Công tác quản lý thuế theo đó cũng được đổi mới căn bản, từng bước hiện đại hóa và phát huy được vai trò tích cực đối với việc thực hiện các chính sách thuế Trong quản lý thuế ở các lĩnh
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ MỸ LINH
QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã ngành: 8310110
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Xuân Thu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn “Quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện
Krông Nô, tỉnh Đắk Nông” này là công trình nghiên cứu của chính tôi
Các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ đâu Các số liệu trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
Học viên
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Xuân Thu, người đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo, góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể thầy, cô giáo đã giảng dạy, cung cấp kiến thức, tạo nền tảng lý luận để tôi hoàn thành được khóa học và hoàn thành đề tài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp trong Chi cục Thuế Khu vực Cư Jút - Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện luận văn này
Cuối cùng, không thể thiếu, tôi xin gửi lời biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu luận văn của mình
Học viên
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP huyện Cư Jút - Krông Nô giai đoạn
2016-2020 24
Bảng 2.2 Số thuế tài nguyên thu được trên địa bàn huyện Krông Nô 30
Bảng 2.3 Kết quả quản lý kê khai thuế tài nguyên 33
Bảng 2.4 Tỷ lệ tờ khai thuế tài nguyên đúng các chỉ tiêu 34
Bảng 2.5 Tỷ lệ chứng từ nộp thuế tài nguyên đúng các chỉ tiêu 35
Bảng 2.6 Số thuế tài nguyên doanh nghiệp còn nợ trên địa bàn huyện Krông Nô 36
Bảng 2.7 Số tiền nợ thuế tài nguyên đã nộp NSNN trên địa bàn huyện Krông Nô 38
Bảng 2.8 Tổng hợp số lượng cán bộ thuế, người nộp thuế đánh giá về nội dung Quản lý nợ, cưỡng chế nợ trên địa bàn huyện Krông Nô tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô 40
Bảng 2.9 Số các đơn vị thanh kiểm tra và số thu thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô 43
Bảng 2.10 Bảng tổng hợp số lượng NNT và cán bộ thuế đánh giá về nội dung kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô 46
Bảng 2.11 Số lượt giải đáp vướng mắc về thuế tài nguyên qua điện thoại và tiếp xúc trực tiếp tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô 49
Bảng 2.12 Bảng tổng hợp ý kiến đánh giá của NNT, cán bộ thuế về công tác hỗ trợ người nộp thuế tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô 51
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 2.1 Số lượng doanh nghiệp khai thác tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô 29 Biểu đồ 2.2 Số thông báo nợ phát hành 39 Biểu đồ 2.3 Số doanh nghiệp khai thác tài nguyên đã thanh kiểm tra trên địa bàn huyện Krông Nô 42 Biểu đồ 2.4 Số buổi tập huấn về thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô 48
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
MỤC LỤC vii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ 7
TÀI NGUYÊN 7
1.1.Những lý luận cơ bản về thuế tài nguyên 7
1.2.Nội dung quản lý thuế tài nguyên 9
1.3 Kinh nghiệm quản lý thuế Tài nguyên ở một số địa phương 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRANG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN KHU VỰC CƯ JÚT - KRÔNG NÔ 26
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Krông Nô, Tỉnh ĐắK Nông 26 2.2 Nguồn tài nguyên khoáng sản và kết quả thu thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
Trang 102.3 Thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông
Nô, tỉnh Đắk Nông
2.4 Đánh giá kết quả công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện
Krông Nô tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô 58
CHƯƠNG 3: 67
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG 67
3.1 Quan điểm, mục tiêu quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông 67
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút – Krông Nô tỉnh Đắk Nông 69
3.3 Kiến nghị: 78
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, thuế đã trở thành công cụ tài chính vĩ mô hết sức quan trọng và ảnh hưởng đáng kể đến các mối quan hệ cân đối lớn của nền kinh tế, từ đó tác động đến tăng trưởng bền vững của đất nước
Có thể nói, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Hàng năm
số tiền thu về từ thuế chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu ngân sách của nước
ta Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước ta đã từng bước thực hiện cải cách hệ thống chính sách Thuế, bộ máy ngành Thuế cũng được tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến các Tỉnh, Thành phố, thị xã, Quận huyện Công tác quản lý thuế theo đó cũng được đổi mới căn bản, từng bước hiện đại hóa và phát huy được vai trò tích cực đối với việc thực hiện các chính sách thuế Trong quản lý thuế ở các lĩnh vực, hoạt động khai thác tài nguyên luôn là lĩnh vực được đặc biệt quan tâm, bởi với nền kinh tế như nước ta hiện nay, việc
sử dụng tài nguyên để sản xuất trong nước cũng như xuất khẩu đã đóng góp không nhỏ cho nguồn ngân sách nước nhà
Tuy nhiên, hiện nay hoạt động khai thác tài nguyên diễn ra ngày một nhiều
và với tốc độ nhanh dẫn đến nguy cơ trữ lượng tài nguyên của nước ta ngày càng cạn kiệt, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng, tình trạng xuống cấp của các hệ thống giao thông cũng bắt đầu diễn ra Để quản lý có hiệu quả việc khai thác tài nguyên cũng như bảo vệ môi trường, Nhà nước đã quy định các nghĩa vụ, trong đó có các nghĩa vụ về thuế, phí và lệ phí đồng thời đề ra các cơ chế quản lý thu và nộp thuế đối với các chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên trên phạm vi cả nước
Trang 12Trong những năm qua, cùng với tiến trình cải cách hệ thống thuế cả nước, quản lý thu thuế trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã có những bước chuyển biến tích cực, kết quả thu thuế năm sau cao hơn năm trước
Tổ chức quản lý thu thuế từng bước được cải cách, hiện đại hoá; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức thuế ngày càng được nâng lên Số thu từ thuế tài nguyên của tỉnh có xu hướng tăng qua từng năm nhưng chỉ là một tỷ lệ khá thấp trong khi tiềm năng của nguồn thu này trên địa bàn là đáng kể Nguyên nhân thất thu thuế ở địa phương là do chính sách thu thuế trong khai thác tài nguyên thực tế vẫn còn một số vướng mắc như chính sách thuế cũng chưa quy định rõ việc thu thuế tài nguyên với hộ gia đình, cá nhân khai thác tài nguyên, vật liệu xây dựng thông thường Cơ chế giám sát sản lượng khai thác thực tế của doanh nghiệp chưa có, dẫn đến những rủi ro thất thu do doanh nghiệp khai báo số liệu thấp hơn nhiều lần so với khai thác thực tế hoặc không thực hiện các nghĩa vụ đóng góp như cam kết ban đầu Ngoài ra, nhiều trường hợp doanh nghiệp chỉ xuất hóa đơn khi người mua yêu cầu để trốn sản lượng và giá tính thuế Mặt khác, việc quản lý khai thác tài nguyên còn lỏng lẻo, nên vẫn còn hiện tượng khai thác trái phép gây thất thu sản lượng Tình trạng trốn thuế, nợ thuế tài nguyên ngày càng phổ biến dưới nhiều hình thức tinh vi, khó phát hiện,
số thuế tài nguyên bị thất thoát Hơn nữa công tác quản lý thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng còn tồn tại những mặt hạn chế, chưa theo kịp với tình hình thực tiễn, chưa bao quát hết nguồn thu Sự phối hợp giữa các cơ quan quản
lý cấp phép khai thác tài nguyên và cơ quan thuế chưa chặt chẽ, hệ thống thông tin về trữ lượng, chủng loại tài nguyên tại địa phương chưa đầy đủ dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện thu thuế tài nguyên
Như vậy, quản lý thuế tài nguyên chưa hiệu quả sẽ dẫn tới hậu quả làm thất thoát tài nguyên và làm thất thu nguồn ngân sách lớn của nhà nước Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế tài nguyên là một đòi hỏi cấp thiết,
Trang 13là một nhiệm vụ trọng tâm của Chi cục Thuế huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn hiện nay Việc đi sâu nghiên cứu công tác quản lý thuế tài nguyên sẽ góp phần làm tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách thuế
Với lý do đó tác giả chọn đề tài "Quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông" làm luận văn ngành Quản lý kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Đã có nhiều công trình khoa học về chính sách thuế và thuế tài nguyên được nhiều nghiên cứu trong thời gian qua, cụ thể như sau:
- Quan điểm lý thuyết về thiết kế nguồn tài nguyên của tác giả Robin Boadway và Michael Keen (2009) đã nêu lên tầm quan trọng và phức tạp của các hoạt động khai thác khoáng sản và dầu mỏ và sự phức tạp trong việc tìm ra cách hiệu quả để đánh thuế chúng Những thách thức nảy sinh trong các hoạt động khác liên quan đến các nguồn tài nguyên chưa được quản lý bởi thuế tài nguyên Bài báo này đánh giá thách thức đối với chính sách thuế tài nguyên, các công cụ chính được sử dụng và một số vấn đề quản lý thuế tài nguyên
- Đề tài “Các nhân tố tác động đến quản lý thuế tài nguyên” của Phạm Phương Hoa (2015), Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội: Đề tài đưa ra các kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản lý thuế tài nguyên và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam Đề tài đã chỉ ra các nhân tố tác động đến quản lý thuế tài nguyên ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế tài nguyên
- Đề tài “Nâng cao công tác quản lý thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế tỉnh Quảng Nam” của Nguyễn Thành Quang (2016), đề tài đánh giá những hạn chế và bất cập trong công tác quản lý tài nguyên đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và đưa ra các giải pháp
để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên
Trang 14- Đề tài "Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc" của Đặng Thị Hà (2015) Đề tài nghiên cứu đã phân tích thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc, qua đó tác giả
đề tài đã nêu lên được những điểm mạnh trong công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và chỉ ra được những điểm hạn chế, còn tồn tại trong việc thu thế tài nguyên của các doanh nghiệp khai thác tài nguyên, đặc biệt là khai thác khoáng sản trên địa bàn Tác giả đề tài nghiên cứu cũng đã đưa đưa ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên và những kiến nghị đề xuất lên cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu cải tiến chính sách thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng
- Đề tài "Giải pháp nâng cao công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng" của Nguyễn Quốc Thắng (2019) đã nêu lên được những điểm bất cập trong công tác quản lý thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp khai thác tài nguyên trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng
đã đưa các giải pháp để giúp Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng nâng cao năng lực trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên, tránh thất thu ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khai thác tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã nêu lên được những hạn chế bất cập trong công tác quản lý tài nguyên và đưa ra các giải pháp để quản lý tài nguyên tuy nhiên các đề tài nêu trên chưa có được những giải pháp đột phá để cải thiện công tác quản lý thuế tài nguyên, chưa đưa ra được các vấn đề về cách quản lý thuế tài nguyên đối với các tổ chức khai thác tài nguyên trong phạm trù vi mô Như vậy, trong phạm vi hoạt động của địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông chưa có công trình nghiên cứu nào về công tác quản lý thuế tài nguyên đối với các đơn vị, cơ quan khai thác tài nguyên trong phạm vi địa bàn Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện chính sách thuế và công tác quản lý thuế tài nguyên tại địa bàn huyện Krông Nô mang lại ý nghĩa lớn về lý luận và thực
Trang 15tiễn để góp phần chống thất thu ngân sách nhà nước và góp phần đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của đơn vị nộp thuế tài nguyên, tạo sự công bằng trong công tác quản lý thuế tài nguyên
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên
trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông nhằm hoàn thiện công tác quản
lý thu thuế tài nguyên góp phần làm tăng tính hiệu quả, hiệu lực của luật thuế
tài nguyên
3.2 Nhiệm vụ:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế tài nguyên;
Nghiên cứu thực trạng để chỉ ra được những kết quả đạt được và những điểm hạn chế trong công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông
Nô, tỉnh Đắk Nông;
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên
trên địa bàn huyện Krông Nô trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thuế tài nguyên trên
địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý thuế tài nguyên đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên do Chi cục Thuế khu vực Cư Jút – Krông Nô quản lý theo 4 nội dung sau:
+ Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên;
+ Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên;
+ Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thu thuế tài nguyên;
+ Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thu thuế tài nguyên
Trang 16Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
Về thời gian: Nghiên cứu số liệu thứ cấp thu thập được trong thời gian 3 năm (từ năm 2018 đến năm 2020), số liệu sơ cấp thu thập được từ khi nghiên cứu đề tài cho đến khi hoàn thành đề tài (tháng 6 - 12/2020)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp nghiên cứu thống kê; phân tích; so sánh
và cách tiếp cận số liệu từ cơ sở dữ liệu tại Cục Thuế tỉnh Đắk Nông, Chi cục Thống kê huyện Krông Nô, tạp chí thuế Nhà nước, các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông Bên cạnh đó thu thập từ ý kiến của các lãnh đạo chuyên môn của ngành đã có nhiều kinh nghiệm và ý kiến phản hồi của các doanh nghiệp qua các cuộc đối thoại do Cục Thuế tỉnh Đắk Nông tổ chức
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu chỉ ra được các điểm mạnh, điểm còn hạn chế trong quá trình hoạt động của công tác quả lý thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô Từ đó, đưa ra giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên cho Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu của đề tài còn làm cơ sở để ban lãnh đạo Chi cục Thuế khu vực
Cư Jút - Krông Nô tham khảo, xem xét và nghiên cứu để quản lý thuế nói chung
và quản lý thuế tài nguyên nói riêng trên địa bàn huyện được tốt hơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế Tài nguyên;
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế Tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô;
Trang 17Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế Tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ
TÀI NGUYÊN 1.1 Những lý luận cơ bản về thuế tài nguyên
1.1.1 Khái niệm về thuế tài nguyên
“Tài nguyên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng có vai trò quan trọng đối với con người Trong điều kiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa và quốc tế hóa như hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên khoáng sản cho phát triển kinh tế quốc dân ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhất là các loại tài nguyên khoáng sản quý hiếm, tài nguyên khoáng sản không tái tạo như dầu khí, than, đá,…
Tùy theo các quan điểm quản lý, xác lập quyền sở hữu tài nguyên của quốc gia mà có cách quản lý và điều tiết đối với hoạt động khai thác tài nguyên, trong đó thuế tài nguyên được coi là công cụ góp phần điều tiết hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên
Ở nước ta, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, đánh vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo
vệ tài nguyên đất nước.” [13]
1.1.2 Đặc điểm thuế tài nguyên
Cũng như các loại thuế khác, thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN mặc dù không phải là loại thuế đem lại nguồn thu chủ yếu cho NSNN nhưng cũng đóng góp một phần không nhỏ, tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước Khoản thu này đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý Thuế tài nguyên có các đặc điểm sau:
Trang 18Một là, thuế tài nguyên được tính trên sản lượng và giá trị thương phẩm
của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên
Hai là, Để thu thuế tài nguyên, Nhà nước tính thuế dựa trên sản lượng và
giá bán sản phẩm tài nguyên mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên
Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiện nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên
Ba là, Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, Nhà nước thu tiền thuế từ
người khai thác tài nguyên, nhưng thực chất người tiêu dùng mới là người phải trả tiền thuế đó Người khai thác tài nguyên tính toán số thuế tài nguyên phải nộp trên mỗi đơn vị tải nguyên khai thác, cấu thành trong giá bán sản phẩm tài nguyên cho người tiêu dung Vì lẽ đó, người tiêu dung cuối cùng là người phải trả tiền thuế tài nguyên
Bốn là, Đối tượng nộp thuế tài nguyên là: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác
tài nguyên thiên nhiên không phụ thuộc mục đích sử dụng tài nguyên, đều phải nộp thuế tài nguyên để đảm bảo sự nhất quán, công bằng và tận thu thuế tài nguyên đóng góp vào nguồn NSNN
Năm là, thuế suất thuế tài nguyên khác nhau ở các tài nguyên thiên nhiên
khác nhau
1.1.3 Vai trò của thuế tài nguyên
- Tạo nguồn thu cho NSNN: Bất kỳ loại thuế nào khi được sinh ra đều mang trong mình vai trò bất di bất dịch là tạo nguồn thu cho giai cấp cầm quyền, nhà nước ta cũng nằm trong diện đó Thuế tài nguyên là khoản thu đáng kể cho NSNN Đối với nước ta khoản thu này tương đối lớn, đặc biệt từ dầu khí, than
đá, tài nguyên nước, các loại kim loại quý, đá quý, tài nguyên đất, đá, cát, sỏi…
Trang 19- Đánh thuế tài nguyên góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Khi một sắc thuế được ban hành để tác động lên các đối tượng chịu thuế thì sắc thuế đó làm cho giá trị của mặt hàng chịu thuế tăng lên Khi mặt hàng tăng giá trị làm cho việc sử dụng các tài nguyên này bị hạn chế đi, đặc biệt đối với các loại tài nguyên không thể tái tạo
- Đánh thuế tài nguyên để hạn chế tác động xấu đến môi trường: Việc đánh thuế tài nguyên một mặt tăng cường nguồn thu cho NSNN, hạn chế khai thác tiêu dùng, trên cơ sở đó hạn chế đước tác động xấu đến môi trường như cạn kiệt tài nguyên, khói bụi, đảm bảo phân bổ tài nguyên để sử dụng lâu dài phục
vụ lợi ích quốc gia
- Có tác dụng phân phối lại thu nhập của người dân: Những mặt hàng có giá trị cao thì chỉ có những người giàu mới có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, còn người có thu nhập thấp thì tiêu dùng ít hơn Một phần thuế được huy động vào NSNN, phần thuế này đóng góp vào việc xây dựng các công trình công cộng nâng cao đời sống xã hội, mọi người dân có thể hưởng thụ như nhau
1.2 Nội dung quản lý thuế tài nguyên
1.2.1 Khái niệm quản lý thuế tài nguyên
” Quản lý thuế là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện
pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ ”
Thuế tài nguyên là sắc thuế áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có khai thác tài nguyên thuộc diện chịu thuế tài nguyên theo quy định pháp luật của một quốc gia
Theo pháp luật hiện hành, thuế tài nguyên được hiểu là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên thuộc tài sản quốc gia của các tổ chức,
cá nhân khai thác nhăm khuyến khích việc khai thác, sử dụng tài nguyên hợp
Trang 20lí, tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bào đảm cho ngân sách nhà nước có nguồn thu để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên
Xét về bản chất, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu Tuy nhiên, nó mang tính chất là một khoản thu về chuyển nhượng tài nguyên thiên nhiên quốc gia
mà tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi khai thác tài nguyên, tương tự như trường hợp cơ sở kinh doanh phải ưả tiền mua các loại tài nguyên khác về
để sản xuất, kinh doanh
1.2.2 Nội dung quản lý thuế tài nguyên
- Tổ chức bộ máy hành chính quản lý thuế
Bộ máy hành chính quản lý thuế là bộ máy triển khai tổ chức thực hiện pháp luật thuế, đưa pháp luật thuế vào đời sống Bộ máy hành chính quản lý thuế là một bộ máy thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến địa phương, song
nó thường được chia thành hai bộ phận: một là, bộ máy hành chính thuế ở Trung ương và bộ máy hành chính thuế địa phương
Chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Thuế: Tổng cục Thuế là tổ chức thuộc
Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (thuế); tổ chức quản
lý thuế theo quy định của pháp luật
Chức năng, nhiệm vụ của Cục Thuế: Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Cục Thuế) là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) thuộc phạm vi nhiệm vụ của cơ quan thuế quản lý thu trên địa bàn theo quy định của pháp luật Phân tích, tổng hợp, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương về lập dự toán thu ngân sách nhà nước, về công
Trang 21tác quản lý thuế trên địa bàn; chủ trì và phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao
Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Thuế: Chi cục thuế ở các quận, huyện,
thị xã, thành phố; Chi cục thuế khu vực là tổ chức trực thuộc cục thuế cấp tỉnh,
có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (gọi chung là thuế) thuộc phạm vi chức năng nhiệm vụ của chi cục thuế về quản lý thu trên địa bàn theo quy định của pháp luật Chi cục thuế có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Tổ chức triển khai thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, quản lý thuế và các văn bản quy định của pháp luật khác có liên quan; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn được giao
- Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách nhà nước, về công tác quản lý thuế trên địa bàn; chủ trì phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cơ quan có liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao
- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của mình
- Quản lý thông tin về người nộp thuế, xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin người nộp thuế trên địa bàn
- Kiểm tra giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế, miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế và chấp hành chính sách pháp luật thuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được ủy nhiệm thu thuế theo phân cấp
Trang 22Bộ máy hành chính quản lý thuế ở nước ta được tổ chức theo mô hình chức năng nên không tách các bộ phận theo từng loại thuế mà bộ máy quản lý thuế, đặc biệt ở cấp chi cục, được tổ chức theo các chức năng quản lý thu thuế QLT tài nguyên là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc điều tiết khai thác sử dụng và thu thuế tài nguyên sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển KT-XH của đất nước trong từng thời kỳ Một mục tiêu khác không kém phần quan trọng, đó là khai thác tài nguyên hiệu quả thì sẽ tiết kiệm được tài nguyên quốc gia để sử dụng lâu dài, đồng thời hạn chế được tác động xấu đến môi trường sinh thái, do đó việc quản lý thuế tài nguyên phải thực hiện một cách có hiệu quả và đúng quy trình quy định QLT tài nguyên được thực hiện theo các bước sau:
- Lập dự toán thu thuế tài nguyên: Lập dự toán thu thuế tài nguyên nhằm
mục đích để cơ quản QLT hoạch định được số tiền thu được từ thu thuế tài nguyên để nộp vào NSNN nước theo định kỳ hàng năm trên phạm vi địa bàn quản lý của cơ quan thuế
- Quản lý kê khai thuế, nộp thuế và quyết toán tài nguyên: Để thực hiện kê
khai thuế tài nguyên đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khai thác tài nguyên thực hiện kê khai thuế tài nguyên theo các biểu mẫu do cơ quan thuế quy định Để quyết toán thuế tài nguyên, doanh nghiệp sẽ sử dụng mẫu biểu tờ khai quyết toán thuế tài nguyên
Tổ chức, hộ kinh doanh khai thác tài nguyên có trách nhiệm thông báo với
cơ quan thuế về phương pháp xác định giá tính thuế đối với từng loại tài nguyên khai thác, kèm theo hồ sơ khai thuế tài nguyên của tháng đầu tiên có khai thác Trường hợp thay đổi phương pháp xác định giá tính thuế thì thông báo lại với
cơ quan thuế trực tiếp quản lý trong tháng có thay đổi
Trang 23Hàng tháng, NNT thực hiện khai thuế đối với toàn bộ sản lượng tài nguyên
khai thác trong tháng (không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế
biến)
Khi quyết toán thuế, NNT phải lập Bảng kê kèm theo Tờ khai quyết toán thuế năm trong đó kê khai chi tiết sản lượng khai thác trong năm theo từng mỏ tương ứng với Giấy phép được cấp Số thuế tài nguyên được xác định căn cứ thuế suất của loại tài nguyên khai thác tương ứng với sản lượng và giá tính thuế như sau:
- Sản lượng tài nguyên tính thuế là tổng sản lượng tài nguyên khai thác trong năm, không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế biến hoặc vận chuyển Trường hợp trong sản lượng bán ra vừa có sản lượng sản phẩm tài nguyên vừa có sản lượng sản phẩm công nghiệp thì phải quy đổi từ tài nguyên có trong sản lượng sản phẩm tài nguyên và sản phẩm công nghiệp ra sản lượng tài nguyên khai thác theo định mức sử dụng tài nguyên do người nộp thuế tự xác định
- Quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế tài nguyên: Việc quản lý nợ thuế tài
nguyên thực hiện theo quy trình quy định theo từng thời kỳ; được phân loại theo từng nhóm nợ: Nợ đến 30 ngày; nợ từ trên 30 ngày đến 60 ngày; nợ trên
60 ngày đến 90 ngày; nợ từ trên 90 ngày trở lên Đồng thời căn cứ vào tình hình hoạt động của tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hay nói cách khác là NNT
(đang hoạt động, ngừng hoạt động, giải thể, phá sản, bỏ kinh doanh, tình hình tài chính …) để phân thành nợ có khả năng thu, nợ không có khả năng thu, nợ
chờ xử lý, từ đó để có các biện pháp đôn đốc thu, khoanh nợ, dãn nợ có hiệu
quả
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về thuế tài nguyên: Việc thanh tra,
kiểm tra và xử lý nghiêm các sai phạm về thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng không chỉ dừng ở vấn đề tăng thu ngân sách, mà còn có tác dụng thúc
Trang 24đẩy, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác QLT; nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ thuế của NNT
- Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế: Bên cạnh thực hiện tốt công tác
quản lý thu, tăng cường chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế, Cơ quản thuế còn đẩy mạnh tuyên truyền và hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về các chính sách thuế mới cho người nộp thuế một cách kịp thời; tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện chính sách, pháp luật thuế Triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, hỗ trợ với nhiều hình thức phong phú, đa dạng để người nộp thuế biết, hiểu và đồng thuận thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế Nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động đối thoại với doanh nghiệp, người nộp thuế nhằm nắm bắt, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của người nộp thuế Qua đó góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách theo kế hoạch được giao trong năm
1.2.3 Các phương pháp quản lý thuế tài nguyên
- Phương pháp hành chính:
Phương pháp hành chính là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm
vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết
Theo đó, nội dung đầu tiên của phương pháp hành chính trong quản lý thuế tài nguyên cần đề cập là thiết lập các quy trình để quản lý hoạt động thu thuế tài nguyên được chặt chẽ, đảm bảo việc thu thuế theo kế hoạch dự toán và chỉ tiêu được giao, cụ thể:
+ Thiết lập các quy trình thu thuế để đảm bảo việc thu thuế được thực hiện theo từng bước đúng quy định của nhà nước, công chức thu thuế thực hiện minh bạch, người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuận lợi, rõ ràng trong việc nộp thuế
Trang 25+ Thiết lập các quy trình kiểm soát thu thuế để đảm bảo hoạt động thu thuế được công khai, minh bạch với NNT Tránh tình trạng người thu thuế thiếu trách nhiệm trong hoạt động thu thuế dẫn đến thu thiếu, thu không đủ hoặc tính giá thuế không đúng quy định
+ Bên cạnh đó, nội dung phương pháp hành chính còn là thiết lập các phương pháp đối chiếu, kiểm tra để hạn chế tối đa việc sai sót trong hoạt động thu thuế của công chức thuế hoặc kịp thời khắc phục khi công chức thuế hay NNT thực hiện không đúng quy định của nhà nước
- Phương pháp thuyết phục, vận động người nộp thuế:
Phương pháp tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao nhận thức trong việc thực thi chính sách thuế tài nguyên cũng như các chính sách kinh tế - xã hội khác, chính sách thuế tài nguyên muốn áp dụng thành công đạt hiệu quả cao cần phải được đông đảo các tầng lớp dân cư đồng tình ủng hộ và thừa nhận Bên cạnh các mục tiêu cung cấp thông tin, tuyên truyền về chính sách thuế cần coi trọng việc tiếp thu ý kiến phản hồi từ các doanh nghiệp, các tầng lớp dân
cư để có những sửa đổi, bổ sung kịp thời trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Xây dựng hệ thống dịch vụ kế toán, tư vấn thuế rộng rãi từ Trung ương đến địa phương để người nộp thuế tiếp cận thường xuyên, nhanh chóng kịp thời với chính sách thuế tài nguyên ở mỗi thời điểm thực hiện
Đối với người nộp thuế còn phải thường xuyên tổ chức tập huấn, đối thoại trực tiếp, gián tiếp mỗi khi chính sách sửa đổi, bổ sung để người nộp thuế thực thi chính sách kịp thời, đầy đủ theo quy định của pháp Luật thuế
- Phương pháp kinh tế:
Công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể chủ động lập kế hoạch bảo
vệ môi trường, tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm nhằm tăng hiệu quả chi phí, khuyến khích việc đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh Các giải
Trang 26pháp kinh tế có vai trò điều chỉnh kinh tế vĩ mô theo hướng tích cực, có tác dụng buộc người gây ô nhiễm phải thực hiện các mục tiêu về môi trường bằng các phương tiện, chi phí hiệu quả nhất; kích thích sự phát triển công nghệ mới
và tăng cường chuyên sâu về kiểm soát ô nhiễm trong khu vực tư nhân, khuyến khích công tác nghiên cứu và phát triển
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế tài nguyên
do sự thiếu quan tâm hiểu biết, hoặc do cố tình trốn, gian lận thuế nên phát sinh rất nhiều các tình huống mà nếu cán bộ thuế không vững về chuyên môn nghiệp
vụ, sẽ không thể hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm Lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản là lĩnh vực hoạt động phức tạp, địa bàn quản lý rộng, có tính đặc thù do tài nguyên khoáng sản luôn gắn liền với tự nhiên, việc khai thác sử dụng là khó kiểm soát, đặc biệt là khai thác và
sử dụng nhỏ lẻ Các đơn vị khai thác tài nguyên cũng luôn tìm cách lách luật
để trốn tránh nghĩa vụ thuế, càng đòi hỏi người cán bộ thuế phải am hiểu luật pháp và trau dồi kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ để xử lý kịp thời và triệt để, tránh thất thu NSNN, mặt khác đem lại hiệu quả quản lý về mặt xã hội
Trang 27Với vị trí hết sức quan trọng trong bộ máy cơ quan thuế cũng như để đáp ứng các yêu cầu quản lý thuế trong sự nghiệp đổi mới đòi hỏi cán bộ, công chức thuế không những phải thành thạo về chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ mà còn phải có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, liêm, chính Cái tâm, cái đức của người cán bộ thuế thể hiện ở sự công tâm, khách quan, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao trong công tác quản lý và thu thuế vào NSNN;
“Thu thuế nhưng thu được lòng dân”; nhiệt tình, cởi mở hướng dẫn NNT thực hiện đúng các quy định pháp luật của nhà nước nhưng cũng cứng rắn và cương quyết với các hành vi cố tình trốn tránh, gian lận nghĩa vụ thuế; không hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu, tuỳ tiện khi thi hành công vụ; không thông đồng, móc ngoặc với NNT để vụ lợi, làm thất thu NSNN
Xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước cũng có những thay đổi cho phù hợp với thực
tế Về phương diện quản lý thuế nói chung và quản lý thuế tài nguyên nói riêng, các chính sách cũng luôn được cập nhật, bổ sung những yếu tố mới, sửa đổi những yếu tố chưa hợp lý để ngày càng làm hoàn thiện hơn các văn bản quy phạm pháp luật, để quản lý có hiệu quả hơn Cán bộ thuế, người trực tiếp đại diện Nhà nước thi hành pháp luật về thuế cũng luôn phải cập nhật, trau dồi, học hỏi chính sách pháp luật cũng như nghiệp vụ chuyên môn để truyền đạt, hướng dẫn kịp thời cho NNT cũng như kiểm tra, giám sát NNT thực hiện đúng đắn nghĩa vụ thuế của mình
- Cơ chế phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong cơ quan thuế và giữa
cơ quan thuế với các cơ quan, ban ngành có liên quan
Bộ máy hoạt động của Chi cục Thuế bao gồm các Đội thuế chức năng, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của tổ chức, đứng đầu là người lãnh đạo Công tác quản lý thuế cũng được quản lý theo từng bộ phận chức năng, chịu trách nhiệm công việc tương ứng với các quy trình quản lý thuế Để tạo thành
Trang 28một thể thống nhất, quản lý hiệu quả thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng, nhất thiết phải có sự phối hợp giữa các Đội thuế chức năng trong cơ quan thuế
Công tác quản lý thuế theo quy trình quy định rõ nhiệm vụ của từng bộ phận, từng bước công việc trong quá trình quản lý thuế, và bước công việc nào phối hợp cùng với Đội thuế nào và Đội thuế nào có chức năng nhiệm vụ cùng phối hợp thực hiện Điều này tạo ra sự tương tác, gắn kết giữa các phòng ban,
để vừa có sự chuyên sâu trong quản lý, vừa có sự liên kết giữa các bộ phận để cùng nhau thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của ngành thuế là thực hiện tốt công tác quản lý thuế
Quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản là quản lý từ khâu cấp phép đến khai thác sử dụng, nó tạo ra mối liên hệ giữa rất nhiều các cơ quan tổ chức, không chỉ cơ quan thuế, có rất nhiều các cơ quan khác cùng tham gia, tác động vào để quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản của quốc gia như Sở Tài nguyên môi trường, UBND các cấp, Do đó, trong công tác quản lý thuế tài nguyên, phải
có sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan hữu quan để thực hiện đúng thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản theo quy định của pháp luật, cùng đưa ra các giải pháp vừa đảm bảo đúng quy định pháp luật về thuế tài nguyên, vừa đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và các quy định cụ thể của địa phương nhằm chống thất thu thuế tài nguyên và bảo vệ được tài nguyên khoáng sản quốc gia, bảo vệ môi trường
1.2.4.2 Yếu tố khách quan
- Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của NNT
NNT là người trực tiếp đóng góp, tạo nguồn thu cho NSNN thông qua việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh NNT là người bạn đồng hành của cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế, cơ quan thuế không thể quản lý thuế tốt nếu như không có sự hợp tác của NNT
Trang 29Chuyển đổi theo cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế có hiệu quả cao trong việc cải cách thủ tục hành chính thuế, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, phát huy tính tự chủ và ý thức tự giác thực hiện pháp luật về thuế của NNT Với cơ chế này, NNT có nhiều hơn sự chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, nhưng đi cùng với đó là việc phát sinh nhiều tình huống vi phạm pháp luật về thuế do NNT hoặc không am hiểu tường tận về quy định pháp luật về thuế, hoặc do trình độ nghiệp vụ liên quan tới thuế hạn chế, hoặc do cố tình trốn thuế, gian lận thuế Đòi hỏi cơ quan thuế phải sát sao hơn trong công tác phổ biến, hướng dẫn các quy định pháp luật về thuế, kiểm tra và giám sát việc khai thuế, nộp thuế của NNT
Thuế tài nguyên là loại thuế đặc thù do sản phẩm chịu thuế là tài nguyên, lấy từ thiên nhiên, và thuộc sở hữu của Nhà nước Và mô hình chung, Nhà nước
là của dân, chính bởi lẽ đó mà đối tượng khai thác tài nguyên vẫn thường tự cho mình quyền được khai thác và thu lợi nhuận từ tài nguyên đó trong khi lơ
là nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Thuế tài nguyên vẫn được coi là sắc thuế mới và luôn được xem xét để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp, chính vì vậy, bản thân NNT một mặt không cập nhật kịp thời và đầy đủ quy định, một mặt vẫn giữ thói quen lấy từ thiên nhiên không phải trả phí, nên gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý Số thu từ thuế tài nguyên không lớn, người nộp thuế tài nguyên không nhiều (so với các sắc thuế khác), nhưng công tác quản lý thuế tài nguyên luôn đòi hỏi sự đầu tư, quan tâm và giám sát quản lý chặt chẽ của
cơ quan thuế Rõ ràng là trình độ và ý thức của NNT trong việc tuân thủ quy định về thuế tài nguyên là rất quan trọng đối với công tác quản lý thuế tài nguyên NNT có ý thức pháp luật tốt và chấp hành các qui định của pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì việc thực thi pháp luật thuế được đảm bảo dễ dàng, hiệu quả hơn và ngược lại
- Mức độ ổn định của chính sách thuế tài nguyên
Trang 30Sự thay đổi về hệ thống chính sách thuế tài nguyên là tác động mang tính
vĩ mô và sự tác động này mang ý nghĩa đối với công tác quản lý thuế tài nguyên bởi thuế tài nguyên được quy định thực hiện trong chính sách pháp luật thuế tài nguyên
Thời điểm bắt đầu có quy định về thuế tài nguyên là năm 1990 với Pháp lệnh về thuế tài nguyên, những quy định mang tính chất khởi đầu và bao quát, tất yếu trong quá trình thực hiện nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập và yêu cầu được sửa đổi Năm 1998, Pháp lệnh thuế tài nguyên sửa đổi ra đời, có quy định chi tiết hơn, rõ ràng hơn về loại tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu của nhà nước, về đối tượng chịu thuế, về căn cứ tính thuế, Tuy nhiên, trong quá trình thực thi vẫn phát sinh những vấn đề vướng mắc, bất cập cần được bổ sung, sửa đổi, rất nhiều các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành sửa đổi bổ sung và cho đến khi Luật Thuế tài nguyên ra đời năm 2009 Sự ra đời của Luật Thuế tài nguyên đánh dấu việc hệ thống hóa đối với chính sách pháp luật về thuế tài nguyên Và sau khi Luật Thuế tài nguyên được đưa vào sử dụng, Bộ Tài chính cũng ra các văn bản hướng dẫn thi hành để hướng dẫn chi tiết
Mỗi lần bổ sung, sửa đổi chính sách về thuế tài nguyên là một lần giúp công tác quản lý thuế được hoàn thiện hơn Có những thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế, nhưng lại thắt chặt các quy định trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế của NNT; có những thay đổi giúp cho NNT thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ thuế tốt hơn Nhưng nhìn chung, sự thay đổi về hệ thống chính sách
có tác động đến cách thức quản lý thuế của cơ quan thuế Trong trường hợp chính sách thuế bị thay đổi quá nhiều sẽ gây khó khăn cho NNT trong việc thực hiện thủ tục hành chính thuế, xác định số thuế phải nộp Tần suất thay đổi chính sách quá nhanh cùng với công tác tuyên truyền không kịp thời làm cho NNT thực sự gặp khó khăn trong việc cập nhật chính sách vì vậy một số trường hợp NNT vô tình thực hiện không đúng quy định
Trang 311.3 Kinh nghiệm quản lý thuế Tài nguyên ở một số địa phương
Quá trình quản lý thuế tài nguyên, một số địa phương cấp huyện thuộc phạm vi tỉnh Đắk Nông như huyện Krông Nô, huyện Đắk Glong đã có những kinh nghiệm trong công tác QLT tài nguyên hầu hết đang được áp dụng một số kinh nghiệm sau:
Hiện nay công tác QLT đã và đang trong quá trình HĐH cả về cơ sở vật chất và chính sách thuế (giai đoạn một từ năm 2010 đến năm 2015; giai đoạn hai từ năm 2015 đến 2020) Đặc biệt công tác cải cách thủ tục hành chính thuế đang ở trong giai đoạn hoàn thiện, mục tiêu của cải cách và HĐH ngành thuế
là tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, tinh giản bộ máy thuế, QLT mang tính chất tập trung, với hình thức doanh nghiệp “tự khai, tự nộp - tự chịu trách nhiệm” và cơ quan thuế QLT theo chức năng, rõ ràng, minh bạch và chuyên nghiệp Khác với trước đây công tác QLT được thực hiện theo hình thức chuyên quản, việc quản lý doanh nghiệp chỉ giao cho một bộ phận phụ trách từ kê khai, đến đôn đốc nợ thuế, kiểm tra quyết toán thuế… công chức thuế có thể kiểm tra doanh nghiệp bằng rất nhiều hình thức, không có quy định cụ thể, rõ ràng Dẫn đến doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian cho công tác quản lý mang tính chuyên quản của một bộ phận được giao nhiệm vụ Từ đó có thể xẩy ra các tiêu cực
Song song với việc QLT theo chức năng, việc kê khai thuế, tính thuế của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khai thác tài nguyên, khoáng sản nói riêng hết sức đơn giản “tự khai - tự nộp - tự chịu trách nhiệm”, theo đó hàng tháng, hoặc quý (tùy theo hình thức khai thuế) doanh nghiệp chỉ nộp một tờ khai theo quy định, không kèm bất kỳ một loại mẫu biểu kèm theo (khác với trước đây: hồ sơ kèm theo tờ khai bắt buộc phải có bảng kê đầu vào, đầu ra)
Do đó, để kiểm soát và nhận biết việc kê khai trung thực hay chưa trung thực của của doanh nghiệp là rất khó khăn, do không có cơ sở
Trang 32Như vậy, để hạn chế tối đa việc khai man để trốn thuế của một số doanh nghiệp chủ yếu dựa vào phân tích rủi ro Từ đó kinh nghiệp QLT của một số đơn vị và Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô, dựa trên một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, kiểm tra rủi ro thông qua hồ sơ khai thuế, có một số biểu hiện chủ yếu:
- Tờ khai thuế nhiều tháng liên tục không phát sinh doanh thu;
- Tờ khai thuế nhiều tháng có số thuế còn được khấu trừ hoặc đề nghị hoàn thuế (trừ các doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản);
- Tờ khai thuế liên tục có doanh số mua vào bằng doanh số bán ra;
- Tờ khai thuế có doanh thu đột biến
Các biểu hiện trên do bộ phận kê khai kế toán thuế phân tích và xác định rủi ro, chuyển bộ phận kiểm tra để lập kế hoạch kiểm tra bất thường
Thứ hai, kết hợp kiểm tra thực tế: Việc kiểm tra thực tế chủ yếu thực hiện đối với các doanh nghiệp khai thác tài nguyên, khoáng sản, công tác này đòi hỏi phải có sự kết hợp của các ban ngành (hầu hết các Chi cục Thuế trong tỉnh đang duy trì đoàn kiểm tra chống thất thu, bao gồm một số đơn vị trong huyện tham gia làm thành viên, 01 phó chủ tịch huyện làm trưởng đoàn, cơ quan thuế làm phó đoàn trực) Việc phối hợp kiểm tra bao gồm một số nội dung chính:
- Kiểm tra trên khâu lưu thông: Kiểm tra việc vận chuyển hàng hóa, tài nguyên, khoáng sản có chứng từ hợp pháp hay không;
- Kiểm tra tại nơi sản xuất: Lượng hàng tồn kho (rất hiệu quả đối việc kê khai thuế tài nguyên), hàng tồn kho có tương ứng với kê khai thuế tài nguyên không …
- Kiểm tra chỉ số tiêu thụ điện năng của doanh nghiệp khai thác (phối hợp với điện lực sở tại) Nếu điện năng trong tháng tiêu thụ lớn, nhưng kê khai thuế tài nguyên thấp cần phải đặt vấn đề nghi vấn và đưa vào diện kiểm tra rủi ro
Trang 33Từ kết quả kiểm tra trên, đoàn chống thất thu lập thành văn bản, gửi Chi cục Thuế đề nghị xử lý (nếu có sai phạm)
Những bài học kinh nghiệm rút ra tại Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông
Nô
Qua khảo sát kinh nghiệm ở các địa phương với mục đích tìm hiểu nhừng đổi mới trong phương thức quản lý thuế tạo nguồn thu cho ngân sách đáp ứng yêu cầu của địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội cho thấy:
Thứ nhất, để hoàn thành nhiệm vụ Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông
Nô cần phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện và đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành lien quan trong công tác thuế, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Thuế tỉnh Đắk Nông
Thứ hai, cần rà soát kê khai, nộp thuế, chống thất thu đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào NSNN ngoài ra cần phải đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và cần linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể
Thứ ba, cần phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được yêu cầu của quá trình cải cách thuế Phân công các nhiệm
vụ, thường xuyên đổi mới phương pháp thu và quản lý thu thuế
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và kiểm tra giám sát Nâng cao nhận thực của cộng đồng nói chung và của NNT nói riêng, kết hợp với công tác thanh, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các quy trình thu, đối tượng thu, kết quả thu…
Tóm lại, các quy định về quản lý thuế tài nguyên đối được cụ thể hóa ở Luật Quản lý thuế, Luật Thuế tài nguyên và các văn bản hướng dẫn thi hành Đối với việc quản lý thuế nói chung và quản lý thuế tài nguyên nói riêng được thực hiện theo các quy định, quy trình mà tác giả đã nêu ở trên Để thực hiện tốt công tác quản lý thuế tài nguyên, chống thất thu, gian lận thuế đòi hỏi cần
Trang 34phải kiểm soát chặt chẽ dựa trên việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý thuế tài nguyên và học hỏi kinh nghiệm của các đơn vị khác
Trang 35nhằm thực hiện việc điều tiết khai thác sử dụng và thu thuế tài nguyên; Các phương pháp quản lý thuế tài nguyên, như phương pháp hành chính phương pháp thuyết phục, vận động người nộp thuế; Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế tài nguyên; Kinh nghiệm quản lý thuế tài nguyên của các ở một số địa phương; tác giả trình bày ngắn gọn những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu; kinh nghiệm quản lý thuế tài nguyên nói riêng và quản lý thuế nói chung của một số đơn vị và của Chi cục Thuế khu vực Cư Jút
- Krông Nô
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN KHU VỰC CƯ JÚT - KRÔNG NÔ
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Krông Nô, Tỉnh ĐắK Nông
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đắk Nông là một trong 5 tỉnh
thuộc vùng Tây Nguyên, nằm ở khu
vực trung tâm của vùng, có diện tích
120 km về phía Tây Nam; có Quốc lộ
28 nối Đắk Nông với Lâm Đồng, Bình
Thuận và các tỉnh Duyên hải miền
Trang 37Nông thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trong tương lai sẽ trở thành trung tâm phát triển kinh tế năng động của khu vực Tây Nguyên
- Địa hình: Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa cácnúi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng
- Điều kiện khí hậu: mát mẻ, ôn hòa Có vị trí nằm ở trung tâm vùng đất
đỏ Bazan, thích hợp với cây công nghiệp và cây lấy gỗ Đặc biệt là cây cà phê, cao su, thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày và đây là một thế mạnh của tỉnh
- Tài nguyên thiên nhiên: có diện tích rừng và trữ lượng gỗ lớn, với nhiều loại gỗ quý và động vật quý hiếm Tỉnh còn có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, nhất là khoáng sản phục vụ cho phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng
- Du lịch: có nhiều tiềm năng phát triển mạnh với các loại hình đa dạng như du lịch sinh thái, cảnh quan; du lịch văn hóa, lịch sử; du lịch lễ hội v.v
2.1.2 Điều kiện kinh tế
Cơ cấu kinh tế của tỉnh chủ yếu là nông, lâm nghiệp, còn dịch vụ và công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp Đời sống dân cư phụ thuộc nhiều vào việc trồng các loại cây công nghiệp như cà phê, cao su, tiêu, điều và đậu đỗ các loại Giá bán nông sản không ổn định Thời tiết diễn biến thất thường, nhiều năm liên tục xảy ra hạn hán, dịch bệnh kéo dài trên diện rộng làm cho năng suất giảm đáng kể Cơ cấu kinh tế theo thành phần và ngành kinh tế và mức tăng trưởng của các ngành kinh tế và thể hiện các bảng 2.1 sau:
Trang 38Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP huyện Krông Nô giai đoạn 2016-2020
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Đắk Nông
Về dân số và lao động: Năm 2020 dân số 700.300 người, trong đó lực lượng lao động có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên là 493.000 người
Tình hình chính trị diễn biến bất thường, xảy ra bạo động, bạo loạn của một số phần tử trong cộng đồng đồng bào dân tộc tại chỗ cũng làm ảnh hưởng xấu đến công tác thu thuế như phải tập trung cán bộ thuế làm công tác dân vận, môi trường đầu tư kém hấp dẫn
2.2 Nguồn tài nguyên khoáng sản và kết quả thu thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
2.2.1 Nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Krông Nô
Ngoài các loại tài nguyên rừng, đất, nước… thì Krông Nô là huyện có nhiều loại khoáng sản đa dạng và quan trọng, có loại có trữ lượng rất lớn, theo
đó huyện Krông Nô có nhiều loại khoáng sản được phép thăm dò Cụ thể như sau:
- Đá xây dựng: Có thể nói huyện Krông Nô là nguồn cung cấp đá xây dựng chị trường tỉnh Đắk Nông Các mỏ đá xây dựng được phân bổ dày và rải đều trên nhiều vùng của huyện Krông Nô
- Cát xây dựng: có nguồn cát đáp ứng cho nhu cầu xây dựng trong huyện
và cung cấp cho các huyện lân cận Địa phương có một số mỏ cát được phép khảo sát, thăm dò và khai thác, đây là ưu thế tốt của huyện;
Trang 39Ngoài ra trên địa bàn huyện Krông Nô còn có các mỏ sét, quặng sắt Limonit phụ gia xi măng, vonfram Mỏ đá cao Silic với trữ lượng khoảng 0,1 triệu tấn Sét gạch ngói và các loại đá cát sạn xây dựng cũng được phân bố rải rác trên địa bàn huyện Krông Nô đáp ứng nhu cầu trên địa bàn huyện
2.2.2 Kết quả thu thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô
Như phần trên đã trình bày, huyện Krông Nô không phải là khu vực giàu tài nguyên khoáng sản, trữ lượng tài nguyên khoáng sản không lớn và không
có nhiều loại tài nguyên khoáng sản có giá trị kinh tế Tài nguyên tại địa bàn huyện Krông Nô chủ yếu tập trung vào đất, đá, cát và một vài khoáng sản khác Cũng chính bởi lẽ đó mà số lượng đơn vị khai thác tài nguyên khoáng sản, số lượng đơn vị phải nộp thuế tài nguyên cũng không quá nhiều
Biểu đồ 2.1 Số lượng doanh nghiệp khai thác tài nguyên trên địa bàn
huyện Krông Nô
(Nguồn: Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô, 2020)
Từ năm 2018 đến năm 2020, số lượng doanh nghiệp khai thác tài nguyên tăng qua các năm từ 133 doanh nghiệp năm 2018 tăng lên thành 202 doanh
Số lượng doanh nghiệp
Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Trang 40nghiệp vào năm 2020 Như vậy cho thấy hoạt động khai thác tài nguyên tại địa bàn huyện Krông Nô có sự phát triển về các doanh nghiệp khai thác tài nguyên
Bảng 2.2 Số thuế tài nguyên thu được trên địa bàn huyện Krông Nô
(Nguồn: Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô, 2020)
Thuế tài nguyên là một sắc thuế có số thu nhỏ trên tổng số thu nội địa của tỉnh, thêm nữa số lượng các đơn vị phát sinh nghĩa vụ thuế tài nguyên là khá ít so với tổng số thu thuế của Chi cục thuế Tuy nhiên, số thu thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô cũng tăng đáng kể qua các năm, đạt tỷ lệ tăng trưởng cao, cụ thể: số thu thuế tài nguyên năm 2019 so với năm 2018 tăng 3,604
tỷ đồng và năm 2020 so với năm 2019 tăng 3,363 tỷ đồng
Nhìn vào tốc độ tăng trưởng số thu NSNN từ thuế tài nguyên, ta có thể thấy được công tác quản lý thuế tài nguyên đã có được những hiệu quả nhất định Mặc dù nền kinh tế có nhiều khó khăn, số thu NSNN nội địa có năm còn giảm so với năm trước, nhưng số thu thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông
Nô vẫn tăng trưởng ở mức cao qua các năm
2.3 Thực trạng công tác quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
2.3.1 Tổng quan về Chi cục Thuế khu vực Cư Jút - Krông Nô, tỉnh Đắk Nông