu cầu của nền hành chính hiện đại là việc đưa ra các quy định để quản lý, nhưng nếu không thực hiện kiểm tra, kiểm soát thì việc đưa các quy định đó vào thực tiễn hoạt động sẽ không có hiệu quả Cải cách TTHC phải thực hiện thể chế

về TTHC bởi thể chế là văn bản pháp luật, là cơ sở pháp lý để kiểm soát việc cải cách TTHC, xem việc cải cách TTHC có phù hợp các quy phạm pháp luật hay

Trang 40

không Muốn cải cách TTHC đúng pháp luật thì cần nắm bắt tình hình triển khai hoạt động kiểm soát TTHC để kịp thời hướng dẫn thực hiện có hiệu quả; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, sai sót trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết TTHC và báo cáo các cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, có biện pháp xử lý đối với những trường hợp gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong tiếp nhận, giải quyết TTHC Đề xuất, báo cáo các cấp có thẩm quyền để có biện pháp chấn chỉnh,

xử lý kịp thời các hành vi sai trái, thực hiện không đúng với chỉ đạo, quy định về công tác kiểm soát TTHC, cải cách TTHC Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện kiểm soát TTHC, cải cách TTHC và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính trên địa bàn quận Công tác kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, địa phương khi được kiểm tra Có kết luận rõ ràng, cụ thể những vấn đề tổ chức triển khai công tác kiểm soát TTHC, cải cách TTHC tại cơ quan, đơn vị, địa phương cũng như những kiến nghị, đề xuất với lãnh đạo các cấp có liên quan

Nội dung kiểm tra: Kiểm tra công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực

hiện hoạt động kiểm soát TTHC theo các văn bản của Trung ương và thành phố Thực hiện công bố, công khai danh mục TTHC của cấp tỉnh, quận - huyện, xã - phường theo văn bản QPPL quy định Giải quyết TTHC và việc tuân thủ quy định về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông Rà soát, đánh giá TTHC; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính Công tác truyền thông về hoạt động kiểm soát TTHC và việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo

về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát TTHC

Thứ năm, từng bước ứng dụng công nghệ kỹ thuật số vào cải cách TTHC:

Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã và đang tác động tới mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Người dân và doanh nghiệp bức thiết đòi hỏi bộ máy hành chính cũng phải thực sự đổi mới, ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện dịch vụ công trực tuyến, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thì mới đáp ứng được

Ngày đăng: 20/09/2022, 09:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Doãn Chính (1997) “Đại cương triết học Trung Quốc” NXB Chính trị Quốc gia 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia 1997
2. Hoàng Dương (2020), “Quận Cầu Giấy - TP. Hà Nội: Dấu ấn kinh tế - xã hội năm 2020” https://congluan.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quận Cầu Giấy - TP. Hà Nội: Dấu ấn kinh tế - xã hội năm 2020
Tác giả: Hoàng Dương
Năm: 2020
6. Trần Ngọc Đường (1995) Đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay
7. Hà Nội portal (2019), “Quận Bắc Từ Liêm chuyển biến từ công tác cải cách hành chính” https://moc.gov.vn/vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quận Bắc Từ Liêm chuyển biến từ công tác cải cách hành chính
Tác giả: Hà Nội portal
Năm: 2019
8. Nguyễn Văn Hậu (2015), Bài viết “Cải cách hành chính và vai trò của Đảng chính trị” đăng tạp chí Lý luận Chính trị số 06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính và vai trò của Đảng chính trị
Tác giả: Nguyễn Văn Hậu
Năm: 2015
9. Lê Thị Hằng (2010), Bài viết “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở Thừa Thiên Huế” đăng tạp chí Quản lý nhà nước, số 172/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lê Thị Hằng
Năm: 2010
13. Phan Huy Hùng (2009), Đề tài Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam - quản lý hành chính công” Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia (LA - 24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam - quản lý hành chính công
Tác giả: Phan Huy Hùng
Năm: 2009
14. Nguyễn Hữu Khiển (2010), “Luận về thủ tục hành chính hiện nay” Tạp chí Tổ chức nhà nước 07/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận về thủ tục hành chính hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Khiển
Năm: 2010
17. Bùi Văn Lương (2019) Đề tài luận án tiến sĩ “Cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên
18. Văn Nhi (2021), “Cầu Giấy hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước”. Báo Kinh tế đô thị (cơ quan ngôn luận của thành phố Hà Nội) https://kinhtedothi.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cầu Giấy hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước
Tác giả: Văn Nhi
Năm: 2021
19. Nghị định số 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05 tháng 05 năm 2014 “Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
20. Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/06/2010 của Chính phủ quy định “về kiểm soát thủ tục hành chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về kiểm soát thủ tục hành chính
27. Văn Ninh (2020), “Đảng bộ quận Cầu Giấy nhiệm kỳ 2015 - 2020 Những dấu ấn của sự năng động, sáng tạo, đoàn kết”https://kinhtedothi.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ quận Cầu Giấy nhiệm kỳ 2015 - 2020 Những dấu ấn của sự năng động, sáng tạo, đoàn kết
Tác giả: Văn Ninh
Năm: 2020
29. Thang Văn Phúc (2001) “Cải cách hành chính nhà nước” nhà xuất bản chính trị Quốc Gia năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính nhà nước
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị Quốc Gia năm 2001
38. Nguyễn Văn Thâm (2011), bài viết “Cải cách hành chính và những kinh nghiệm về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở”, đăng Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 188/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính và những kinh nghiệm về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm
Năm: 2011
40. Phạm Đắc Toàn (2020) Đề tài luận án tiến sĩ “Quản lý công chức theo năng lực trong cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công chức theo năng lực trong cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
44. Tố Uyên (2020), “Quận Cầu Giấy (Hà Nội) Doanh nghiệp đóng góp hơn 58% tổng thu ngân sách” http://thoibaotaichinhvietnam.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quận Cầu Giấy (Hà Nội) Doanh nghiệp đóng góp hơn 58% tổng thu ngân sách
Tác giả: Tố Uyên
Năm: 2020
45. Chu Thanh Vân (2021), “Nhiệm kỳ Chính phủ 2016 - 2021 Nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất”. https://ttbc-hcm.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm kỳ Chính phủ 2016 - 2021 Nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất
Tác giả: Chu Thanh Vân
Năm: 2021
37. Tuấn Đạo Thanh (2011), Mấy bình luận về đề án cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng, http://www.nclp.org.vn/ Link
3. Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Quản lý TTHC theo ngành dọc - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Hình 1.1. Quản lý TTHC theo ngành dọc (Trang 44)
Hình 2.1. Bản đồ hành chính quận Cầu Giấy - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Hình 2.1. Bản đồ hành chính quận Cầu Giấy (Trang 60)
Hình 2.2. Sơ đồ tổ chức hành chính tại UBND quận Cầu Giấy - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Hình 2.2. Sơ đồ tổ chức hành chính tại UBND quận Cầu Giấy (Trang 66)
Hình 2.3. Cơ cấu tổ chức TTHC tại UBND quận Cầu Giấy - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Hình 2.3. Cơ cấu tổ chức TTHC tại UBND quận Cầu Giấy (Trang 69)
Hình 2.4. Sơ đồ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Hình 2.4. Sơ đồ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC (Trang 76)
Hình 2.5. Lợi ích của người dân và doanh nghiệp - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Hình 2.5. Lợi ích của người dân và doanh nghiệp (Trang 77)
Bảng 2.1. Khảo sát lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Bảng 2.1. Khảo sát lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân (Trang 84)
Bảng 2.2. Khảo sát kỹ năng làm việc của cán bộ công chức - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Bảng 2.2. Khảo sát kỹ năng làm việc của cán bộ công chức (Trang 85)
Hình 3.1. Mô hình hệ thống điện tử một cửa quận Cầu Giấy - Cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội
Hình 3.1. Mô hình hệ thống điện tử một cửa quận Cầu Giấy (Trang 112)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w