1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao

132 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Developing A Model For Assessing Factors Causing Unsafe Phenomenon When Executing The Work At Height
Tác giả Pham Minh Tin
Người hướng dẫn TS. Hà Duy Khánh
Trường học Ho Chi Minh City University of Technology and Education
Chuyên ngành Civil and Industrial Engineering
Thể loại master thesis
Năm xuất bản 2017
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 4,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả phân tích đã tìm ra được các yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến mất an toàn lao động khi thi công trên cao trong ngành xây dựng.. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã xây dựng các nhân tố chính

Trang 1

XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ MẤT

AN TOÀN LAO ĐỘNG KHI THI CÔNG TRÊN CAO

NGÀNH: KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG

VÀ CÔNG NGHIỆP

SKC007479

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM MINH TÍN

XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ MẤT AN TOÀN LAO ĐỘNG

KHI THI CÔNG TRÊN CAO

NGÀNH: KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP - 60580208

Tp Hồ Chí Minh 10/2017

Trang 3

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING

HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF TECHNOLOGY AND EDUCATION

MASTER THESIS PHAM MINH TIN

DEVELOPING A MODEL FOR ASSESSING FACTORS CAUSING UNSAFE PHENOMENON WHEN EXECUTING

THE WORK AT HEIGHT

MAJOR: CIVIL AND INDUSTRIAL ENGINEERING

Trang 4

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM MINH TÍN

XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ MẤT AN TOÀN LAO ĐỘNG

KHI THI CÔNG TRÊN CAO

NGÀNH: KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ CÔNG NGHIỆP – 60580208

Hướng dẫn khoa học:

TS HÀ DUY KHÁNH

Tp Hồ Chí Minh 10/2017

Trang 5

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING

HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF TECHNOLOGY AND EDUCATION

MASTER THESIS PHAM MINH TIN

DEVELOPING A MODEL FOR ASSESSING FACTORS CAUSING UNSAFE PHENOMENON WHEN EXECUTING

THE WORK AT HEIGHT

MAJOR: CIVIL AND INDUSTRIAL ENGINEERING

60580208

Supervisor: DR HA DUY KHANH

Ho Chi Minh City, 10/2017

Trang 16

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:

Ngày, tháng, năm sinh: 20/12/1990 Nơi sinh: Bình Định

Chức vụ, đơn vị công tác trước khi học tập, nghiên cứu: Cán bộ Kỹ thuật

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 97/5 đường Huỳnh Văn Lũy, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Điện thoại cơ quan: Điện thoại nhà riêng: 0974915219 Fax: Email:phamminhtince@gmail.com

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:

1 Trung học chuyên nghiệp:

Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ 09/2007 đến 06/ 2009

Nơi học (trường, thành phố): Trường THPT An lương, tỉnh Bình Định

Ngành học: Văn hóa

2 Đại học:

Hệ đào tạo: Chính vi Thời gian đào tạo từ 09/2009 đến 10/ 2013 Nơi học (trường, thành phố): Đại học Bình Dương, TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Ngành học: Kỹ thuật Công trình Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp

Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp: Thiết kế Kí túc xá Đại học Quy nhơn Ngày & nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp: 10/10/2013, tại Đại học Bình Dương

Người hướng dẫn:ThS Nguyễn Mạnh Cường

3 Thạc sĩ:

Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ 10/2015 đến 10/ 2017 Nơi học (trường, thành phố): Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM

Ngành học: Kỹ thuật Xây dựng Công trình Dân dụng và Công nghiệp

Tên luận văn: Xây dựng Mô hình Đánh giá Nguy cơ Mất An toàn Lao động khi Thi công Trên cao

Ngày & nơi bảo vệ luận văn: 20/10/2017 tại Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM Người hướng dẫn: Tiến sĩ Hà Duy Khánh

Trang 17

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:

10/2013 –

10/2017 Công ty Xây dựng Tư nhân Cán bộ Kỹ thuật

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2017

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Phạm Minh Tín

Trang 18

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả chân thành, Em xin bày tỏ lòng biết đến Thầy Hà Duy Khánh đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo giúp đỡ em trong suốt thời gian làm luận văn Bên cạnh đó Thầy còn là người đã động viên em rất nhiều để em có thể vượt qua những khó khăn trong thời gian nghiên cứu, xin gửi đến Thầy lời tri ân, lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô trong Ban Giám hiệu, Phòng QLKH – Sau Đại học và Hợp tác Quốc tế của Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, và cùng các Thầy là giảng viên tham gia giảng dạy toàn khóa học đã tận tâm truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường Để tạo nền tảng vững chắc cho em chập chững bước vào con đường nghiên cứu khoa học nhằm mang lại cho cộng đồng và xã hội nhiều lợi ích hơn trong cuộc sống

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Anh, chị trong ngành đã giúp đỡ và cung cấp số liệu nhiệt tình trong quá trình khảo sát để hoàn thành bộ số liệu nghiên cứu phân tích

Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân đã tập trung cố gắng nghiên cứu nhưng trong thời gian tám tháng làm luận văn với tiến độ tương đối ngắn nên khó tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong được sự góp ý chân thành từ phía Thầy cô và các bạn nhằm hoàn chỉnh hơn cho luận văn này, đồng thời là cơ sở để nghiên cứu mở rộng sau này

Phạm Minh Tín

Trang 19

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Mất an toàn lao động (MATLĐ) được xem là một trong những nguy cơ làm giảm, làm thiệt hại nguồn lực và kinh tế của một quốc gia Nhiều nghiên cứu được thực hiện trong ngành xây dựng ở Việt Nam, MATLĐ hiện đang gặp nhiều khó khăn Mục đích chính của nghiên cứu này là khảo sát, phân tích các yếu tố gây ra tình trạng MATLĐ Để thực hiện được mục đích này, một bảng câu hỏi về nghiên cứu các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng mất an toàn lao động đã được đặt ra khảo sát

Dựa vào phân tích tổng quan từ các nghiên cứu trước đây, chọn lọc 28 yếu tố dẫn đến MATLĐ và được chia thành 4 nhóm có liên quan đến: Đặc điểm công trình, Bản thân người lao động, Chủ đầu tư – Tư vấn – Nhà thầu, Dụng cụ và Thiết bị bảo hộ lao động Có 330 bảng câu hỏi được gửi đi khảo sát và thu về 150 bảng câu hỏi hợp lệ

để đưa vào phân tích

Kết quả các phân tích thống kê cho thấy có 3 yếu tố bị loại do sử dụng thang

đo không đạt độ tin cậy Các kiểm định giả thuyết dữ liệu tuân theo phân phối chuẩn

và kiểm định sự khác biệt về trị trung bình giữa các nhóm đều đạt ở mức ý nghĩa 0,05 Ngoài ra, 25 biến còn lại được xác định là không có sự tương quan tuyến tính

Kết quả phân tích nhân tố khám phá các yếu tố ảnh hưởng cho thấy có 4 nhân

tố chính được trích ra từ 25 yếu tố ban đầu với phương sai giải thích tổng là 63,024%

Kết quả phân tích đã tìm ra được các yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến mất an toàn lao động khi thi công trên cao trong ngành xây dựng Bên cạnh đó, nghiên cứu đã xây dựng các nhân tố chính có khả năng đại diện cho các yếu tố ban đầu để giải thích cho vấn đề về nhận thức mất an toàn lao động khi thi công trên cao trong ngành xây dựng hiện nay

Trang 20

THESIS ABSTRACT

Risks related to low safety are considered as one of the dangerous items leading the damage of resources and economics of a country Many studies have been conducted in Vietnamese construction industry in terms of risks of poor safety performance; however, they have still contained a lot of limitations The main purpose

of this study is to examine and analyze the factors causing the risks of low safety for works at height In order to perform this purpose, a structured questionnaire has been sent to the respondents who are working in the industry Based on the literature, there were totally 28 potential factors filtered These factors were then divided into 4 groups: project characteristics, workers themselves, owner-contractor-consultant, and tool-equipment There were about 330 questionnaire distributed, and there were 150 valid responses received

The results of statistical analysis showed that there were 3 factors deleted because the scale used in the study is not appropriate The test on the assumption of normality of the collected data and the test on the difference in the mean between groups were satisfied at the significance level of 0.05 In addition, the remaining 25 factors were also identified that they have no inner-correlation The result of factor analysis showed that there are four principal components extracted with the explained variance of 63.024%

The main result of analysis is that the overall impact of factors on the risk of low safety was evaluated with the value of 71.7 per the scale of 100 In general, the factors found in this study were certified that they have a strong impact on the problem

of low safety when working at height in the construction industry The study then proposed some suitable solutions to reduce the status of low safety based on the above results

Trang 21

MỤC LỤC

Trang tựa

Quyết định giao đề tài

Lý lịch Khoa học 5

Lời cam đoan 6

Lời cảm ơn 7

Tóm tắt luận văn 8

Danh mục các hình và sơ đồ 12

Danh mục các bảng biểu 13

Danh mục từ viết tắt 15

Chương 1 Giới thiệu 16

1.1 Đặt vấn đề 16

1.2 Tính cấp thiết của đề tài 17

1.3 Xác định các vấn đề nghiên cứu 18

1.4 Mục tiêu nghiên cứu 18

1.5 Phạm vi nghiên cứu 19

1.6 Cấu trúc của luận văn 19

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 20

2.1 Yếu tố mất an toàn lao động 20

2.2 Thông số mất an toàn lao động 24

2.3 Mô hình mất an toàn lao động 28

2.4 Giải pháp 33

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.1 Quy trình nghiên cứu 40

3.2 Thiết kế Bảng câu hỏi 42

3.3 Thu thập dữ liệu 43

3.3.1 Quy trình thu thập dữ liệu 43

3.3.2 Phương pháp lấy mẫu 44

3.3.3 Xác định kích thước mẫu khảo sát 44

Trang 22

3.3.4 Cách thức phân phối Bảng câu hỏi 44 3.3.5 Cấu trúc Bảng câu hỏi 44 3.4 Mã hóa dữ liệu 46 3.5 Công cụ phân tích 49 3.5.1 Mô tả mẫu 49 3.5.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 49 3.5.3 Thống kê mô tả 50 3.5.4 Phân tích One – Way ANOVA 50 3.5.5 Kiểm định tương quan Pearson 50 3.5.6 Phân tích nhân tố khám phá EFA 51

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

4.1 Quy trình phân tích số liệu 53 4.2 Mô tả mẫu 54 4.2.1 Kết quả trả lời bảng câu hỏi 54

4.2.2 Ảnh hưởng đến tiến độ trong ngành xây dựng 55 4.2.3 Ảnh hưởng đến chi phí trong ngành xây dựng 56

4.2.4 Thời gian của người trả lời tham gia công tác trong ngành xây dựng 58 4.2.5 Vai trò của người trả lời trong công ty hoặc dự án 59 4.2.6 Lĩnh vực hoạt động chính của người trả lời trong công ty hoặc dự án 61 4.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 62 4.4 Tính trị trung bình và xếp hạng các yếu tố 65 4.5 Kiểm định sự khác biệt về trị trung bình giữa các nhóm 66 4.6 Kiểm định tương quan Pearson 70 4.7 Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysic) 71 4.7.1 Quy trình thực hiện khi phân tích nhân tố 71 4.7.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA cho các yếu tố ảnh hưởng 72 4.7.3 Phân tích ý nghĩa các nhân tố chính 81 4.8 Bảng đánh giá chỉ số mức độ ảnh hưởng tổng thể của các yếu tố 83

Trang 23

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

5.1 Kết luận 90 5.2 Kiến nghị 93 5.3 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC 99 Phụ lục A Bảng câu hỏi khảo sát 99 Phụ lục B Kết quả phân tích 104 Phụ lục C Nhập liệu 119

Trang 24

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Các nguyên nhân cuả tai nạn rơi trong Xây dựng 29 Hình 2.2 Các nguyên nhân cuả tai nạn rơi trong Xây dựng 30 Hình 2.3 Phân bố các tai nạn trong Xây dựng 30 Hình 2.4 Phân bố độ cao của các tai nạn rơi trong Xây dựng 31 Hình 2.5 Tỷ lệ rơi bởi sự xét đoán sai của các lứa tuổi 32 Hình 3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 40 Hình 3.2 Quy trình thiết kế Bảng câu hỏi 42 Hình 3.3 Quy trình thu thập dữ liệu 43 Hình 4.1 Quy trình phân tích số liệu khảo sát 53 Hình 4.2 Tiến độ của dự án 56 Hình 4.3 Chi phí của dự án 57 Hình 4.4 Thời gian tham gia công tác của người trả lời 59 Hình 4.5 Vai trò của người trả lời trong công ty hoặc dự án 60 Hình 4.6 Lĩnh vực hoạt động chính của người trả lời trong công ty hoặc dự án 61 Hình 4.7 Biểu đồ Scree Plot các yếu tố mức độ ảnh hưởng 79 Hình 4.8 Mô hình đánh giá nguy cơ MATLĐ khi thi công trên cao 86

Trang 25

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Quy trình Nghiên cứu 41 Bảng 3.2 Bảng thang đo đánh giá 5 khoảng đo 45 Bảng 3.3 Bảng thang đo đánh giá 5 mức độ 45 Bảng 3.4 Diễn đạt và mã hóa thang đo về nhân tố gây ảnh hưởng đến mất an toàn lao động trong các dự án đầu tư xây dựng 46 Bảng 4.1 Thống kê kết quả trả lời bảng câu hỏi 54 Bảng 4.2 Thống kê kết quả tiến độ của dự án 55 Bảng 4.3 Thống kê kết quả chi phí của dự án 57 Bảng 4.4 Thống kê thời gian của người trả lời tham gia công tác trong ngành xây dựng 58 Bảng 4.5 Vai trò của người trả lời trong công ty hoặc dự án 60 Bảng 4.6 Lĩnh vực hoạt động chính của người trả lời trong công ty hoặc dự án 61 Bảng 4.7 Hệ số Cronbach’S Alpha tổng thể cho mức độ ảnh hưởng 62 Bảng 4.8 Hệ số Cronbach’S Alpha từng nhân tố cho mức độ ảnh hưởng 62 Bảng 4.9 Hệ số Cronbach’S Alpha tổng thể mức độ ảnh hưởng cho các nhóm yếu tố sau khi loại bỏ biến rác 63 Bảng 4.10 Hệ số Cronbach’S Alpha tổng thể mức độ ảnh hưởng cho các nhóm yếu tố sau khi loại bỏ biến rác 64 Bảng 4.11 Bảng tính trị trung bình và xếp hạng các nhân tố cho mức độ ảnh hưởng 65 Bảng 4.12 Kết quả kiểm định về trị trung bình mức độ ảnh hưởng giữa các nhóm 67 Bảng 4.13 Kết quả kiểm định hậu nghiệm Tukey HSD cho từng nguyên nhân ảnh hưởng 69 Bảng 4.14 Kết quả phân tích tương quan Pearson mức độ ảnh hưởng 70 Bảng 4.15 Kết quả phân tích phân tích hồi quy tuyến tính cho các cặp biến AH5 và AH6 71 Bảng 4.16 Bảng kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test 72 Bảng 4.17 Kết quả kiểm tra giá trị Communalities cho mức độ ảnh hưởng 73

Trang 26

Bảng 4.18 Kết quả phân tích nhân tố mức độ ảnh hưởng khi xoay nhân tố lần 1 74 Bảng 4.19 Kết quả phân tích nhân tố mức độ ảnh hưởng khi xoay nhân tố lần 2 75 Bảng 4.20 Kết quả ma trận xoay nhân tố lần 3 76

Bảng 4.21 Kết quả ma trận xoay nhân tố lần 4 77 Bảng 4.22 Bảng kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test lần 4 77

Bảng 4.23 Kết quả tổng phương sai giải thích 78

Bảng 4.24 Bảng tổng hợp các nhân tố chính và đặt tên cho nhân tố ảnh hưởng 80 Bảng 4.25 Hệ số tương quan của các nhân tố chính 84 Bảng 4.26 Trọng số của các thành phần chính 84 Bảng 4.27 Trọng số của các yếu tố thành phần trong nhân tố chính 85 Bảng 4.28 Bảng chuyển giữa thang đo 5 điểm sang mức đánh giá 100 87 Bảng 4.29 Quy đổi trị trung bình theo mức đánh giá 100 87 Bảng 4.30 Bảng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra ngã cao 89

Trang 27

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tiếng việt:

- FFH: Rơi từ trên cao

- PPE: Thiết bị bảo hộ

- SMR: Tỷ lệ tử vong

- PFAS: Hệ thống ngăn giữ rơi

- OSHA: Quản lí an toàn và sức khỏe nghề nghiệp

- NSC: Hội đồng an toàn quốc gia

- BLS: Cục thống kê lao động

- HSE: Bộ y tế và An toàn

- HFACS: Hệ thống phân loại

Tiếng Anh:

- FFH: Falls from height

- PPE: Personal protective equipment

- SMR: Standardized mortality ratios

- PFAS: Personal fall arrest systems

- OSHA: Occupational Safe and Health Administration

- NSC: National safety council

- BLS: Bureau of labor statistics

- HSE: Health and safety excutive

- HFACS: Human factor analysis and classification system

- ANOVA: One – Way Analysis of Variance

- EFA: Exploratory Factor Analysis

- KMO: Kaiser – Meyer – Olkin

- MATLĐ: safety risks in construction projects

- SPSS: Statistical Product and Services Solutions

Trang 28

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Chương này sẽ giới thiệu lý do xác định đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc luận văn

1.1 Đặt vấn đề:

Ngành xây dựng là ngành công nghiệp cơ bản xây dựng đất nước, trong đó nó giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia và thúc đẩy sự phát triển kinh tế liên quan các ngành công nghiệp khác Do đó, nó đóng một vai trò quan trọng trong các nước phát triển và các nước đang phát triển Bởi vì ngành xây dựng là một trong những ngành công nghiệp có nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn và số người thiệt mạng vì tai nạn lao động cao nhất ở các quốc gia Việt Nam cũng không ngoại lệ trong năm 2014 số người chết vì tai nạn lao động trong ngành xây dựng và khai thác mỏ là

289 người với số vụ tai nạn là 2824 [1] Ở Nhật trong năm 1989 đã xảy ra tai nạn lao động có chết người trong xây dựng nhiều hơn 2,4 lần so với ngành công nghiệp sản xuất Tại Hoa Kỳ 19,6% số ca tử vong của công nhân trong công nghiệp tư nhân năm

2012 xảy ra trong xây dựng (Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ của năm (2013) (trích từ Wong và nhóm tác giả [4]) Tại Tây Ban Nha có một số tỷ lệ tai nạn cao nhất trong Liên minh Châu Âu Các dữ liệu gần đây nhất ở Tây Ban Nha Instituto Nacional de Seguridad e Higiene en el Trabajo, (2007) đã cho thấy ngành công nghiệp xây dựng chiếm 27,3% các vụ tai nạn lao động ở nước này, 34,6% của tất cả các vụ tai nạn nghiêm trọng và 33,9% của tất cả các tai nạn gây tử vong ở Tây Ban Nha xảy ra trong lĩnh vực xây dựng (trích từ Adam và nhóm tác giả [10]) Tại Hồng Kông, Sở Lao động Hồng Kông năm (2013) cho thấy xây dựng chiếm tới 8% đối với lực lượng lao động nhưng phải mất cân xứng 83% các trường hợp tử vong trong ngành công nghiệp gây tử vong ở tất cả các công nghiệp (trích từ Wong và nhóm tác giả [4]) Vì vậy, cải tiến an toàn xây dựng vẫn còn là vấn đề lớn, đặc biệt là trong việc giảm tai nạn gây tử vong khi thi công trên cao Hình ảnh này còn nặng nề hơn đối với các nước đang phát triển

do luật, quy định về an toàn và bảo hộ lao động chưa chặt chẽ, thiếu trang bị bảo hộ, thiếu huấn luyện về an toàn lao động, tuổi, kinh nghiệm, hành vi, tinh thần và thể chất

Trang 29

của người lao động bị thảm họa tự nhiên, áp lực kinh tế và thời gian, các phương tiện phục vụ thi công (thang, sàn công tác, giàn giáo…) chưa phù hợp, chất lượng vật liệu thấp, quy mô của nhà thầu Để hạn chế tai nạn lao động trong ngành xây dựng đòi hỏi

sự nỗ lực từ tất cả các bên tham gia dự án xây dựng Trong đó, đào tạo về an toàn lao động cho tất cả những ai tham gia vào quá trình xây dựng là quan trọng Để giải quyết vấn đề an toàn khi thi công các công trình trên cao đã đề cập bên trên, chúng ta cần phải có những nghiên cứu, thống kê, thu thập số liệu tìm ra nghuyên nhân cũng như các giải pháp đảm bảo an toàn khi thi công trên cao để đảm bảo an toàn cho người lao động

1.2.Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay, vấn đề mất an toàn lao động khi thi công trên cao là vấn đề cấp thiết của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam Vì vậy, việc sử dụng hoặc thay thế các trang thiết bị bảo hộ, đào tạo an toàn, hành vi, thể chất và thái độ làm việc của người lao động… là vấn đề đang được quan tâm của các quốc gia trên thế giới

Vấn đề mất an toàn lao động khi thi công trên cao là một vấn đề đã có từ lâu Nhưng hiện nay vấn đề mất an toàn lao động vẫn tồn tại và chưa thể khắc phục Trong khi đó mất an toàn lao động dẫn tới hậu quả rất nghiêm trọng không chỉ đến tính mạng con người mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội… đó là vấn đề cấp thiết hiện nay trong ngành công nghiệp xây dựng

Số liệu thống kê đã chỉ ra rằng số lượng trường hợp tử vong và thương tật vĩnh viễn là do tai nạn tại công trường xây dựng, xây dựng là một trong những ngành có tai nạn cao nhất so với các ngành khác Mặc dù số vụ tai nạn công nghiệp giảm nhưng thanh toán quyền lợi cho các nạn nhân vụ tai nạn đang ngày càng tăng Do đó, có một yêu cầu cấp thiết để giảm thiểu vấn đề này Có ba bước cơ bản cần thực hiện đó là xác định mối nguy hiểm, đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro để đảm bảo điều kiện làm việc

an toàn và thuận lợi Thực hiện có hiệu quả phương pháp kiểm soát các mối nguy hiểm

có thể đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau do sự thay đổi của môi trường làm việc tại các công trường xây dựng, công nghệ mới nhất sử dụng tại chỗ đã xóa sổ phương pháp xây dựng truyền thống và do đó giới thiệu các loại mới của mối nguy hiểm cho ngành

Trang 30

công nghiệp Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích để xác định và làm nổi bật những mối nguy hiểm mà hầu hết được tìm thấy tại công trường xây dựng của chúng ta ngày hôm nay

Vì vậy, từ những vấn đề trên nghiên cứu “ Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao ” đáp ứng những yêu cầu trên

1.3.Xác định các vấn đề nghiên cứu:

Chúng ta thường suy nghĩ để đảm bảo an toàn lao động khi thi công trên cao thì bắt buộc phải thay đổi thiết bị công nghệ, có trang thiết bị hiện đại hơn nhằm giảm thiểu tai nạn Tuy nhiên, thực tế đã chứnh minh rằng thay đổi thiết bị công nghệ hiện đại là chưa đủ mà cần thay đổi suy nghĩ, quan niệm, ý thức và tình trạng thể chất của người lao động thì có thể giảm bớt tai nạn Do đó, với tình trạng mất an toàn như hiện nay, để có được các công trình xây dựng đảm bảo an toàn lao động là vấn đề mà các nhà quản lí nước ta đang rất quan tâm, đặc biệt là yêu cầu ở lĩnh vực xây dựng trên cao…

Trong các công trình xây dựng an toàn lao động là một trong những vấn đề được đòi hỏi hàng đầu, đặc biệt là lĩnh vực thi công trên cao, vì vậy số lượng công nhân cần phải tập trung tương đối lớn; máy móc thiết bị…tương đối nhiều Để đảm bảo đạt được các yêu cầu đề ra của công việc, thì công tác chuẩn bị trước khi triển khai thực hiện phải thật tốt Muốn công tác chuẩn bị được tốt thì phải nắm rõ các quy định an toàn lao động Do đó xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao độg khi thi công trên cao có tính chính xác cao sẽ giúp cho các nhà thầu có được những biện pháp quản lý thi công hợp lý và đảm bảo an toàn lao động Đó cũng chính là vấn đề mà nghiên cứu này muốn hướng đến

1.4 Mục tiêu nghiên cứu:

- Khảo sát và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn lao động khi thi công trên cao (trang thiết bị, máy móc, vị trí làm việc, con người…) tại các công trình xây dựng

Trang 31

- Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao

để dự báo an toàn lao động trong các công trình xây dựng

- Xác định chỉ số mức độ ảnh hưởng tổng thể của các yếu tố gây mất an toàn lao động khi thi công trên cao

- Đề xuất các giải pháp loại bỏ các yếu tố mất an toàn lao động khi thi công trên cao

1.5 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu được thực hiện với những dự án như: Trụ sở làm việc, Trường học, nhà ở Dân dụng, Chung cư, Bệnh viện,…được thực hiện trong phạm vi địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận

- Quan điểm phân tích trong dự án đứng trên vai trò của bộ phận điều hành và quản lí an toàn Nghiên cứu giúp cho bộ phận điều hành và quản lí an toàn trong thi công trên công trường

1.6 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Giới thiệu Chương này bao gồm các nội dung lý do hình thành đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, xác định các vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc luận văn

Chương 2: Tổng quan Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm các yếu

tố, thông số, mô hình và giải pháp mất an toàn lao động Một số nghiên cứu trong nước và quốc tế đã được công bố

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ nêu phương pháp nghiên cứu và thang đo

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này nội dung đề cập về phần phân tích

dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó nghiên cứu sẽ nhóm các yếu tố chính thường xảy ra có ảnh hưởng nhiều đến mất an toàn lao động, đồng thời dựa vào các nhân tố này sẽ xây dựng các mô hình nhân tố chính đánh giá tình trạng mất an toàn lao động trong các dự án xây dựng

Trang 32

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày các kết luận kết quả chính của nghiên cứu, kiến nghị, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

Chương 2 sẽ giới thiệu về cơ sở lý thuyết bao gồm các Yếu tố, Thông số, Mô hình mất an toàn lao động và Giải pháp Một số nghiên cứu trong nước và quốc tế đã được công bố, trên cơ sở đó đề xuất ra một số nguyên nhân gây ra mất an toàn lao động để khảo sát, phân tích

2.1 Yếu tố mất an toàn lao động:

Theo Thông tư số 22/2010/TT-BXD, an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là hệ thống các biện pháp về tổ chức và quản lý, điều hành trên công trường nhằm cải thiện điều kiện lao động và ngăn chặn tai nạn lao động trong thi công xây dựng công trình [2]

Văn và Lan [3] kết luận rằng công nhân thiếu nhận thức về tầm quan trọng của

an toàn lao động, công nhân chưa được huấn luyện đầy đủ và trang bị bảo hộ lao động, thiết bị hư cũ, thao tác thiếu an toàn là những nguyên nhân chính gây nên tai nạn QCVN-18-2014-BXD [5] Không được làm việc trên giàn giáo, ống khói, đài nước, cột điện, trụ hoặc dầm cầu, mái nhà hai tầng trở lên khi mưa to, giông, bão hoặc

có gió từ cấp 5 trở lên

TCVN-5308-1991[6] Dựng lắp cốp pha ở đô cao không lớn hơn 6m được dùng giá đỡ để đứng thao tác ở độ cao trên 6m phải dùng sàn thao tác Dựng lắp cốp pha treo hoặc cốt pha tự mang ở độ cao hơn 8m thì phải giao cho công nhân có kinh

nghiệm làm

Nhiều nhà nghiên cứu Peterson (1971); Drury và Brill (1983); Krause và nhóm tác giả (1990); Aaltonen (1996); Sawacha và Fong (1999); Abdelhamid (2000) kết luận rằng có nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất các ý kiến khác nhau về nguyên nhân của nguy hiểm nghề nghiệp Tuy nhiên hầu hết cho rằng đa số các rủi ro nghề nghiệp và tai nạn gây ra bởi ba lý do chính: sự xuất hiện thường xuyên của các vụ tai nạn, điều kiện không an toàn, và hành vi không an toàn (trích từ Liu và Tsai [7]) điển

Trang 33

hình là nghiên cứu của Haslam và nhóm tác giả [13] nói rằng việc thực hiện an toàn trong xây dựng kém vẫn là nguyên nhân mà thế giới quan tâm Thiết kế hệ thống an toàn kém, bảo dưỡng kém, sử dụng thiết bị lỗi, giám sát lẫn đào tạo kém chuyên môn Qua thống kê cho thấy các tai nạn thường gặp nhất là ngã từ trên cao, trượt tại lối đi,

đồ vật rơi

Chi và nhóm tác giả [8] đã phát triển thành một hệ thống mã hóa thuận lợi cho việc phân loại té ngã gây tử vong dựa trên 621 trường hợp bao gồm: quy mô công ty, tuổi, giới tính, kinh nghiệm, nguyên nhân của té ngã, vị trí té ngã Yếu tố công tác bao gồm cố gắng quá sức, kiểm soát không bình thường, thực hiện công việc kém và việc loại bỏ các biện pháp bảo vệ Công cụ và các yếu tố thiết bị bao gồm sự cố kỹ thuật, các công cụ và thang không an toàn Quản lý các yếu tố môi trường xung quanh bao gồm các lỗ (cửa mái, ô cầu thang…) không có bảo vệ, thiếu tuân thủ giàn giáo, lại gần trái phép vào khu vực nguy hiểm, tiếp xúc với các đối tượng gây té ngã, các chất có hại và yếu tố cá nhân nhằm xác định tầm quan trọng của chúng, từ đó đề xuất các chiến lược đảm bảo an toàn lao động hiệu quả

Theo mẫu khảo sát của Huang và Hinze [9] cho thấy tai nạn ngã gây tử vong của công nhân xây dựng chiếm tỉ trọng ngày càng tăng, xảy ra chủ yếu tại các dự án xây dựng mới, có chi phí xây dựng tương đối thấp, kinh nghiệm dường như không làm giảm bớt sự cố xảy ra, người lao động thường đánh giá sai các mối nguy hiểm và làm các kết cấu tạm thời đang được sử dụng Bên cạnh đó nhiều nhà nghiên cứu cho rằng 30% của các vụ tai nạn liên quan đến người phụ trách bao gồm cả quản đốc hoặc các nhà quản lý của công ty, các báo cáo chi tiết cũng cho thấy thêm rằng các dự án có nhiều tai nạn ngã cao thường là dự án quy mô nhỏ, các nhân viên cấp dưới có thể được nhắc nhở bởi cấp trên của họ về biện pháp phòng ngừa an toàn; tuy nhiên người phụ trách hầu như làm việc riêng của họ mà không có bất kỳ sự giám sát hoặc nhắc nhở nào đến cấp dưới (trích từ Wong và nhóm tác giả [10] )

Aneziris và nhóm tác giả [14] đã đưa ra những đánh giá rủi ro của ngã cao và đề xuất 6 tình huống ngã cao bao gồm cả ngã từ cầu thang, giàn giáo, mái nhà, lỗ trên bề mặt, các nền tảng di chuyển và các phương tiện phi di chuyển Tương tự vậy Janicak

Trang 34

[15] cho thấy rằng các trường hợp tử vong của người lao động do té ngã qua lỗ thông tầng, cửa mái, mái vồm, từ bậc thang, lắp đặt và tháo dỡ giàn giáo, bề mặt làm việc không phù hợp, do kết cấu bị sụp đổ, không có hoặc sử dụng không đúng quy định của thiết bị bảo hộ cũng đặt ra một nguy cơ đáng báo động cho ngành công nghiệp xây dựng Bên cạnh đó Bureau of Labor Statistics (BLS) (2007b); Fredericks, Abudayyeh, Choi, Wiersma và Charles (2005); Lowery và nhóm tác giả (2000); NIOSH (1999); Okun, Lentz, Schulte và Stayner (2001); Personick (1990); Suruda, Philips, Lillquist,

và Secek (2003) cho rằng một trong những khu vực nguy hiểm nhất trong ngành công nghiệp xây dựng là lợp mái; BLS (2007c); Fredericks và nhóm tác giả (2005); Hsiao

và Simeonov (2001) cho rằng do công việc trên mái nhà rất gian khổ, nó đòi hỏi phải leo trèo và đi bộ qua lại giữa các mái khác nhau (trích từ Sa và nhóm tác giả [12]) Adam và nhóm tác giả [16] kết luận rằng một trong những giai đoạn có nguy cơ

bị té ngã từ độ cao cao nhất trong xây dựng một công trình là việc lắp ghép ván khuôn cho các kết cấu bê tông là giai đoạn nguy hiểm nhất liên quan đến té ngã, đặc biệt khi lắp ghép ván khuôn sàn Nhóm tác giả cũng đặc biệt nhấn mạnh rằng rơi trong thời gian lắp ráp ván khuôn tấm sàn, có một giai đoạn trong đó có nguy cơ cao đáng kể là khi lắp dựng các kết cấu bằng kim loại hỗ trợ cốt pha (hệ cột chống và dầm thép) Cũng tương tự vậy Tam và nhóm tác giả [19] chỉ ra rằng trong tất cả các vụ tai nạn gây

tử vong do ngã tại Trung Quốc vào năm 1999, có tổng cộng 34 trường hợp được xác định là đã xảy ra trong quá trình chuẩn bị ván khuôn cho các kết cấu bê tông, chiếm 6% tổng số tử vong do ngã và điển hình là nghiên cứu Jannadi và Assaf [24] cũng xác định quá trình thi công ván khuôn là một trong những giai đoạn có nguy cơ tai nạn cao nhất, đặc biệt là do vật rơi từ trên cao

Wong và nhóm tác giả [17] đã khảo sát và cho thấy rằng nguyên của các vụ tai nạn rơi do không được đào tạo an toàn, thiếu thiết bị khi làm việc trên cao, thái độ và hành vi kém an toàn của người lao động, giám sát không theo dõi chặt chẽ đây là những nguyên nhân chính gây tử vong trong các ngành công nghiệp xây dựng Hồng Kông, cũng như ở các nước khác Thống kê được công bố của Bộ Lao động, đặc khu hành chính Hồng Kông (HKSAR) cho thấy rằng năm 2000-2004 khoảng một nửa số

Trang 35

tai nạn chết người trong ngành xây dựng là một kết quả tai nạn rơi của người lao động

Lipscomb và nhóm tác giả [23] cho rằng những nguy cơ tiềm ẩn khi làm việc trên cao kết hợp với tác động của ngành xây dựng là một trong những nguyên nhân chính của các vụ tai nạn xây dựng gây tử vong do ngã từ độ cao Chứng minh cho điều

đó là các mô hình rơi từ trên cao của Hinze và nhóm tác giả (2002) cho rằng rơi chủ yếu xảy ra ở các dự án xây dựng có chi phí tương đối thấp, mùa trong năm và các ngày trong tuần (đầu tuần), rơi từ sàn, mái nhà, rơi từ giàn giáo, các bề mặt làm việc và rơi

từ thang (trích từ Navon và nhóm tác giả [20])

Ahmad và nhóm tác giả [21] đã cho thấy rằng trong các tai nạn nghề nghiệp, loại phổ biến nhất của tai nạn chết người là rơi từ trên cao Rơi từ trên cao vẫn còn là một nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong trong cuộc sống hằng ngày Rơi gây chấn thương nghiêm trọng và gây tử vong trong một tai nạn rơi phụ thuộc vào độ cao rơi, những đặc điểm bề mặt rơi xuống của tai nạn, hướng từ trên rơi xuống và quá trình tai nạn rơi trực tiếp hoặc đứt quãng Các yếu tố góp phần vào ngã từ độ cao bao gồm trang thiết bị bị lỗi, chẳng hạn như thang và các kết cấu giàn giáo và các yếu tố con người, chẳng hạn như say rượu, thiếu chú ý trong quá trình làm việc

Nhiều nhà nghiên cứu Axelsson và Fang (1985), Myers và Trent (1988), Cochran

và nhóm tác giả (1983) đã cho thấy rằng tỷ lệ chấn thương do dụng cụ cầm tay không

có điện cao nhất trong ngành nông nghiệp tiếp theo là xây dựng, các công cụ cầm tay

có điện trong xây dựng có tỷ lệ thương tích cao nhất ở bất kỳ đâu Cưa máy chiếm tỷ

Trang 36

lệ chấn thương cao nhất của thợ mộc và người lao động xây dựng (trích từ Helander [22])

Hamid và nhóm tác giả [25] đã cho thấy rằng ngành công nghiệp xây dựng hiện đang được công nhận là một lực lượng kinh tế chính đối với Malaysia và cũng là một trong những ngành công nghiệp nguy hiểm nhất Tỷ lệ tử vong trong các ngành công nghiệp xây dựng ở Malaysia là hơn 3 lần so với tất cả các nơi làm việc của ngành khác

2.2 Thông số mất an toàn lao động:

Trong năm 2014 số người chết vì tai nạn lao động trong ngành xây dựng và khai thác mỏ là 289 người với số vụ tai nạn là 2824 [1]

Chi và nhóm tác giả [8] đã cho thấy có khoảng 87% (537 trường hợp) những biến

cố tai nạn có thể được phân loại như rơi từ giàn giáo, dàn dựng, từ các lỗ hở sàn hiện

có, từ việc xây dựng dầm hoặc kết cấu thép khác, từ mép mái nhà, qua các bề mặt mái nhà, từ thang, ngã xuống cầu thang hay bậc, ngã khi nhảy đến một tầng thấp hơn, và từ khe hở mái nhà hiện hữu Nguyên nhân ngã gây tử vong cũng đã được đánh giá, hơn 40% các trường hợp có thể do thiếu tuân thủ giàn giáo (160) và khe hở không có bảo

vệ (104) Tiếp cận trái phép vào khu vực nguy hiểm, bị kéo xuống, loại bỏ các biện pháp bảo vệ chiếm 35,6% (221) trong tổng số ngã gây tử vong (621 trường hợp) Phân tích tần số đã được thực hiện trên mỗi biến mã hóa, điều này chỉ ra rằng phần lớn các nạn nhân đều là nam (572, 92,1%), từ 25 đến 44 tuổi (319, 51,4%), làm việc cho các công ty có ít hơn 30 nhân viên (164, 26,4%) và có ít hơn 1 năm kinh nghiệm làm việc (500, 80,5%)

Cơ quan quản lýAn toàn và Sức khỏe nghề nghiệp (1990); Hinze (1997) đã chỉ ra rằng rơi là nguyên nhân gây ra số lượng chấn thương và tử vong cao nhất trong ngành công nghiệp xây dựng của Mỹ, chiếm 33% tổng số công nhân xây dựng tử vong trong những năm 1985-1989 Trong số 7543 các vụ tai nạn xây dựng được điều tra bởi Cục

An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp, giữa tháng Giêng năm 1990 và tháng Mười năm

2001 có 2741vụ là té ngã với 2687 ngã từ độ cao 54 và ngã từ cùng cấp xảy ra chiếm

Trang 37

2955 chấn thương rơi do Cục An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp ghi nhận được xảy ra

từ hai hoặc nhiều người lao động ( trích từ Huang và Hinze [9])

Goh và Binte Sa’adon (2015) đã kết luận rằng sự thiếu chú ý đến các mối nguy hiểm và rủi ro liên quan đến làm việc trên cao dẫn đến rơi vẫn còn xuất hiện và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của các vụ tai nạn xây Thực thi Sức khỏe và An toàn nước Anh (2013) đã cho thấy ở Anh, ngã chiếm 59% của tất cả các trường hợp người lao động tử vong Sở Lao động Hồng Kông (2013) đã thống kê tại Hồng Kông 50% các vụ tai nạn xây dựng gây tử vong (2012) là do rơi từ dựng trên cao (trích từ Wong và nhóm tác giả [10])

Cục thống kê lao động (2008) đã cho thấy rơi chiếm tỷ trọng lớn nhất (81%) trong tổng số tai nạn nghề nghiệp gây tử vong ở thợ lợp mái năm 2006 Cục thống kê lao động (2007c); Huang và Hinze (2003); Janicak (1998) cho rằng hầu hết té ngã xảy

ra từ giàn giáo, thang, hoặc mái nhà là thường thấy hơn so với các loại khác của ngã Theo Cục thống kê lao động (2007b), ngã gây tử vong từ mái nhà tăng 15% trong năm

2006, tăng từ 160 trường hợp tử vong trong năm 2005 tới 184 trong năm 2006 (trích từ

Kisner và Fosbroke (1994) đã nói rằng công việc liên quan tới rơi gây chết người vẫn tiếp tục là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nơi làm việc Cục Thống kê Lao động (1994) cho thấy ngành công nghiệp xây dựng chiếm 32,1% số

ca tử vong do công việc liên quan tới ngã và Nhà thầu các ngành nghề đặc biệt, có tần

số các trường hợp tử vong cao nhất liên quan đến công việc gây tử vong chiếm khoảng 57,5% của tất cả các công việc liên quan đến rơi gây chết người trong ngành công

Trang 38

nghiệp nguy hiểm này Viện Quốc gia An toàn vệ sinh lao động (1993) cho biết rằng

từ năm 1980 đến năm 1989 ngành xây dựng có mức tăng trung bình của tử vong do té ngã hàng năm cao nhất với 6,56 trên 100 người lao động Cục Thống kê Lao động (1996) khẳng định rằng rơi từ trên mái nhà, thang và giàn giáo chiếm khoảng 28,5% trong tổng số sự cố công việc liên quan đến tử vong trong ngành công nghiệp xây dựng Suruda, Fosbroke và Braddee (1995) đã phân tích các dữ liệu của Viện Quốc gia

An toàn vệ sinh lao động, cho thấy rằng giấy báo tử từ các cơ sở dữ liệu nghề nghiệp gây chấn thương chết người chỉ ra rằng người lao động trong các công việc lợp mái nhà và lắp đặt kết cấu thép có tần số chấn thương do té ngã từ mái nhà lớn nhất Suruda, Fosbroke và Braddee tiến hành một nghiên cứu từ 55 trường hợp công việc liên quan đến rơi gây tử vong từ mái nhà được điều tra bởi Quản lý về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp báo cáo rằng 27 trường hợp ngã (49%) là từ mép mái nhà, trong khi

24 trường hợp rơi được cho là rơi qua cửa mái (trích từ Janicak [15])

Camino López và nhóm tác giả (2008) đã phân tích các yếu tố liên quan đến tình hình tai nạn lao động tại Tây Ban Nha, 74% các công trình xây dựng ở Tây Ban Nha liên quan đến xây dựng các tòa nhà, đó là nơi mà phần lớn các vụ tai nạn chết người xảy ra, chiếm 43% của tất cả các tai nạn và 35,2% tử vong Tất nhiên tình trạng này không chỉ xảy ra ở Tây Ban Nha mà còn tồn tại một quy mô lớn trên toàn thế giới (trích từ Adam và nhóm tác giả [16])

Công việc xây dựng là công việc nguy hiểm, Hội đồng An toàn quốc gia báo cáo rằng riêng trong năm 1996, 1000 công nhân xây dựng bị mất cuộc sống của họ tại nơi làm việc và 350000 trường hợp khác nhận tai nạn vô hiệu hóa Accident (1997) đã thống kê xây dựng chỉ chiếm 5% lực lượng lao động của Hoa Kỳ nhưng một tuyên bố không cân xứng 20% của tất cả các trường hợp tử vong nghề nghiệp và 9% của tất cả các tai nạn nghề nghiệp vô hiệu hóa (trích từ Abdelhamid và nhóm tác giả [18])

Hinze và nhóm tác giả (2002) đã xây dựng các mô hình của tai nạn rơi từ chiều cao (1) các loại hình xây dựng (81% số vụ tai nạn rơi xảy ra ở độ cao dưới 9,15 m chủ yếu ở các dự án xây dựng các tòa nhà thương mại và dân cư có chi phí của dự án xây dựng tương đối thấp); (2) giai đoạn mùa của năm (mùa hè) và (3) các ngày trong tuần

Trang 39

(thứ hai) Cattledge và nhóm tác giả (1996); Hinze và nhóm tác giả (2002) cho thấy trong 41% của tai nạn rơi là do công nhân rơi từ sàn và mái nhà, 19% rơi từ giàn giáo

và các bề mặt làm việc, 11% rơi từ thang (trích từ Navon và nhóm tác giả [20])

Ahmad và nhóm tác giả [21] đã kết luận tổng cộng 2714 cuộc khám nghiệm tử thi được tiến hành trong thời gian nghiên cứu trong đó có 93 (3,43%) là các trường hợp rơi từ trên cao Trong số đó 66 (70,97%) là nam và 27 (29,03%) nạn nhân là phụ

nữ Hầu hết các nạn nhân là người lao động theo ngày / công nhân xây dựng chiếm 23 (24,73%), mức tối thiểu của chiều cao rơi là từ tầng thứ 2 là 7 (7,52%) và số lượng tối

đa của nạn nhân rơi từ tầng 5 đến tầng 10 là 47 (50,53%) Xem xét thời gian, sự cố xảy

ra cao nhất trong thời gian ban ngày 57 (61,29%) Độ tuổi của các nạn nhân tối đa là khoảng 21 đến 30 tuổi là 34 (36,56%) Tất cả các nạn nhân đã có nhiều trầy xước và vết bầm tím trong cơ thể của họ, tiếp theo vết rách 74 (79,56%), nứt gãy của hộp sọ 57 (61,29%) xuất huyết bên trong hộp sọ 85 (91,40%), chấn thương xương dài ở chi dưới

47 (50,54%), chấn thương xương dài ở chi trên 31 (33,33%), chấn thương cơ quan trong bụng như gan, lách, thận 51 (54,84%), gãy xương chậu 37 (39,78%) Trong hộp

sọ, nứt gãy theo đường thẳng là phổ biến nhất 48 (51,61%), để gãy xương tạm thời là xương phổ biến nhất 57 (61,29%) và hầu hết các nạn nhân 57 (61,29%) có xuất huyết màng cứng phụ Trong hộp sọ, gãy thẳng là phổ biến một 48 (51,61%), để gãy xương thái dương là xương phổ biến nhất 57 (61,29%) và hầu hết các nạn nhân 57 (61,29%)

có xuất huyết màng cứng phụ

Tucker và Borcherding (1977) cho rằng mặc dù tầm quan trọng của an toàn và năng suất xây dựng có rất ít nghiên cứu được thực hiện, mức độ nghiên cứu và phát triển xây dựng hiện tại tại Hoa Kỳ có thể được dự kiến chi một tỷ đô la mỗi năm Mặc

dù đây là một con số lớn theo nghĩa tuyệt đối nhưng nó chỉ chiếm 0,3% tổng) Helander (1981) cho rằng hầu hết các ngành công nghiệp khác đầu tư ít nhất là 3% kinh phí, do đó sự bất lực để đầu tư vào nghiên cứu thiết kế tiện ích và an toàn xây dựng là điển hình cho ngành công nghiệp nói chung Mức độ đầu tư của liên bang Hoa

Kỳ về an toàn xây dựng và tối ưu có trong quá khứ khá đáng kể Các quốc gia khác như Canada, Hà Lan, Vương quốc Anh và Thụy Điển tài trợ cho các viện nghiên cứu

Trang 40

và kinh phí cũng có sẵn cho các nhà nghiên cứu cá nhân Các thông tin được trình bày phản ánh xu hướng này với ngoại lệ của tiểu bang California, hầu hết các nghiên cứu gần đây được thực hiện tại châu Âu Her Majesty's Stationery Office (1978) đã thống

kê số vụ tai nạn cho thấy các nguyên nhân dẫn đến tử vong và chấn thương thường xuyên trong xây dựng là khác nhau, khoảng 60% các trường hợp tử vong nhưng có tới 31% liên quan đến té ngã, liên quan tới thiết bị nâng hạ chiếm 9% số trường hợp tử vong nhưng có 1,5% số người bị thương Mặt khác khoảng 25% thương tích liên quan đến công cụ xử lý bằng tay trong khi các loại này đã không được báo cáo là trường hợp gây tử vong (trích từ Helander [22])

Cục thống kê lao động (2013a, b) cho rằng trong năm 2012, số liệu từ thời điểm điều tra tai nạn lao động chết người thu được 775 người chết trong các ngành công nghiệp xây dựng Rơi (bao gồm cả trơn trợt do đi lại) góp phần tới 280 những trường hợp tử vong chiếm 36% Hơn nữa, các ca tử vong ở công nhân xây dựng chiếm 42% (280 của 668) của tất cả các trường hợp tử vong do ngã trên tất cả các ngành công nghiệp tư nhân tại Hoa Kỳ trong năm 2012 (trích từ Lipscomb và nhóm tác giả [23])

Tổ chức an sinh xã hội báo cáo vào năm 2000, tỷ lệ tử vong trong các ngành công nghiệp xây dựng ở Malaysia là hơn 3 lần của tất cả các nơi làm việc của ngành khác Trong khi đó, chi phí bồi thường chi ra Tổ chức an sinh xã hội cho tai nạn và bệnh nghề nghiệp chiếm gần RM650 triệu, như chi phí ẩn hoặc gián tiếp của tai nạn là tám đến 33 lần hơn chi phí trực tiếp, tổng chi phí của vụ tai nạn có thể lên tới hàng tỷ đồng ringgit (trích từ Hamid và nhóm tác giả [25])

2.3 Mô hình mất an toàn lao động:

Akao (1990) và Bossert (1991) đã nghiên cứu một phương pháp đánh giá rủi ro,

để xác định các loại rủi ro quan trọng và nguyên nhân nguy hiểm của các rủi ro nghề nghiệp Nghiên cứu này sử dụng khuôn khổ Quality Funtional Deloyment để đại diện cho các mối quan hệ tương ứng giữa ba mục nhằm xác định: các loại rủi ro quan trọng, nguyên nhân gây nguy hiểm của nghề nghiệp trong ngành công nghiệp xây dựng, các loại nguy hiểm có liên quan chặt chẽ với những hạng mục công trình Một bảng

Ngày đăng: 19/09/2022, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Việt Dũng, (2016). “Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 2015”, Cục an toàn lao động, Bộ Lao động và Thương binh Xã hội, đăng nhập ngày 10/8/2015, http://antoanlaodong.gov.vn/catld/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=1904 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 2015”, Cục an toàn lao động, "Bộ Lao động và Thương binh Xã hội
Tác giả: Việt Dũng
Năm: 2016
[2]. Thông tư số 22/2010/TT-BXD “Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình”, Bộ Xây dựng, ban hành ngày 03/12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình”, "Bộ Xây dựng
[3]. Lưu Trường Văn và Đỗ Thị Xuân Lan, (2002). “Safety problems at construction sites in Ho Chi Minh city”, Kỷ yếu Hội nghi Khoa học và công nghệ lần thứ 8, Đại học Bách Khoa TP.HCM, 4/2002, tr.21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Safety problems at construction sites in Ho Chi Minh city”, "Kỷ yếu Hội nghi Khoa học và công nghệ lần thứ 8
Tác giả: Lưu Trường Văn và Đỗ Thị Xuân Lan
Năm: 2002
[4]. Trần Hoàng Tuấn và Đỗ Thị Xuân Lan, (2009). “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện an toàn lao động của công nhân xây dựng”, Kỷ yếu Hội nghi Khoa học và công nghệ lần thứ 11, Đại học Bách Khoa TP.HCM, 10/2009, tr.297-302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện an toàn lao động của công nhân xây dựng”, "Kỷ yếu Hội nghi Khoa học và công nghệ lần thứ 11
Tác giả: Trần Hoàng Tuấn và Đỗ Thị Xuân Lan
Năm: 2009
[5]. Thông tư số 14/2014/TT-BXD. “Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về An toàn trong Xây dựng” , Bộ Xây dựng, ban hành ngày 05/09/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về An toàn trong Xây dựng” , "Bộ Xây dựng
[6]. Số 256 BXD/KHKT. “TCVN 5308 - 1991 Quy phạm Kỹ thuật AN toàn trong Xây dựng” , Bộ Xây dựng, ban hành ngày 31/12/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TCVN 5308 - 1991 Quy phạm Kỹ thuật AN toàn trong Xây dựng” , "Bộ Xây dựng
[7]. Hao-Tien Liu, Yieh-lin Tsai. "A fuzzy risk assessment approach for occupational hazards in the construction industry". Safety Science, Vol. 50, No.4, pp.1067–1078, April 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A fuzzy risk assessment approach for occupational hazards in the construction industry
[8]. Chia-Fen Chi, Tin-Chang Changa, Hsin-I Ting . "Accident patterns and prevention measures for fatal occupational falls in the construction industry". Applied Ergonomics, Vol. 36, pp. 391–400, July 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accident patterns and prevention measures for fatal occupational falls in the construction industry
[9]. Xinyu Huang and Jimmie Hinze, M.ASCE . "Analysis of Construction Worker Fall Accidents". Journal of Construction Engineering and Management, Vol.129, No.3, pp. 262(10), May-June 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of Construction Worker Fall Accidents
[11]. Chia-Fen Chi, and Meng-Lin Wu. "Fatal occupational injuries in Taiwan - Relationship between fatality rate and age". Safety Science, Vol.27, No.1, pp.1–17, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fatal occupational injuries in Taiwan - Relationship between fatality rate and age
[12]. Jaesin Sa, Dong-Chul Seo, Sang D. Choi. "Comparison of risk factors for falls from height between commercial and residential roofers". Journal of Safety Research, Vol. 40, No.1, pp. 1–6 , 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of risk factors for falls from height between commercial and residential roofers
[13]. R.A. Haslam, S.A. Hide, A.G.F. Gibb, D.E. Gyi, T.Pavitt, S.Atkinson, A.R. Duff. "Contributing factors in construction accidents". Applied Ergonomics, Vol.36, pp. 401–415, July 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contributing factors in construction accidents
[14]. Aneziris, O. N., Papazoglou, I.A., Mud, M.L., Damenc, M., Kuiperd, J., Baksteene, H., Alef, B.J., Bellamyg, L.J., Haleh, A.R., and Bloemhoffd, A.J. "Towards risk assessment for crane activities". Safety Science, Vol.46, No.6, pp.872–884, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards risk assessment for crane activities
[15]. Christopher A Janicak. "Fall-Related Deaths in the Construction Industry". Journal of Safety Research, Vol. 29, No.1, pp. 35–42, Spring 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fall-Related Deaths in the Construction Industry
[16]. Jose M. Adam, Francisco J. Pallarés, Pedro A. Calderón. "Falls from height during the floor slab formwork of buildings: Current situation in Spain".Journal of Safety Research, Vol. 40, No.4, pp. 293–299, August 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Falls from height during the floor slab formwork of buildings: Current situation in Spain
[17]. Francis K.W. Wong, Albert P.C. Chan, Michael C.H. Yam, Edmond Y.S. Wong, Kenny T.C. Tse, Kendra K.C. Yip and Esther Cheung. "Findings from a research study of construction safety in Hong Kong; Accidents related to fall of person from height". Journal of engineering, design and technology, Vol. 7, pp. 130-142, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Findings from a research study of construction safety in Hong Kong; Accidents related to fall of person from height
[18]. By Tariq S. Abdelhamid, Student Member, ASCE, and John G. Everett, Member, ASCE. "Identifying Root Causes of Construction Accidents", Journal of Construction Engineering and Management, Vol. 126, January 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Identifying Root Causes of Construction Accidents
[19]. Tam C.M., Zeng, S.X., and Deng, Z.M. "Identifying elements of poor construction safety management in China". Safety Science, Vol.42, No.7, pp.569–586, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Identifying elements of poor construction safety management in China
[20]. R. Navon, M.ASCE; and O. Kolton. "Model for Automated Monitoring of Fall Hazards in Building Construction". Journal of Construction Engineering and Management, Vol. 132, July 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Model for Automated Monitoring of Fall Hazards in Building Construction
[21]. Ahmad M, Rahman FN, Al-Azad MAS, Majumder MRU, Chowdhury MH. " Pattern of fatal injury in fall from height cases- a medicolegal study". Journal of Armed Forces Medical College Bangladesh, Vol 10, April 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pattern of fatal injury in fall from height cases- a medicolegal study

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng: Tốc độ tăng chi đầut XDCB từ NSNN cho ngành Thuỷ Lợi - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
ng Tốc độ tăng chi đầut XDCB từ NSNN cho ngành Thuỷ Lợi (Trang 26)
Thực hiện cỏc bước thiết kế Bảng cõu hỏi khảo sỏt - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
h ực hiện cỏc bước thiết kế Bảng cõu hỏi khảo sỏt (Trang 52)
Bảng 3.1. Trỡnh bày quy trỡnh nghiờn cứu - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng 3.1. Trỡnh bày quy trỡnh nghiờn cứu (Trang 53)
Hỡnh 3.2. Quy trỡnh thiết kế Bảng cõu hỏi nghiờn cứu - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
nh 3.2. Quy trỡnh thiết kế Bảng cõu hỏi nghiờn cứu (Trang 55)
- Phần I: Giới thiệu thang đo và cỏch trả lời bảng cõu hỏi. - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
h ần I: Giới thiệu thang đo và cỏch trả lời bảng cõu hỏi (Trang 57)
Bảng cõu hỏi được đớnh kốm trong Phụ lụ cA - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng c õu hỏi được đớnh kốm trong Phụ lụ cA (Trang 58)
Tổng cộng cú 330 bảng cõu hỏi được gửi đến cho cỏc kỹ sư đanglàm việc trờn địa bàn TP.HCM và cỏc tỉnh lận cận - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
ng cộng cú 330 bảng cõu hỏi được gửi đến cho cỏc kỹ sư đanglàm việc trờn địa bàn TP.HCM và cỏc tỉnh lận cận (Trang 66)
Bảng 4.2. Thống kờ thời gian người trả lời đỏnh giỏ mức độ ảnh hưởng - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng 4.2. Thống kờ thời gian người trả lời đỏnh giỏ mức độ ảnh hưởng (Trang 67)
Bảng 4.3. Thống kờ thời gian người trả lời đỏnh giỏ mức độ ảnh hưởng - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng 4.3. Thống kờ thời gian người trả lời đỏnh giỏ mức độ ảnh hưởng (Trang 69)
4.2.4. Thời gian của người trả lời tham gia cụng tỏc trong ngành xõy dựng - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
4.2.4. Thời gian của người trả lời tham gia cụng tỏc trong ngành xõy dựng (Trang 70)
Bảng 4.4. Thống kờ số năm kinh nghiệm của người trả lời tham gia cụng tỏc - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng 4.4. Thống kờ số năm kinh nghiệm của người trả lời tham gia cụng tỏc (Trang 70)
Kết quả phõn tớch từ SPSS cho thấy rằng số lượng người tham gia trả lời bảng cõu hỏi cụng tỏc tại đơn vị Chủ đầu tư chiếm 20,0% số lượng mẫu với 30 người, đơn  vị tư vấn thiết kế chiếm 4,0% số lượng mẫu với 6 người, đơn vị tư vấn giỏm sỏt chiếm  30% số lư - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
t quả phõn tớch từ SPSS cho thấy rằng số lượng người tham gia trả lời bảng cõu hỏi cụng tỏc tại đơn vị Chủ đầu tư chiếm 20,0% số lượng mẫu với 30 người, đơn vị tư vấn thiết kế chiếm 4,0% số lượng mẫu với 6 người, đơn vị tư vấn giỏm sỏt chiếm 30% số lư (Trang 73)
Bảng 4.8. Hệ số Cronbach’s Alpha từng nhõn tố cho mức độ ảnh hưởng - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng 4.8. Hệ số Cronbach’s Alpha từng nhõn tố cho mức độ ảnh hưởng (Trang 74)
Bảng 4.10. Hệ số Cronbach’s Alpha từng nhõn tố cho mức độ ảnh hưởng sau - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng 4.10. Hệ số Cronbach’s Alpha từng nhõn tố cho mức độ ảnh hưởng sau (Trang 76)
Bảng 4.12. Kết quả kiểm định về trị trung bỡnh mức độ ảnh hưởng giữa cỏc nhúm - Xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mất an toàn lao động khi thi công trên cao
Bảng 4.12. Kết quả kiểm định về trị trung bỡnh mức độ ảnh hưởng giữa cỏc nhúm (Trang 79)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w