1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

5 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 173,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục Việt Nam hiện nay nói chung và giáo dục đại học nói riêng đang không ngừng tiếp thu, học hỏi và đổi mới. Do đó ngành giáo dục đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần phát triển đội ngũ tri thức của cả nước, đào tạo ra nguồn nhân lực cho các ngành nghề và là một phần không thể thiếu trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế xã hội và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, nền giáo dục vẫn còn những mặt hạn chế và những điểm yếu kém cần khắc phục.

Trang 1

Đề bài

Theo anh/chị những thành tựu, hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là gì? Anh/chị hãy đề xuất giải pháp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới Liên hệ thực tiễn một giải pháp tại cơ sở anh/chị đang công tác hoặc cơ sở anh/chị quan tâm

****************************

Bài làm

Theo em, giáo dục Việt Nam hiện nay nói chung và giáo dục đại học nói riêng đang không ngừng tiếp thu, học hỏi và đổi mới Do đó ngành giáo dục đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần phát triển đội ngũ tri thức của cả nước, đào tạo ra nguồn nhân lực cho các ngành nghề và là một phần không thể thiếu trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc

tế Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, nền giáo dục vẫn còn những mặt hạn chế

và những điểm yếu kém cần khắc phục

I Thành tựu của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

1 Giáo dục đại học được phổ biến tới toàn dân, số lương người học đại học không ngừng gia tăng qua các năm

Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2019 của Tổng cục thống kê, toàn quốc có

tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng lên đáng kể so với năm 2009, tăng 5,9 điểm phần trăm (năm 2009: 13,3%) Tỷ lệ dân số có trình độ đại học trở lên tăng mạnh nhất, gấp hơn hai lần so với năm 2009 (năm 2009: 4,4%) Điều này chứng minh rằng trong 10 năm qua, giáo dục đại học và trên đại học của Việt Nam đã có những bước chuyển mình, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Năm học 2018-2019, cả nước có hơn 23,5 triệu học sinh, sinh viên, tăng hơn một triệu

về số lượng so với năm học trước

Trang 2

Nguồn: Báo nhân dân (2019)

2 Chất lượng giáo dục không ngừng được nâng cao

Sau một thời gian thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, số lượng nghiên cứu công bố quốc tế, chất lượng của đội ngũ giảng viên

và chất lượng sinh viên đại học - sau đại học có những cải biến đáng kể so với quá khứ

Bộ GD&ĐT đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ; trong

đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo Chất lượng đầu ra của người học về chuyên môn, ngoại ngữ cũng như tin học đều đáp ứng được yêu cầu cao hơn so với trước đây Đặc biệt về ngoại ngữ, đến nay đã có những bước tiến quan trọng: chuẩn đầu ra về ngoại ngữ bậc đại học là B1, với các chương trình quốc tế, tài năng, chất lượng cao sinh viên còn đạt chuẩn đầu ra cao hơn; chuẩn đầu vào với thạc sĩ là B1 và B2 với nghiên cứu sinh Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo còn chuyển hướng theo hướng chú trọng đổi mới sáng tạo, trang bị kiến thức về các kỹ năng mềm, kỹ năng thực tế và khởi nghiệp cho người học Những phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu xuất sắc,

có vai trò dẫn dắt trong hoạt động khoa học công nghệ của quốc gia đã được thành lập

và đi vào hoạt động

3 Hội nhập, liên kết với các đơn vị đào tạo nước ngoài và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế

Trang 3

Đến nay, hầu hết các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam đều đã có đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng; ngoài ra phải kể đến có 5 trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục đã được thành lập và được cấp phép hoạt động

Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước đã có 149 cơ sở giáo dục đại học và 9 trường cao đẳng đạt tiêu chuẩn kiểm định theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam, chiếm khoảng 55% tổng số các trường đại học cả nước 7 trường đại học được công nhận và đánh giá cao bởi các tổ chức đánh giá/kiểm định quốc tế (HCERES, AUN-QA) Có 145 chương trình đào tạo của 43 trường được đánh giá và công nhận theo tiêu chuẩn trong nước; 195 chương trình đào tạo của 32 trường được đánh giá, công nhận theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng và dần đáp ứng đầy đủ các tiêu chí công nhận của khu vực và thế giới Tới nay, hoạt động kiểm định đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là các cấp quản lý giáo dục, các nhà trường được tiếp cận với mô hình quản lý hiện đại, tiên tiến

4 Chuyển dịch nhanh và mạnh mẽ, là tiền đề của cách mạng công nghiệp 4.0

Bên cạnh các chương trình đào tạo chuẩn, theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và đào tạo, các trường cũng đã tích cực triển khai các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến, chất lượng cao để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao Đội ngũ giảng viên tham gia các chương trình này là những giảng viên ưu tú của Việt Nam và một số giảng viên nước ngoài, nhằm phát triển quốc tế hóa chương trình đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực toàn cầu Bên cạnh đó, với chương trình 322, 911, hàng nghìn trí thức trẻ, ưu tú đã được đi học và tiếp thu các bậc học cao ở nước ngoài

II Hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

1 Thiếu các nghiên cứu khoa học mang tính quốc tế, thiếu sự phối hợp và liên kết với các tổ chức khác

Hiện nay chưa có nhiều nhà khoa học tại các trường đại học Việt Nam đoạt giải thưởng cao và chứng nhận quốc tế; chưa có nhóm nghiên cứu mạnh của hệ thống các trường đại học ở Việt Nam tham gia các chương trình nghiên cứu lớn tầm quốc tế Trong nghiên cứu khoa học (NCKH) sự hợp tác giữa các trường đại học trong nước với nhau, với các công ty và tổ chức nghiệp vụ còn hạn Nguồn lực, nguồn vốn đầu tư cho giáo dục, trang thiết bị còn sơ sài Sự hợp tác quốc tế của các trường về khoa học công nghệ (KHCN) còn mang tính hình thức, hiệu quả kém; thiếu sự góp mặt của các

Trang 4

nhà khoa học quốc tế Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các trường ĐH và các doanh nghiệp đang là một tồn tại lớn, dẫn đến giáo dục đại học xa rời thực tế, thiếu tính cập nhật và sáng tạo mà ngành nghề yêu cầu

2 Thiếu vốn để cải cách và phát triển, đầu tư cho dịch vụ giáo dục còn chưa thu hút được sự quan tâm từ các quỹ/công ty/cơ sở nghiên cứu

Nguồn thu từ học phí của các trường đại học mới chỉ đảm bảo một phần chi phí thường xuyên của trường, trong khi đó, nguồn NSNN cấp cho chi thường xuyên đang ngày càng giảm dần trong tiến trình tiến đến tự chủ hoàn toàn chi thường xuyên Đa số các trường còn hạn chế trong nghiên cứu và triển khai nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, trực tiếp giải quyết những vấn đề thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, nguồn thu từ hoạt động NCKH và ứng dụng của các trường còn rất hạn chế Các trường chưa có chính sách tích cực trong thúc đẩy mối liên kết giữa trường học, viện nghiên cứu với các đơn vị kinh tế, chưa gắn kết công tác đào tạo, NCKH với thực tiễn đời sống sản xuất kinh doanh để gia tăng nguồn thu

3 Chưa có hệ thống quản trị, quản lý kết nối khai thác dữ liệu ngành phục vụ công tác đào tạo

Hệ thống quản lý, quản trị, kết nối, khai thác dữ liệu ngành phục vụ công tác quản lý, điều hành, dạy học còn chưa đồng bộ; một số nơi hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị kết nối còn thiếu, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế

-xã hội khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số Các trường đại học cùng ngành chưa có cơ sở dữ liệu truy cập chung, mối liên kết và hợp tác giáo dục còn lỏng lẻo dẫn đến nhiều nguồn thông tin và tri thức quý giá chưa kịp cập nhật đã lỗi thời, không được phổ biến rộng ra cộng đồng

4 Công tác truyền thông giáo dục còn nhiều hạn chế

Theo Bộ trưởng Phùng Ngọc Nhạ, công tác truyền thông về giáo dục tại Việt Nam còn hạn chế, chưa tạo được đồng thuận cao trong xã hội khi bắt đầu triển khai nhiều chủ trương, chính sách mới của ngành Truyền thông nội bộ ngành chưa hiệu quả, còn những ý kiến trái chiều ngay trong đội ngũ giáo viên khi triển khai chính sách mới Sự không thống nhất trong phương hướng hành động này dẫn đến những đổi mới chưa thực sự hiệu quả

III Giải pháp để phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới

• Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý chất lượng đào tạo

• Đa dạng hóa nguồn lực tài chính

Trang 5

• Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào dạy và học

• Có chính sách đẩy mạnh sự hợp tác, liên kêt giữa các trường đại học với nhau, với cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp

IV Liên hệ tại cơ sở đào tạo mình học

Em đang học Thạc sỹ tại một trường đại học tư thục Nhật Bản theo diện học bổng của trường Vì là trường tư nên trường đã làm rất tốt giải pháp thứ 2, đa dạng hóa nguồn lực tài chính Tức là làm dịch vụ giáo dục – giáo dục cũng là một cách đầu tư

Là một thành viên liên kết trong hệ sinh thái lớn của tập đoàn Aeon, trường góp phần đào tạo nguồn nhân lực, các nhà quản lý chất lượng cao cho tập đoàn lớn của Nhật Bản Aeon Đổng thời trường cũng có cơ sở nghiên cứu riêng thu thập về dữ liệu khách hàng, phân tích và báo cáo những thay đổi trong hành vi người tiêu dùng giúp các công ty liên kết của mình đưa ra chiến lược kinh doanh tối ưu nhất Do đó, trường tạo

ra một sơ sở dữ liệu nghiên cứu khổng lồ và cũng nhận được nguồn vốn đầu tư lớn từ các công ty và tổ chức cùng ngành

Song song với đó là chính sách liên kết với các trường đại học nước ngoài, thu hút sinh viên quốc tế Do các công ty liên kết với trường là các công ty đa quốc gia và cũng hướng tới các thị trường nước ngoài nên việc đào tạo ra nguồn lực có thể lý giải hành vi tiêu dùng và hiểu thấu đáo thị trường nước ngoài là rất quan trọng Ngoài ra, nguồn nhân lực quốc tế này còn giúp trường trở thành một trường đa văn hóa, năng động, sáng tạo và có nhiều phát kiến mới

****************************

Ngày đăng: 19/09/2022, 20:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w