1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5

17 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hương, PTS.
Trường học Trường Tiểu học Ngọc Trạo
Chuyên ngành Toán học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng chuyển động đều cho học sinh lớp 5

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta ta đã biết Kiến thức toán ở bậc Tiểu học là cơ sở và nền tảng để các em tiếp cận được với môn Toán ở bậc học cao hơn, đồng thời nó sẽ theo các em suốt quãng đời học tập và công tác về sau

Ở tiểu học, trong năm mạch kiến thức thuộc nội dung môn toán thì việc dạy giải toán có lời văn là mức cao nhất của hoạt động tư duy, đòi hỏi học sinh phải tập trung trí tuệ, huy động tất cả vốn trí thức về toán học của cuộc sống vào hoạt động dạy toán Đây là sự vận dụng có tính chất tổng hợp các kĩ năng, phương pháp mà học sinh đã được học

Trong chương trình môn Toán Tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng Thông qua việc giải toán, học sinh Tiểu học thấy được nhiều khái niệm trong Toán học như các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học, đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm Qua việc giải toán sẽ rèn luyện cho học sinh năng lực

tư duy và những đức tính của con người mới, có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm và độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những

ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt được và khắc phục những mặt thiếu sót

Đối với lớp 5, dạy giải toán có lời văn chủ yếu là hướng vào các bài toán điển hình Trong quá trình giải có những bài toán ở mỗi dạng khi thay đổi một vài điều kiện của đề bài sẽ tạo nên rất nhiều tình huống toán học khác nhau, từ đó dẫn đến phương pháp giải cũng vô cùng phong phú, đa dạng, hấp dẫn và nó hoàn toàn tuỳ thuộc vào năng lực toán của mỗi học sinh và mức độ hướng dẫn của mỗi giáo viên Chính vì vậy, hướng dẫn học sinh lựa chọn phương pháp giải toán phù hợp

là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên trong quá trình dạy học toán

Trong thực tế dạy học giải toán ở các trường Tiểu học hiện nay thì việc hướng dẫn học sinh về phương pháp giải toán đối với từng dạng toán có lời văn điển hình đã được rất nhiều giáo viên quan tâm Song kết quả giải toán của học sinh chưa cao, học sinh còn nhầm lẫn các dạng toán với nhau Đặc biệt ở lớp 5

với các dạng toán điển hình như: “Toán về chuyển động đều” là dạng toán rất

trừu tượng đối với học sinh

Là một giáo viên tiểu học, khi được nhà trường phân công phụ trách lớp 5A tôi rất trăn trở về vấn đề này - Chính vì vậy trong năm học năm 2021 - 2022, tôi

đã đi sâu tìm tòi và nghiên cứu cách dạy toán mà đặc biệt là giải toán có lời văn.

Nhằm giúp các em tháo gỡ khó khăn khi học toán nên tôi mạnh dạn nghiên cứu và

Trang 3

đưa ra sáng kiến: "Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng

chuyển động đều cho học sinh lớp 5" trường Tiểu học Ngọc Trạo nhằm góp

phần nâng cao chất lượng dạy học toán hiện nay ở nhà trường

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên thực trạng dạy và học môn Toán ở lớp 5 nói chung, dạy học sinh giải bài toán "chuyển động đều" nói riêng, tôi muốn đưa ra một vài ý kiến đổi mới để giúp các em nắm chắc được cách giải dạng toán này một cách chính xác, tránh sự nhầm lẫn, giúp các em nắm vững kiến thức và yêu thích môn Toán hơn

Từ đó, các em có vốn kĩ năng tính toán nhanh, chính xác ở những lúc cần thiết trong cuộc sống, tránh được những sai sót có thể xảy ra Tạo cho các em có tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn thận, tự tin

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 5 trường Tiểu học trong năm học

2021 - 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp điều tra, quan sát

- Phương pháp thảo luận

- Phương pháp kiểm tra, thống kê kết quả

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 4

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lý luận.

Hiện nay, giáo dục Tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạy học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả” Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi Tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và của Ngành Giáo dục nói riêng, đòi hỏi chất lượng học toán cần được nâng cao Trong chương trình toán lớp 5, thì giải toán có lời văn đóng một vai trò hết sức quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến môn Toán nói riêng và các môn học khác nói chung

Ở lớp 5, học sinh được học và ôn tập nhiều dạng toán điển hình, trong đó

có dạng toán “chuyển động đều” Loại toán này học sinh được học trong 9 tiết

đó là:1

Tiết 1: Vận tốc : Học sinh biết và vận dụng tìm được vận tốc của một chuyển động đều Ghi nhớ được công thức: (v = s : t Trong đó gọi v là vận tốc,

s là quãng đường, t là thời gian)

Tiết 2: Luyện tập

Tiết 3: Quãng đường: Học sinh biết và vận dụng tìm được quãng đường của một chuyển động đều Ghi nhớ được công thức: (s = v x t Trong đó gọi v là vận tốc, s là quãng đường, t là thời gian)

Tiết 4: luyện tập

Tiết 5: Thời gian: Học sinh biết và vận dụng tìm được thời gian của một chuyển động đều Ghi nhớ được công thức: (t = s : v Trong đó gọi v là vận tốc,

s là quãng đường, t là thời gian)

Tiết 6: luyện tập

Tiết 7,8,9: luyện tập chung

Dạy giải toán có lời văn bài “chuyển đông đều” cho học sinh lớp 5 với

mục tiêu là:

Học sinh biết giải các bài toán hợp không quá 4 bước tính liên quan đến các dạng toán điển hình

Biết trình bày bài giải đầy đủ gồm các câu lời giải (mỗi phép tính đều có lời văn) và đáp số theo đúng yêu cầu của bài toán

Đối với học sinh hoàn thành tốt phải tìm được nhiều cách giải một bài toán nếu có

Do đó, để dạy tốt được môn Toán nói chung và dạng toán này nói riêng, người giáo viên phải có sự đổi mới phương pháp dạy học, có khả năng lựa chọn, vận dụng phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, người giáo viên phải có vốn kiến thức vững chắc nhằm hình thành tốt các khái niệm ban đầu

1 SGK Toán 5

Trang 5

giúp học sinh nắm được từng mạch kiến thức của môn Toán ở Tiểu học

2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

2.1 Thực trạng chung

Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp Việc hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ năng tính vì bài toán

là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm, quan hệ toán học Giải toán không chỉ là nhớ mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý nghĩa của phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, biết làm tính thông thạo Chính vì vậy dạy và học tốt về giải bài toán có lời văn

có ý nghĩa quyết định thành công của dạy và học môn Toán

Trong thực tế giảng dạy môn Toán – dạng bài toán chuyển động đều thì

bản thân tôi và học sinh cũng gặp nhiều khó khăn như sau:

2.1.1 Giáo viên

Qua dự giờ, tham khảo ý kiến của bạn bè đồng nghiệp, tôi nhận thấy thực

tế trong quá trình giảng dạy giáo viên còn bộc lộ một số nhược điểm như:

Chưa khắc sâu kiến thức cơ bản Khi dạy, giáo viên thường áp dụng vào sách, chưa biến tri thức của sách thành tri thức của riêng mình

2.1.2 Học sinh

- Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều: một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính

- Đa số học sinh xem môn Toán là môn học khó khăn, dễ chán

- Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán

2.2 Kết quả thực trạng trên

Từ thực trạng trên mà kết quả môn Toán chưa cao Riêng phần giải toán

dạng “Toán về chuyển động đều”còn ở mức thấp Để có cơ sở xây dựng kinh

nghiệm, tôi đã tiến hành khảo sát lớp 5B ở trường tôi như sau: Cụ thể kết quả kiểm tra môn Toán của lớp 5B cuối năm học 2020 - 2021 là:

- Tổng số học sinh được khảo sát: 35 học sinh

Bài 1: (3 điểm) (Bài 2, trang 145 – SGK)

Một ca nô đi từ A đến b với vận tốc 12 km/giờ Ca nô khởi hành lúc 7 giờ 30 phút và đến B lúc 11 giờ 15 phút Tính độ dài quãng đường AB ?

Bài 2: (3 điểm) (Bài 1, trang 146 – SGK)

Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12 km/giờ Sau 3 giờ một xe máy cũng đi từ A đến B với vận tốc 36 km/giờ Hỏi kể từ lúc xe máy bắt đầu đi, sau bao lâu xe máy đuổi kịp xe đạp

Bài : (4 điểm) (Bài 1, trang 168 – SGK)

Một người đi xe đạp trong 3 giờ, giờ thứ nhất đi được 12 km, giờ thứ hai đi

2 SGK Toán 5

Trang 6

được 18 km, giờ thứ ba đi được quãng đường bằng nửa hai giờ đầu Hỏi trung bình mỗi giờ người đó đi được bao nhiêu ki – lô – mét ?

- Kết quả thu được như sau:

Bảng 1:

Năm học số HS Tổng

Kết quả xếp loại Điểm 9;10 Điểm 7; 8 Điểm 5; 6 Điểm dưới 5

Bảng 2:

Năm học

Tổng

số HS 35

Nội dung

Số HS phân tích được đề, xác định đúng dạng toán

Số HS thiết lập được các dữ kiện để xây dựng quy trình giải

Số HS trình bày hoàn chỉnh bài giải đúng và đẹp

Thông qua chất lượng khảo sát, tôi nhận thấy khi giải toán học sinh còn mắc nhiều lỗi sai, để giúp học sinh có kĩ năng giải bài toán “chuyển động đều ”

ở lớp 5 đạt hiệu quả, bản thân tôi đã thực hiện và tổ chức các hoạt động như sau

3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

3.1 Nhóm các giải pháp

- Cho học sinh nhận biết các yếu tố của bài toán.

- Phân loại bài toán có lời văn.

- Hình thành và phát triển các năng lực quan sát, ghi nhớ, tuởng tuợng, tư

duy qua các bài toán

3.2 Biện pháp tiến hành

Biện pháp 1: Cho học sinh nhận biết các yếu tố của bài toán.

a) Cho học sinh nhận biết nguồn gốc thực tế và tác dụng phục vụ thực tiễn

cuộc sống của bài toán

Ví dụ: Một xe máy đi trong 3 giờ được 105 km Tìm vận tốc của người đi

xe máy (Trang 139 – SGK Toán 5)

b) Cho học sinh nhận rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại lượng.

Ví dụ: Khi giải bài toán chuyển động đều, học sinh dựa vào “cái đã cho”,

“cái phải tìm” và mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian để tìm đại lượng chưa biết

Trang 7

c) Tập cho học sinh biết xem xét các đối tượng toán học và tập diễn đạt

các kết luận dưới nhiều hình thức khác nhau

Ví dụ: “Vận tốc xe đi từ A bằng vận tốc xe đi từ B” cũng có nghĩa là

“vận tốc xe đi từ B gấp 3 lần vận tốc xe đi từ A”; hay “thời gian xe lúc đi bằng thời gian lúc về” cũng có nghĩa là “thời gian lúc về gấp rưỡi thời gian lúc đi” hoặc “thời gian lúc về bằng 1,5 thời gian lúc đi”…

Biện pháp 2: Phân loại bài toán chuyển động đều

a) Phân loại theo đại lượng:

Để giải được bài toán thì học sinh phải hiểu đề bài, hiểu các thành phần của

nó Những cái đã cho và những cái cần tìm thường là những số đo đại lượng nào đấy được biểu thị bởi các phép tính và các quan hệ giữa các số đo Dựa vào đó

mà có thể phân loại các bài toán Với mỗi loại đại lượng có một loạt bài toán có lời văn về đại lượng đó như:

* Các bài toán về tính vận tốc

* Các bài toán về tính quãng đường

* Các bài toán về tính thời gian

b) Phân loại theo số phép tính:

* Bài toán đơn: Là bài toán mà khi giải chỉ cần một phép tính - ở lớp 5, loại

này thường dùng nêu ý nghĩa thực tế của phép tính, nó phù hợp với quá trình nhận thức

Ví dụ: Để dạy phép cộng số đo thời gian, có bài toán “Một ô tô đi từ Hà Nội đến Thanh Hoá hết 3 giờ 15 phút, rồi đi tiếp đến Vinh hết 2 giờ 35 phút Hỏi

ô tô đó đi cả quảng đường từ Hà Nội đến Vinh hết bao nhiêu thời gian?

(Ví dụ 1- trang 131 sách Toán 5)

Từ bản chất bài toán, học sinh hình thành phép cộng:

3 giờ 15 phút + 2 giờ 35 phút = 5 giờ 50 phút

* Bài toán hợp: Là bài toán mà khi giải cần ít nhất 2 phép tính trở lên Loại bài toán này dùng để luyện tập, củng cố kiến thức đã học Ở lớp 5, bài toán này

có mặt ở hầu hết các tiết học toán

Hai cách phân loại này đóng vai trò không nhỏ trong quá trình dạy học

Biện pháp 3: Hình thành và phát triển các năng lực quan sát, ghi nhớ,

tưởng tượng, tư duy qua các bài toán:

a) Dạy học sinh biết quan sát các mô hình, sơ đồ, từ đó cũng dễ dàng tìm ra

cách giải

Ví dụ: Một người đi xe đạp từ B đến C với vận tốc12 km/giờ, cùng lúc đó một người đi xe máy từ A đến B với vận tốc 36 km/giờ và đuổi theo xe đạp

(xem hình dưới đây) Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp xe đạp?

S

A B C

v2  v1 

Ví dụ: Một ô tô đi được một quãng đường dài 170 km hết 4 giờ Hỏi trung

Trang 8

bình mỗi giờ ô tô đó đi được bao nhiêu ki – lô – mét?

? km

180 km

Vì đây là dạng toán trừu tượng đối với học sinh nên khi vẽ sơ đồ minh họa học sinh sẽ dễ hiểu bản chất bài toán và dễ dàng tìm ra cách giải

c) Phát triển trí tưởng tượng của học sinh qua các bài toán có lời văn

Ví dụ: Ở bài toán về chuyển động đều cùng chiều, khi 2 đối tượng chuyển động đuổi kịp nhau thì học sinh phải biết được là đối tượng có vận tốc lớn hơn

đã đi hơn đối tượng có vận tốc nhỏ một khoảng cách đúng bằng khoảng cách ban đầu của hai đối tượng chuyển động

d) Tập cho học sinh quen với các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so

sánh, trừu tượng hoá, khái hóa, cụ thể hóa

Học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, hình vẽ là dịp để kết hợp các thao tác trừu tượng hoá và cụ thể hoá Trong quá trình giải bài tập, học sinh phải vận dụng một cách tổng hợp nhiều thao tác tư duy và đây chính là mặt mạnh của việc dạy toán qua giải các bài toán có lời văn

Ví dụ 1: Một ô tô đi được quãng đường dài 170km hết 4 giờ Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô đó đi được bao nhiêu kí-lô-mét? (Toán 5 - trang 138)

Tóm tắt ? km

170 km

Bài giải Trung bình mỗi giờ ô tô đi được là:

170 : 4 = 42,5 (km)

Đáp số : 42,5 km

* Cách giải cụ thể bài toán ở dạng “Toán chuyển động đều ”

Đối với dạng toán này, có các dạng bài nổi bật sau:

a Loại toán chuyển động thẳng đều có 1 đối tượng chuyển động:

Đầu tiên giáo viên giới thiệu sơ lược khái niệm vận tốc giúp học sinh biết

được ý nghĩa của đại lượng vận tốc: Vận tốc của một chuyển động cho biết

mức độ chuyển động nhanh hay chậm của chuyển động đó trong một đơn vị thời gian.

- Vận dụng các công thức theo sơ đồ sau:

t = s : v

Trang 9

v = vận tốc; s = quãng đường; t = thời gian

Như vậy, khi biết hai trong ba đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian ta có thể tính được đại lượng thứ ba nhờ các công thức trên

Ví dụ: Một xe máy đi qua chiếc cầu dài 1250m hết 2 phút Tính vận tốc của xe máy với đơn vị km/giờ (Toán 5- trang 144)

Hướng dẫn cách giải:

- Gọi 1 học sinh đọc đề bài

- Giáo viên : Phân tích đề bài, tìm hướng giải

Bài giải

Cách 1: Vận tốc của xe máy là:

1250 : 2 = 625 m/phút

625 m/phút = 0,625 km/phút

Vận tốc của xe máy tính ra km/giờ là:

0,625 x 60 = 37,5 (km/giờ)

Đáp số: 37,5 km/giờ

Cách 2: 1250 m = 1,25 km

2 phút =

30

1

giờ Vận tốc của xe máy là:

1,25 : 301 = 37,5 (km/giờ)

Đáp số: 37,5 km/giờ

- Qua các thao tác hướng dẫn trên, tôi đã hình thành dần kĩ năng giải toán cho học sinh trong các giờ dạy toán đối với tất cả các dạng bài Từ phương pháp dạy như trên, giáo viên có thể áp dụng với tất cả những loại bài như sau:

* Chuyển động trên dòng nước: Ta vận dụng theo công thức:

- Vận tốc xuôi dòng = Vận tốc thực + Vận tốc dòng nước

- Vận tốc ngược dòng = Vận tốc thực - Vận tốc dòng nước

- Vận tốc xuôi dòng - Vận tốc ngược dòng = Vận tốc dòng nước

Ví dụ 1: Một chiếc thuyền có vận tốc khi nước lặng là 12km/giờ Nếu dòng

nước có vận tốc là 3km/giờ Hãy tính:

- Vận tốc khi thuyền xuôi dòng

s = v x t

Trang 10

- Vận tốc của thuyền khi ngược dòng.

Hướng dẫn cách giải:

- Yêu cầu học sinh vận dụng công thức để tính

- Vận tốc khi thuyền xuôi dòng:

12 + 3 = 15 km/giờ

- Vận tốc của thuyền khi ngược dòng:

12 - 3 = 9 km/giờ

Đáp số : Xuôi dòng 15 km/giờ

Ngược dòng 9 km/giờ

Ví dụ 2: Một chiếc thuyền xuôi dòng từ A đến B với vận tốc 27 km/giờ Tính vận tốc của thuyền khi ngược dòng, biết vận tốc của thuyền gấp 8 lần vận tốc dòng nước

Hướng dẫn cách giải:

- Giáo viên: Gọi 1 học sinh đọc đề bài

- Giáo viên: Yêu cầu học sinh gạch 1 gạch dưới yếu tố đề bài cho biết, 2

gạch dưới yếu tố cần tìm

- Giáo viên gợi ý tóm tắt đề toán:

Ta có: V xuôi dòng = V thuyền + V dòng nước

Theo đề bài ta có sơ đồ:

Vận tốc thuyền: 27km/giờ Vận tốc dòng nước:

Nhìn vào sơ đồ ta có vận tốc thuyền khi xuôi dòng bằng vận tốc thực của thuyền cộng với vận tốc dòng nước Như vậy vận tốc xuôi dòng sẽ ứng với 9 lần theo sơ đồ Ta sẽ tìm được một phần là vận tốc dòng nước bằng cách lấy tổng vận tốc khi thuyền xuôi dòng chia cho tổng số phần ta được vận tốc dòng nước

Yêu cầu học sinh giải:

- Tính vận tốc dòng nước

- Tính vận tốc của thuyền

- Tính vận tốc khi thuyền ngược dòng

Bài giải

Vận tốc dòng nước:

27 : (8 + 1) = 3 (km/giờ)

Vận tốc của thuyền:

27 - 3 = 24 (km/giờ) Vận tốc của thuyền khi ngược dòng: 24 - 3 = 21 (km/giờ)

Đáp số: 21 km/giờ

Ngày đăng: 19/09/2022, 20:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách giáo khoa Toán 5 (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Biên tập Vũ Văn Dương – Nguyễn Thị Bình) Khác
2. Sách giáo viên Toán 5 (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Nhà xuất bản Giáo dục.Chủ biên Đỗ Đình Hoan) Khác
3. 400 Bài tập Toán 5 (Nhà xuất bản Giáo dục. Biên tập Trầm My) Khác
4. Phương pháp giải 30 bộ đề Toán 5 (Nhà xuất bản Trẻ. Biên tập Lê Tự Thắng và Võ Tấn Tài) Khác
5. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học (Nhà xuất bản Giáo dục. Tập 55/2012 - Tập 21/2006 -Tập 25/2007 - Tập 30/2008) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: - Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng  chuyển động đều cho học sinh lớp 5
Bảng 1 (Trang 6)
c) Phát triển trí tưởng tượng của học sinh qua các bài tốn cĩ lời văn. - Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng  chuyển động đều cho học sinh lớp 5
c Phát triển trí tưởng tượng của học sinh qua các bài tốn cĩ lời văn (Trang 8)
Học sinh tĩm tắt bài tốn bằng sơ đồ, hình vẽ là dịp để kết hợp các thao tác trừu tượng hố và cụ thể hố - Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng  chuyển động đều cho học sinh lớp 5
c sinh tĩm tắt bài tốn bằng sơ đồ, hình vẽ là dịp để kết hợp các thao tác trừu tượng hố và cụ thể hố (Trang 8)
Hình ảnh: Học sinh lớp 5A Trường tiểu học Ngọc Trạo trong giờ học Tốn - Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng  chuyển động đều cho học sinh lớp 5
nh ảnh: Học sinh lớp 5A Trường tiểu học Ngọc Trạo trong giờ học Tốn (Trang 11)
Bảng 1. - Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải Toán dạng  chuyển động đều cho học sinh lớp 5
Bảng 1. (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w