TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠIKHOA KINH TẾ - LUẬT --------BÀI THẢO LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài: Vai trò của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp kháng chiến chốn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BÀI THẢO LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Vai trò của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn: Lê Văn Nguyên
Nhóm : 2
Lớp học phần : 2235HCMI0131
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
1.2 Vị trí địa lý của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
1.3 Phát triển phương tiện và các tuyến vận tải trên biển
1.3.1 Các đơn vị vận tải
1.3.2 Các phương tiện
1.3.3 Các tuyến chính
1.3.4 Các căn cứ và bến bãi
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA VIỆT NAM
2.1 Thể hiện sự sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước
2.2 Tuyến vận chuyển chiến lược của trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
2.4 Nơi hội tụ sức mạnh về cả chính trị và tinh thần của quân và dân ta trong thời kì kháng chiến chống Mỹ của nước ta
2.4.1 Sức mạnh chính trị
2.4.2 Sức mạnh tinh thần
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN NGÀY NAY
3.1 Giá trị lịch sử
3.2 Giá trị thực tiễn
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Gần tám thập kỷ vừa qua, dân tộc ta đã vượt qua một chặng đường đấu tranhcực kỳ khó khăn, gian khổ, giành được những thắng lợi vẻ vang Từ thân phận ngườidân mất nước, nhân dân ta đã anh dũng vùng lên, lần lượt đánh bại sự xâm lược củanhiều đế quốc lớn mạnh, đưa Đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên độclập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa Xã hội Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước vĩ đại của dân tộc ta, công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương miềnBắc vào tiền tuyến miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết địnhnhất đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước Cùng với tuyếnđường chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên bộ nổi tiếng thế giới, dân tộc tacòn lập một kì tích nữa trong lịch sử, đó là tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ ChíMinh trên biển Đây là một kì tích có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta dưới sựlãnh đạo của Đảng mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Mính vĩ đại, là biểu hiệncủa ý chí sắt đá quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng,toàn dân, toàn quân ta Nhận thấy được ý nghĩa đó, chúng em đã chọn: “Vai trò củađường mòn Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nướccủa Việt Nam” làm để tài thảo luận trong học phần Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Hy vọng đề tài thảo luận của nhóm sẽ giúp mọi người hiểu biết sâu sắc hơn vềnhững hoạt động, kết quả đóng góp của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ ChíMinh trên biển trong nhiệm vụ chi viện cho chiến trường Qua đó cũng thấy được sựsáng tạo, thành công của Đảng trong hoạt động tổ chức lãnh đạo, chỉ huy tuyến chiviện chiến lược này
Để hoàn thành được đề tài thảo luận, ngoài sự đóng góp ý kiến và nỗ lực hếtmình của tất cả các thành viên trong nhóm, chúng em còn nhận được sự hỗ trợ nhiệttình của thầy Lê Văn Nguyên – giảng viên học phần Lịch sử Đảng cộng sản ViệtNam Nhóm 2 chúng em xin chân thành cảm ơn thầy vì những kiến thức quý báu màthầy đã truyền dạy cho chúng em cũng như giúp đỡ nhóm hoàn thành bài thảo luận.Chúng em chúc thầy luôn mạnh khỏe và thành công trong sự nghiệp trồng người
Trang 4Vì điều kiện thời gian và kiến thức chuyên môn còn hạn chế, bài thảo luận củanhóm không thể tránh khỏi những sai sót Nhóm 2 rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của thầy và các bạn trong lớp để bài thảo luận của nhóm được hoàn thiện hơn.Nhóm 2 xin chân thành cảm ơn!
Trang 5CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH
TRÊN BIỂN
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cùng với tuyến vận tải chiếnlược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ, còn có tuyến đường chi viện quân sựchiến lược trên biển mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh Đường Hồ Chí Minh trên biển
đã kết nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, vận chuyển kịpthời, hiệu quả vũ khí và lực lượng, góp phần quan trọng vào Đại thắng mùa Xuân1975
Lịch sử hình thành của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, thực hiện chủtrương của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, ngày 19/5/1959, “Đoàn công tácquân sự đặc biệt” (đơn vị tiền thân của Đoàn 559) được thành lập với nhiệm vụ xâydựng tuyến chi viện chiến lược trên bộ và trên biển cho miền Nam Đến tháng7/1959, Tiểu đoàn 603 trực thuộc Đoàn 559 lấy tên là “Tập đoàn đánh cá SôngGianh” được thành lập, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển bằngđường biển chi viện Cuối năm 1959, Tiểu đoàn 603 tổ chức chuyến thuyền vượt biểnđầu tiên vào chiến trường Khu V nhưng không thành công, do vậy Tổng Quân ủyquyết định cho Tiểu đoàn 603 ngừng hoạt động để tìm phương án mới Đầu năm
1960, cùng với phong trào Đồng khởi Bến Tre, phong trào cách mạng của các tỉnhđồng bằng Nam Bộ chuyển mạnh lên thế tiến công và trở thành cao trào đồng khởirộng khắp Để đáp ứng yêu cầu vận chuyển vũ khí, hàng hóa chi viện cho chiếntrường Nam Bộ và Nam Trung Bộ, trong khi vận chuyển đường bộ của Đoàn 559trên dãy Trường Sơn chưa vươn tới; Tổng Quân ủy tiếp tục chỉ đạo Bộ Tổng Thammưu khẩn trương nghiên cứu đề án mới về xây dựng và tổ chức lực lượng vận tảibiển chi viện cho chiến trường Nam Bộ và Khu 5; Bộ Chính trị chỉ thị cho Trungương Cục miền Nam chỉ đạo các tỉnh ven biển ở miền Trung và Nam Bộ chủ động
Trang 6chuẩn bị bến, bãi và tổ chức đưa thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò, nắmtình hình địch, nghiên cứu tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí để kịp thờicung cấp cho cách mạng miền Nam Ngày 23/10/1961, Bộ Chính trị và Quân ủyTrung ương quyết định thành lập Đoàn vận tải quân sự 759 (sau Bộ Quốc phòngquyết định đổi phiên hiệu Đoàn 759 thành Đoàn 125 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hảiquân), đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra bước phát triển mới của tuyến vận tảichiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Từ đây, đường Hồ Chí Minh trên biểnchính thức đi vào hoạt động
Sự phát triển Đường Hồ Chí Minh trên biển gồm các giai đoạn:
- Đầu tiên là giai đoạn 1962 - 1965: Táo bạo - bí mật - bất ngờ vận chuyển chiviện chiến trường, góp phần đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đếquốc Mỹ Trung tuần tháng 8/1962, Quân ủy Trung ương thông qua Nghị quyết “Mởđường vận chuyển chiến lược trên biển” Từ đây, Đoàn 759 bước vào một giai đoạnvận chuyển mới, nhận bàn giao 4 tàu gỗ từ Xưởng đóng tàu I (Hải Phòng) và tiếpnhận bổ sung cán bộ Để bảo đảm bí mật cho tuyến đường vận tải đặc biệt, nhữngchiếc tàu của Đoàn 759 phải cải hoán thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định,xen kẽ, trà trộn vào những đoàn tàu đánh cá của ngư dân địa phương trên biển, têngọi “Đoàn tàu không số” được ra đời Những con tàu không số đã kịp thời phát huyhiệu quả, trở thành tuyến chi viện chiến lược chủ yếu cho chiến trường Nam Bộ vàNam Trung Bộ
- Giai đoạn 1965 - 1973: Giai đoạn khó khăn nhất nhưng vượt lên những thửthách ác liệt, khắc phục khó khăn, tiếp tục vận chuyển chi viện cho chiến trường, gópphần tạo lên những chiến thắng oai hùng, lịch sử Giai đoạn này, cán bộ, chiến sĩĐoàn 125 phải đối mặt với những thử thách gay go, ác liệt Trong đội ngũ trung kiêncủa Đoàn, xuất hiện nhiều tấm gương hy sinh anh dũng, nhiều con tàu ra đi không trởlại, nhiều đồng chí, đồng đội đã vĩnh viễn yên nghỉ nơi biển cả mênh mông Conđường vận chuyển trên biển trở thành một kỳ tích, huyền thoại, góp phần cùng quân
và dân miền Nam đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóachiến tranh” của đế quốc Mỹ
Trang 7- Giai đoạn 1973 - 1975: Tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển đã dốctoàn bộ lực lượng và phương tiện để vận chuyển vũ khí và vật chất các loại vào cácchiến trường Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam,thống nhất đất nước Tiêu biểu là trong giai đoạn tháng 3, 4 năm 1975 Đoàn 125 đãhuy động toàn bộ lực lượng thực hiện đợt vận chuyển binh lực đột kích chủ yếu vàochiến trường (mật danh T5) và vận chuyển phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sửvới tinh thần “Thần tốc, táo bạo chở người và vũ khí vào mặt trận” Đoàn đã vậnchuyển 17.473 cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực vào chiến trường; 40 xe tăng và7.886 tấn vũ khí, nhiên liệu, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
1.2 Vị trí địa lý của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển là hải lộ ven bờ do những người trong hàngngũ Việt Minh ở Nam Bộ thực hiện lần đầu tiên với vai trò nối liền hậu phương miềnBắc xã hội chủ nghĩa với tiền tuyến lớn miền Nam, chi viện trực tiếp cho nhữngchiến trường xa nhất, khó khăn nhất là Nam Bộ, Nam Trung Bộ và vùng ven biểnKhu 5 Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển trong kháng chiến chống Mỹ cứu nướcgồm 5 tuyến đi có tổng chiều dài gần 12.000 hải lý Điểm xuất phát từ bến Nghiêng(Hải Phòng) chở hơn 30 tấn vũ khí đầu tiên, sau 9 ngày vượt biển con tàu cập bếnVàm Lũng (Cà Mau) an toàn đánh dấu một sự kiện quan trọng "đường Hồ Chí Minhtrên biển" đã được khai thông
1.3 Phát triển phương tiện và các tuyến vận tải trên biển
Để chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày 19/5/1959,Quân ủy Trung ương định thành lập “Đồn quân sự đặc biệt” có nhiệm vụ mở đường,vận chuyển vũ khí, lương thực, tổ chức đưa đón đội từ Nam Bắc và ngược lại Haiđường huyết mạch quan trọng hình thành Đó là đường 559 theo dãy Trường Sơn vàđường Hồ Chí Minh trên biển
Với tên gọi “Đoàn tàu Không số”, đường Hồ Chí Minh biển vận chuyển150.000 vũ khí, trang bị và 80.000 lượt cán vượt biển vào Nam chiến đấu Đường HồChí Minh trên biển là con đường của niềm tin tất thắng,con đường tự hào của bộ độiHải quân Nhân dân Việt Nam
Trang 81.3.1 Các đơn vị vận tải
- Đoàn 759: Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Quân ủy Trung ương Việt Namquyết định thành lập Đoàn hải quân 759, sau trở thành Lữ đoàn 125 của Hải quânNhân dân Việt Nam Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hànghóa vào chiến trường miền Nam bằng các con tàu không số, mở ra sự phát triển mớicủa Đường Hồ Chí Minh trên biển
- Đoàn 962: Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân giải phóng miềnNam Việt Nam được giao nhiệm vụ thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụchuẩn bị bến bãi tại bờ biển tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau Bộ chỉ huy các Khu V,
VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật để đón nhận vũ khí, đạn dược,phương tiện và các hàng hóa khác từ miền Bắc Việt Nam chuyển vào đường biển
- Đoàn 950: Trung đoàn vận tải 950 thuộc khu IX, Quân giải phóng miền NamViệt Nam phụ trách
+ Tuyến tiếp giáp lãnh hải
+ Tuyến hàng hải quốc tế
1.3.4 Các căn cứ và bến bãi
Căn cứ:
- Sa Huỳnh là một làng chài cổ đồng thời là bãi biển nổi tiếng ở miền Trung
Trung Bộ với nghề đánh cá từ lâu đời Trong trình hoạt động của đường Hồ ChíMinh trên biển, Sa Huỳnh là một trong những bến bãi tiếp nhận vũ khí, đạn dược,hàng hóa do các chuyến tàu không số chuyên chở từ miền Bắc gửi vào cho Quân giảiphóng miền Nam Việt Nam tại chiến trường Khu V
Trang 9- Quy Thiện thuộc Địa điểm Quy Thiện thuộc xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ,tỉnh Quảng Ngãi Đây là một trong những bến đỗ dự bị của các chuyến tàu không sốtrong trường hợp tàu bị hỏng,là nơi tránh trú khi gặp bão lớn hoặc bị hải quân ViệtNam Cộng hòa vây ráp Tháng năm 1968,tại đây diễn ra cuộc hội ngộ không hẹn màgặp giữa các cán bộ, nhân viên của Bệnh xá Đức Phổ nổi tiếng do bác sĩ Đặng ThùyTrâm lãnh đạo với các thủy thủ Tàu 43 khi tàu bị không quân hải quân Việt NamCộng hòa bắn hỏng Các thủy thủ phải đổ bộ lên bờ và được người dân trong vùng bímật đưa đến trạm xá để cứu chữa Sau đó, họ được Bộ Chỉ huy Khu V Quân giảiphóng miền Nam tổ chức vượt Trường Sơn trở lại miền Bắc.
- Cảng cá Rạch Giá là căn cứ nửa công khai, nửa bí mật của đoàn tàu haiđáy do Trung đoàn vận tải 950 thuộc Khu IX, Quân Giải phóng miền Nam Việt Namphụ trách Bến này đi vào hoạt động từ nửa sau năm 1968 Gọi là nửa công khai vì bềngoài, đây là một cảng cá, gọi là nửa bí mật vì đây là một bến tiếp nhận vũ khí vậnchuyển bằng đường biển Bến cảng này đánh dấu một phương pháp vận chuyển mới:
"trên cá, dưới súng đạn" Do tàu gỗ có cấu tạo hai đáy nên bề ngoài, nó giống nhưmột tàu đánh cá bình thường Nhưng giữa hai lớp đáy có một khoảng trống để cấtgiấu vũ khí, đạn dược và các hàng hóa khác Do sự kiểm soát gắt gao của Hải quânViệt Nam Cộng hòa khi phát hiện một tàu hai đáy bị hỏng máy và được kéo về bờ,bến này phải tạm ngừng hoạt động từ giữa năm 1973 đến đầu năm 1975, khi Chiếndịch Mùa Xuân 1975 bắt đầu được khởi động
Ngoài ra còn có căn cứ khác như: Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Gianh, Cửa Nhật
Lệ, Hố Chuối, Rạch Gốc, Bồ Đề, Rạch Tàu
Bến cảng
- K15 là bí danh được đặt tên cho bến tàu xuất phát có quy mô lớn đầu tiêncủa các con tàu không số vận chuyển người và vũ khí từ Bắc vào Nam bằng đườngbiển trong Chiến tranh Việt Nam Nó còn có tên khác là "Vạn Xét" Bến này được
mở lần đầu tiên tại các thôn Vạn Hoa và Vạn Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng), do Trungđoàn công binh 83 xây dựng Đây là một vịnh nhỏ ăn sâu vào đất liền ở bờ Đông bánđảo Đồ Sơn, Hải Phòng Vịnh này có ba phía là núi, đường ra biển duy nhất nằm ở
Trang 10hướng Tây Nam, độ sâu khoảng 3 m khi thủy triều xuống và đến 4 m khi thủy triềulên Cầu cảng được xây hình chữ T Thân chính rộng 6 m, dài 60 m; thân ngang rộng
6 m, dài 12 m Toàn bộ cầu tàu được làm bằng bê tông cốt thép dạng khung chịu lựckiểu dầm gác hai đầu Ngày 15 tháng 5 năm 1964, cầu tàu K15 bắt đầu hoạt động.Tuy ra đời sau tuyến vận tải quân sự bí mật trên biển đầu tiên từ Quảng Bình vàomiền Nam và các chuyến tàu từ miền Nam ra miền Bắc nhận vũ khí và trở lại miềnNam nhưng lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam vẫn coi đây như "Cột km số 0" củacác tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
Cầu cảng K15 đánh dấu một bước chuyển biến lớn của Đường Hồ Chí Minhtrên biển Đó là việc các tàu sắt được đưa vào sử dụng, dần thay thế cho các con tàu
gỗ kém an toàn Trong quá trình hoạt động, cảng K15 đã tổ chức xếp hàng và xuấtphát cho 88 chuyến vận tải quân sự trên biển, gồm 4.919 tấn vũ khí đạn dược và hàngnghìn tấn hàng hóa khác Do được ngụy trang rất kín đáo nên trong suốt cuộc Chiếntranh Việt Nam, không quân và hải quân Hoa Kỳ vẫn không phát hiện được cầu cảngK15 Sau nửa thế kỷ, đặc biệt từ năm 1975 đến nay không còn được hoạt động, côngtrình đã hư hại nặng Hiện nay, tại bãi biển Vạn Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng) chỉ còn lại
di tích các cọc bê tông của cầu tàu trên bến cảng quân sự bí mật K15
- Lộ Diêu: Bến này nằm trên địa bàn Hoài Hải, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình
Định Ở vào vị trí giữa đèo Lộ Diêu trong và đèo Lộ Diêu ngoài, phía Tây là núi,phía Đông là bãi biển, Lộ Diêu được chọn làm bến trung chuyển vũ khí, đạn dựoc vàhàng hóa do các con tàu không số chở từ miền Bắc vào chiến trường khu V Bến LộDiêu bắt đầu hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1964 khi đón con tàu đầu tiên chởhàng chục tấn vũ khí xuất phát từ Hòn Dấu, Hải Phòng đi vào
- Lộc An: Địa điểm này nay thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.Đây là bến xuất phát của một trong năm con thuyền gỗ đầu tiên mở tuyến đường HồChí Minh trên biển từ Nam ra Bắc và ngược lại Trong quá trình hoạt động, bến này
đã đón 3 tàu không số cập bến, vận chuyển 109 tấn vũ khí cho Quân giải phóng miềnNam Việt Nam tại Khu IX
Trang 11- Cồn Tàu: Đây là bến chính trong hệ thống bến bãi Trà Vinh, nằm ở gần cửaCung Hầu, một trong ba cửa chảy ra biển của sông Hậu, thuộc huyện Duyên Hải.Bến này bắt đầu hoạt động từ tháng 6 năm 1963 khi đón chuyến tàu sắt đầu tiên chở
44 tấn vũ khí từ Bắc vào Nam
- Thạnh Phong: Còn được những người lính của Trung đoàn vận tải 962 đặtcho biệt danh là Bến "Ông Hai Ghiền" Địa điểm này nay thuộc xã Thạnh Phong,huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Đây là nơi xuất phát của con tàu đầu tiên của ViệtMinh ở vùng Tây Nam Bộ ra Bắc xin vũ khí để tổ chức kháng chiến chống Pháp từnăm 1946 Từ năm 1961 đến năm 1962, 2 chuyến tàu của lực lượng Quân giải phóngmiền Nam Việt Nam ở Tây Nam Bộ cũng xuất phát từ đây ra Bắc xin chi viện vũ khí
và trở về an toàn Bến này cũng với các bến Cồn Tra và Cồn Lợi hợp thành một hệthống bến bãi đón nhận vũ khí, đạn dược, hàng hóa của Quân giải phóng miền NamViệt Nam tại tỉnh Bến Tre Mặc dù theo sự bố trí của Quân Giải phóng miền NamViệt Nam, Thạnh Phong thuộc khu VIII nhưng lại đóng vai trò là bến trung chuyểnlớn cho cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ trong thời kỳ đầu (1961 - 1963) Kho cấtgiữ vũ ký bí mật phục vụ cho bến Thạnh Phong được xây dựng dưới lòng đất tại xãThạnh Thới A, gần bến phà Cầu Ván, thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre Xã ThạnhThới A cũng là nơi đóng sở chỉ huy Trung đoàn vận tải 962 của Quân giải phóngmiền Nam Việt Nam tại Khu IX
- Vàm Lũng: Bến này do ông Bông Văn Dĩa (sau này là thượng tá hải quân)lựa chọn và xác định thay cho hai con lạch Bồ Đề và Rạch Gốc tuy sâu và rộng hơnnhưng dễ bị lộ hơn Địa điểm này thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Tại đây cómột con rạch lớn sâu từ 2 đến 3 m Hai bên có rừng đước rộng lớn che phủ Các tàupha sông biển cỡ nhỏ có trọng tải dưới 100 tấn có thể ra vào được và dễ dàng ẩn nấpdưới các rặng đước cao và rậm rạp Tháng 10 năm 1962, bến này bắt đầu hoạt độngkhi đón con tàu gỗ mang mật danh "Phương Đông 1" chở 30 tấn vũ khí từ miền Bắcvào cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Khu IX Trong toàn bộ thời giahoạt động, bến này đã dón 68 chuyến tàu tiếp tế từ miền Bắc vào
Trang 12Ngoài ra, còn có bến bãi khác như: Ba Làng An, Vũng Rô, Hòn Hèo, PhướcThiện, Rạch Cỏ, Khâu Lầu góp phần vào làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minhtrên biển.
Trang 13CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC CỦA VIỆT NAM
2.1 Thể hiện sự sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trước yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dướiánh sáng của Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (01/1959) và Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), cách mạng miền Nam đã chuyển hướng chiếnlược từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, lấyđấu tranh vũ trang là quyết định Theo đó, các lực lượng cách mạng chủ động tiếncông địch trên nhiều mặt trận, với nhiều quy mô, hình thức Từ thực tiễn cách mạngmiền Nam, lực lượng vũ trang chính quy của ta đã tập kết ra miền Bắc sau Hiệp địnhGiơnevơ (7/1954); Trung ương Đảng chủ trương: “Đi đôi với xây dựng lực lượngchính trị và đấu tranh chính trị, phải ra sức xây dựng lực lượng vũ trang bao gồm dânquân, du kích ở thôn, xã, bộ đội địa phương tỉnh, huyện đến bộ đội chủ lực khu,miền, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự của ba thứ quân để giúp sức đắclực cho đấu tranh chính trị”1; trong đó, chú trọng xây dựng các đơn vị vũ trang tậptrung
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng;trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền, Quân giải phóng đã khôngngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng tiếnhành thắng lợi hàng loạt trận đánh, chiến dịch ở các quy mô, hình thức, như: Ấp ưu,Núi Thành; các chiến dịch: Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài, Mậu Thân 1968, Xuân –
Hè 1972, Đường 14 – Phước Long, Tây Nguyên, Trị Thiên – Huế, Đà Nẵng và Chiếndịch Hồ Chí Minh lịch sử Tiêu hao, tiêu diệt, phá hủy nhiều lực lượng, phương tiệnchiến đấu của địch, giải phóng nhiều địa bàn, tập trung vào khu vực Nam Trung Bộ,
Trang 14Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhấtđất nước.
Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, hiệu quả của Đảng đối với cách mạng miềnNam nói chung, Quân giải phóng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nóiriêng để lại nhiều bài học quý, mang tầm chiến lược, nổi bật là:
Một là, nhận định, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, diễn biến chiến tranh làm cơ sở chỉ đạo chuyển hướng chiến lược cách mạng trong từng giai đoạn và cả cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Để đối phó với chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, trên cơ sở thế và lựcmới do cao trào đồng khởi tạo ra, Bộ Chính trị nhận định: “Trên thế giới, phong tràogiải phóng dân tộc đang lên, nhất là ở châu Á, châu Phi và Mỹ latinh, khiến cho Mỹphải phân tán lực lượng đối phó nhiều nơi; phe xã hội chủ nghĩa lớn mạnh về mọimặt nhất là Liên Xô, Trung Quốc”3 Điều đó, tạo động lực mạnh mẽ cổ vũ phongtrào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới: “Lương tri loài người đã thức tỉnh trướchọa xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới”4 Đối với nước
ta, “Thời kỳ tạm ổn của chế độ Mỹ - Diệm đã qua, thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suysụp nghiêm trọng bắt đầu, các hình thái du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần đã xuấthiện mở đầu cho cao trào cách mạng ngày càng lớn”5 Xét về mặt chiến lược, tuy tađang ở thế chủ động, Mỹ và tay sai đang ở thế bị động, nhưng Đảng ta nhận định:
“Chiến tranh sẽ mở rộng; cuộc chiến đấu sẽ ác liệt, phức tạp; đấu tranh chính trị và
vũ trang sẽ diễn ra đồng thời, nhưng từ đây đấu tranh vũ trang đóng vai trò ngày càngquyết định”6 Trên cơ sở đó, Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng từđấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, lấy đấutranh vũ trang là quyết định
Cùng với nhận định, đánh giá chính xác những hoạt động tác chiến chiến lược
có tính quy luật của địch, dự báo được tiến trình chiến tranh, Trung ương còn phântích, nắm chắc thế và lực của ta, tình hình địa hình, thời tiết, trên cơ sở đó chỉ đạochuyển hướng đấu tranh cách mạng, hạ quyết tâm, điều chỉnh ý định tác chiến chiếnlược nhằm hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch; đồng thời, phát huy sức
Trang 15mạnh tổng hợp của cả lực lượng đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, cách đánh sởtrường của lực lượng vũ trang và ưu thế vũ khí, trang bị kỹ thuật, giành thắng lợiquyết định trên từng chiến trường, kết thúc chiến tranh.
Hai là, chủ động, tích cực xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang;
mở rộng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Đầu năm 1961, trong thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn viết: “Phảigắn liền đấu tranh với xây dựng lực lượng chính trị, quân sự của ta Đi sâu củng cốcác tổ chức đảng, đoàn, các đội ngũ quần chúng cách mạng, tăng cường giáo dụcchính trị, nâng cao ý chí chiến đấu và lòng tin vào thắng lợi cuối cùng”8 Đảng ta chỉđạo Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tích cực, chủ động tập hợp lựclượng, phát triển đảng viên, đoàn viên; đẩy mạnh củng cố, xây dựng hệ thống tổ chứcđảng, đoàn thể; khẩn trương xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân(bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ), lực lượng thanh niên xungphong, biệt động Thành,… nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần,lực lượng, tầng lớp nhân dân đấu tranh toàn diện trên các lĩnh vực: quân sự, chính trị,ngoại giao, chống sự can thiệp, viện trợ của Mỹ và đồng minh đối với ngụy quyềnSài Gòn Mặt trận chú trọng tổ chức vận động, giác ngộ nhân dân, lực lượng chính trịquần chúng tham gia lực lượng vũ trang ba thứ quân, trọng tâm vào các đội vũ trang
tự vệ, dân quân du kích vừa sản xuất, vừa chiến đấu đánh địch mọi lúc, mọi nơi v.v Khi đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp vũ trang vào miền Nam, thực hiện chiến lược
“chiến tranh đặc biệt” với thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt”; thực hiệngom dân, lập “ấp chiến lược” hòng tách rời, cô lập nhân dân với Mặt trận, Ủy banTrung ương lâm thời kêu gọi nhân dân miền Nam tập trung mọi nỗ lực, kiên quyếtđánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ
Ba là, lãnh đạo, chỉ đạo Quân giải phóng tiến hành các đòn tiến công quân sự giành thắng lợi quyết định trên toàn chiến trường miền Nam.
Sau khi Quân giải phóng được thành lập, lực lượng vũ trang miền Nam nhanhchóng phát triển từ các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích, lên các tiểu
Trang 16đoàn, trung đoàn, sư đoàn chủ lực; từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến lớn bằngcác đơn vị chính quy, từng bước nâng lên tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng; từnhững trận đánh nhỏ có tính chất thăm dò, tiến tới đánh thắng những trận đánh, chiếndịch then chốt, then chốt quyết định, đập tan các chiến lược quân sự của Mỹ Dưới sựlãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng,Quân giải phóng đã phát huy vai trò nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với các tầng lớpnhân dân miền Nam tiến hành nhiều hình thức đấu tranh bằng “hai chân”, “ba mũi”,
“ba vùng”, kết hợp đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao; kếthợp tiến công với nổi dậy, tổng khởi nghĩa, tổng tiến công, tạo sức mạnh tổng hợpcủa cả dân tộc đánh bại các chiến lược: “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”,
“Việt Nam hóa chiến tranh”, tiến lên đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đếquốc Mỹ
Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng, Quân giải phóng vừa xâydựng, phát triển lực lượng tại chỗ, vừa tiếp nhận lực lượng, vật chất, hậu cần, kỹthuật từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện, đồng thời phát huy vai trò nòng cốt, xungkích tham gia chiến đấu trên toàn miền Nam Tổ chức các trận đánh, chiến dịch quantrọng, tiêu hao, tiêu diệt, làm thiệt hại lớn lực lượng, phương tiện của Mỹ và quân độiSài Gòn Trong đó, nhiều trận do bộ đội địa phương tiến hành thắng lợi, có ý nghĩachiến lược, đánh dấu bước trưởng thành nhiều mặt của lực lượng vũ trang cách mạngmiền Nam, chứng tỏ khả năng đánh thắng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xavận” và khẳng định tinh thần dám đánh và dám thắng quân Mỹ của Quân giải phóng.Cùng với đó, ta tiến hành đợt hoạt động Đông Xuân 1964 – 1965 với thắng lợi củacác chiến dịch: Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài, An Lão đã thúc đẩy phong trào chiếntranh du kích toàn miền Nam lên cao, đưa quân ngụy đến bờ vực tan rã
Đặc biệt, trong Chiến dịch Plây Me (1965), ta tổ chức vây ép đồn Plây Me,diệt đồn Chư Ho, buộc địch phải ứng cứu, giải tỏa bằng đường không xuống thunglũng Ia Đrăng – địa bàn ta đã chuẩn bị sẵn thế trận, tổ chức đánh trận then chốt quyếtđịnh, tiêu diệt gần 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại tiểu đoàn khác, buộc Sư đoàn Kỵ binhkhông vận Mỹ lần đầu ra quân đã phải rút chạy khỏi thung lũng Ia Đrăng Ta càng
Trang 17đánh càng mạnh, chủ lực Quân giải phóng liên tục phát triển với đầy đủ các quân,binh chủng, cho phép tổ chức các chiến dịch quy mô lớn, các hoạt động tác chiếnchiến lược, như: cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịchTây Nguyên, Chiến dịch Trị Thiên – Huế, Chiến dịch Đà Nẵng và Chiến dịch quyếtchiến chiến lược Hồ Chí Minh (1975) Những trận đánh, chiến dịch tiến công, phảncông quân sự và hoạt động tác chiến chiến lược trên toàn chiến trường của Quân giảiphóng cùng các hoạt động đấu tranh ngoại giao, chính trị của Trung ương và Mặttrận, đoàn thể địa phương, góp phần quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu chiếnlược: đánh cho “Mỹ cút”, đánh cho “ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam,thống nhất đất nước.
Bốn là, với tầm nhìn vượt trước, Đảng ta đã nắm, tận dụng thời cơ, lãnh đạo, chỉ đạo Quân giải phóng tổng tiến công chiến lược, kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi nhất.
Phát huy truyền thống quân sự của ông cha trong lịch sử chống giặc ngoạixâm, nhất là Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) – chiến dịch quyết chiến chiến lượckết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; nghiên cứu, nắmchắc tình hình và diễn biến cuộc chiến tranh, Đảng ta nhận thấy thời cơ kết thúc cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã chín muồi Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ 21, các cơ quan chiến lược tập trung xây dựng Kế hoạchchiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm: 1975 và 1976 Bước 1 (1975), tranhthủ yếu tố bất ngờ, tập trung lực lượng, phương tiện, vũ khí đánh địch trên phạm vilớn toàn miền Nam Bước 2 (1976), thực hiện tổng công kích – tổng khởi nghĩa, giảiphóng hoàn toàn miền Nam Tại Hội nghị của Bộ Chính trị (30/9 – 08/10/1974) bàn
về miền Nam, Đảng ta nhận định: Theo Hiệp định Pari (01/1973) quân Mỹ đang rút
về nước, ta đã hoàn thành mục tiêu đánh cho “Mỹ cút”; mặc dù Mỹ còn ý định ủng
hộ ngụy về quân sự, tài chính, nhưng khó thực hiện được mục tiêu đề ra, trong điềukiện Tổng thống Mỹ Nixon từ chức, làm cho Nguyễn Văn Thiệu và ngụy quyền SàiGòn khủng hoảng về chính trị, tinh thần, sa sút về ý chí; Mỹ khó có khả năng quaylại Việt Nam và nếu có quay lại thì cũng không làm xoay chuyển được tình hình
Trang 18Trên cơ sở đó, Đảng ta khẳng định chủ trương kết thúc chiến tranh là đúng đắn, nhiềuthuận lợi và có tính khả thi cao.
Trong nước, quân ngụy đang suy yếu, lo chống đỡ các đòn tiến công của chủlực Quân giải phóng, thế và lực của cách mạng đang phát triển mạnh mẽ, toàn diện,đây là thời cơ để kết thúc chiến tranh: “Lúc này chúng ta đang có thời cơ Hai mươinăm chiến đấu mới tạo được thời cơ này”12, cần phải kịp thời nắm lấy để “hoàn toàngiải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ ngoài thời cơ này không có thời cơ nào khác Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa,bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được phục hồi, thì tình hình sẽphức tạp vô cùng”13 Vì vậy, chúng ta phải tranh thủ, tận dụng thời cơ tổng tiến công
và nổi dậy để đánh cho “ngụy nhào” Sau khi ta giành thắng lợi nhanh chóng, áp đảoquân địch trong các Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Trị Thiên – Huế và Chiếndịch Đà Nẵng, Trung ương Đảng quyết định tận dụng thời cơ này, đẩy thời gian giảiphóng miền Nam vào năm 1975, sớm hơn so với quyết tâm ban đầu Đồng thời, chỉđạo các đơn vị chủ lực miền Bắc khẩn trương tăng cường cho chiến trường miềnNam theo phương châm vừa hành quân, vừa chiến đấu, với tinh thần “đi nhanh đến,đánh nhanh thắng” và khí thế “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” Đại tướng VõNguyên Giáp chỉ đạo: “Một ngày bằng 20 năm, thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo,táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới giải phóng miền Nam, thốngnhất đất nước”
Cuối tháng 3, đầu tháng 4/1975, ta đã hội tụ đầy đủ các yếu tố về ý chí quyếttâm, lực lượng (chính trị, quân sự, quần chúng nhân dân), phương tiện, công tác chỉhuy, bảo đảm,… để tiến lên giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam Ngày14/4/1975, Bộ Chính trị đã thông qua Kế hoạch giải phóng Sài Gòn mang tên Chiếndịch Hồ Chí Minh Chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng diễn ra trong thờigian ngắn và đi đến toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; giảiphóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối Kết quảnày khẳng định mưu lược, tài nghệ chính trị - quân sự của Đảng ta trong nắm và tậndụng thời cơ kết thúc chiến tranh
Trang 19Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với cách mạng miền Nam nói chung vàQuân giải phóng miền Nam Việt Nam nói riêng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý
về tiến hành chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân Việt Nam; nổi bật là bàihọc về tầm nhìn chiến lược và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với Quân giảiphóng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Bài học đó đến nay vẫn cònnguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, cần tiếp tục được nghiên cứu, phát triểntrong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
2.2 Tuyến vận chuyển chiến lược của trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Giai đoạn 1962 – 1965: Kịp thời và hiệu quả
Đêm 12-10-1962, chiếc tàu “Phương Đông 1” gồm 10 thủy thủ dưới sự chỉ huycủa thuyền trưởng Lê Văn Một chính trị viên Bông Văn Dĩa chở hơn 30 tấn vũ khírời bến k15, Đồ Sơn (Hải Phòng) đi về phương Nam Đến sáng ngày 19-10-1962, tàuvào tới Chùm Gọng (Vàm Lũng, Tân An) an toàn Tàu “Phương Đông 1” đã đi vàolịch sử, chính thức khai thông tuyến vận tải quân sự đường biển - Tuyến vận tải chiếnlược - Sau chuyến đi thành công của tàu “Phương Đông 1”, ba chiếc tàu khác cũng
đã cập bến Cà Mau an toàn; cùng với các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa hình thànhcác cụm bến đón nhận những chuyến hàng đầu tiên của tuyến vận tải Đường Hồ ChíMinh trên biển
Sau một thời gian chuẩn bị và đi chuyến đầu tiên thành công, từ tháng 9 12/1962, Đoàn 759 đã tổ chức 4 tàu vỏ gỗ, chuyển được 119 tấn vũ khí, đạn cập bến
-Bồ Đề (Cà Mau) an toàn Năm 1963, Đoàn 125 bắt đầu sử dụng cả tàu vỏ sắt và vỏ
gỗ, chuyển 23 chuyến vũ khí vào cả 4 bến của Nam Bộ (trong đó có 3 chuyến hàngkhông tới đích); năm 1964 chuyển được 59 chuyến hàng
Trong thời gian này tuyến đường Trường Sơn trên bộ (được thành lập từ tháng
5 năm 1959), tuy đã rất khẩn trương tiến hành soi đường, gùi hàng, vũ khí vào chiếntrường Nhưng những năm đầu do địa hình phía Đông Trường Sơn quá hiểm trở, mặtkhác lại bị địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt, nên hoạt động đã gặp nhiều khókhăn…
Trang 20Trong khi đó tuyến vận tải trên biển đã nhanh chóng sớm phát huy được hiệuquả, nên thời kỳ đầu (1962 - 1965), những con tàu không số đã kịp thời phát huy hiệuquả, trở thành tuyến chi viện chiến lược chủ yếu cho chiến trường Nam Bộ và NamTrung Bộ Đã có 89 chuyến tàu chở 4.419 tấn hàng (chủ yếu là vũ khí, đạn dược)chuyển vào Khu 5 và chiến trường Nam Bộ từ tháng 9/1962 đến tháng 2/1965.
Giai đoạn 1965 – 1973
• Thời kỳ (1965-1968): Từ sau Sự kiện Vũng Rô, bị mất đi yếu tố bí mật, độitàu vận tải phải đi xa bờ và chuyển sang hình thức “lừa miếng” - đi bằng phươngpháp hàng hải thiên văn
• Thời kỳ (1968 - 1969): Chuyển sang phương án vận chuyển gián tiếp
• Thời kỳ (1969 - 1972): Tiếp tục phương án vận chuyển trực tiếp
Từ tháng 2-1965 đến tháng 1-1973 là giai đoạn khó khăn nhất nhưng hết sứchào hùng của tuyến chi viện chiến lược trên biển Sau sự kiện xảy ra với tàu C143 ởVũng Rô (Phú Yên), yếu tố bí mật của tuyến chi viện chiến lược trên biển của ViệtNam không còn nữa Nhưng công việc tiếp tế cho miền Nam bằng đường biển vẫnphải tiếp tục, buộc quân Giải phóng phải chuyển hướng vận chuyển từ phương thứctrực tiếp sang phương thức gián tiếp
Bằng phương pháp vận chuyển này, trong một năm (từ 1-11-1968 đến 1969), lực lượng vận tải biển đã đưa vào cảng sông Gianh 21.737 tấn vũ khí Từ đây,
31-10-số vũ khí này được chuyển vào Nam theo đường bộ Ngoài ra, trong giai đoạn này,cán bộ chiến sĩ Đoàn 125 còn tham gia chiến dịch vận tải VT5 - Vận tải tranh thủ tụtthang (từ tháng 11-1968 đến năm 1969), cùng các lực lượng trong và ngoài quân độivận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăng dầu… từ Hải Phòng vào cáctỉnh Nam Khu 4, tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiến lược trên bộ (Đoàn 559)Tính chung, trong 4 năm (1965-1968), tuyến đường trên biển tổ chức được 27chuyến tàu, song chỉ có 7 chuyến đến đích, giao được 410,4 tấn hàng (chủ yếu choNam Bộ), 11 chuyến phải quay trở lại miền Bắc do nhiều nguyên nhân, 6 chuyếnphải tự phá hủy tàu để tránh bị địch thu giữ, 3 chuyến bị địch chiếm tàu Trước tìnhhình đó, Việt Nam đã tranh thủ sự giúp đỡ của Vương quốc Campuchia, chuyển