ÁP DỤNG MÔ HÌNH KANO PHÂN LOẠI THUỘC TÍNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP DƯỚI KHÍA CẠNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SINH VIÊN ÁP DỤNG MÔ HÌNH KANO PHÂN LOẠI THUỘC TÍNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP DƯỚI KHÍA CẠNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SINH VIÊN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
BÀI TẬP NHÓM MÔN HỌC QUẢN LÝ SẢN XUẤT
ÁP DỤNG MÔ HÌNH KANO PHÂN LOẠI THUỘC TÍNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP DƯỚI KHÍA CẠNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SINH VIÊN
NHÓM 7 – LỚP T4 – L03
Tp.HCM, 04/2021
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong thế kỉ 21 hiện nay, chúng ta đã và đang chứng kiến sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật và công nghệ trong mọi lĩnh vực Nền kinh tế hiện nay luôn biến động liên tục với tốc độ phát triển rất nhanh Trong đó, con người hướng đến sự cải tiến, sáng tạo liên tục và toàn cầu hóa cùng với đó là đào thải sự lỗi thời, lạc hậu khỏi nền kinh tế Và để có thể đáp ứng được nền kinh tế khắc nghiệt và nhiều rủi ro như vậy, chúng ta cần nhiều hơn nữa những lực lượng lao động trẻ có tri thức, có tầm nhìn và khả năng thích ứng cao với mọi môi trường làm việc; điển hình là thế hệ sinh viên hiện nay Thông qua việc được đào tạo chuyên sâu ở môi trường đại học, họ là những nhân tố sáng giá, là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế Việt Nam để có thể bắt kịp đà phát triển kinh tế của các cường quốc trên thế giới Và thứ mà mọi sinh viên hiện nay đều mong muốn trang bị cho mình chính là kỹ năng mềm - đó là những kỹ năng rất cần thiết trong học tập và trong khi làm việc ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế
Có thể nói, kiến thức chuyên ngành mà sinh viên được trang bị trong quá trình học tập tại trường đại học là điều kiện cần, tuy nhiên vẫn chưa phải là điều kiện đủ để làm hành trang cho sinh viên có thể bước ra giảng đường để tìm kiếm những công việc như mong muốn với mức thu nhập phù hợp Chính vì thế, yêu cầu đặt ra đối với sinh viên là bên cạnh việc không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tin thì còn phải quan tâm đến việc học tập và hoàn thiện các kỹ năng mềm của bản thân Đó
là yêu cầu của sinh viên Khoa QLCN cũng như sinh viên trường ĐH Bách Khoa TPHCM
có khác gì so với các khoa khác trong trường Đại học Bách Khoa? Khoa QLCN có tạo
ra được môi trường phát triển những kĩ năng đó tốt hay chưa? Để có câu trả lời cho những câu hỏi trên, nhóm chúng em nhận thấy việc xác định mức độ hài lòng và sự đáp ứng về các kỹ năng cho sinh viên khoa QLCN Đại học Bách Khoa TPHCM rất cần thiết trong quá trình nghiên cứu, phát triển và thiết lập chương trình đào tạo của khoa một cách hợp lí hơn.Do đó, nhóm chúng em thực hiện bài nghiên cứu về khía cạnh phát triển
kỹ năng sinh viên (Students’ Skills Development) thông qua việc khảo sát đối với sinh viên của khoa, từ đó đưa ra nhận xét và đề xuất các biện pháp nhằm đáp ứng được tối
đa những mong muốn của các bạn cũng như một số hiệu chỉnh nhất định làm cho môi trường của khoa ngày càng năng động, phát triển và thú vị hơn nữa, tạo ra những điểm sáng và thu hút mọi người
Trong nghiên cứu này, mô hình Kano được sử dụng như kỹ thuật chính để đo lường và xếp hạng mức độ quan trọng của các kỹ năng trong quá trình học tập tại trường và làm việc sau này
Trang 3MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.2 Đối tượng nghiên cứu 1
1.3 Phạm vi nghiên cứu 1
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2
2.1 Nguyên tắc của mô hình Kano 2
2.2 Các loại tính năng và phương pháp phân loại chúng trong mô hình Kano 3
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
3.1 Thiết kế phương pháp thực hiện 5
3.2 Mẫu thử và thu thập thông tin 6
4 KẾT QUẢ 8
4.1 Mô tả dữ liệu 8
4.2 Thuộc tính Attractive 8
4.3 Thuộc tính One-dimensional 11
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 17
5.1 Kết luận 17
5.2 Đề xuất 17
Trang 41.2.2 Mục tiêu cụ thể
Bằng cách đưa ra những câu hỏi mang tính hai chiều để đánh giá thái độ của sinh viên trước một tình huống khi khoa có thể hoặc không thể đáp ứng một nhu cầu nào đó Dựa trên năm mức đánh giá bao gồm: tôi thích thế, nó phải như vậy, sao cũng được, chấp nhận được và tôi không thích, kết hợp với mô hình Kano, có thể phân loại thuộc tính của các yếu tố mà chúng ta đưa ra để khảo sát và hiểu được đâu là thuộc tính bắt buộc, đâu là thuộc tính không cần thiết và đâu là thứ mà khoa cần phải tích cực cải tiến hơn
để đáp ứng đến mức cao nhất sự hài lòng của sinh viên
Bên cạnh đó bằng việc khảo sát thực tế như vậy, bản thân mỗi sinh viên cũng như khoa
sẽ nhận thấy được thực trạng đào tạo sinh viên của hiện tại đang thiếu sót những kỹ năng
gì thông qua những đánh giá đó, khoa đã đáp ứng được bao nhiêu phần trăm về chất lượng giảng dạy, đào tạo so với mong muốn thực tế của sinh viên
Thông qua việc nhận thức thực trạng và có được kết quả đánh giá của sinh viên liệu có hài lòng hoặc không hài lòng với chất lượng đào tạo hiện tại, sinh viên cũng như khoa
sẽ tìm ra những giải pháp để đáp ứng cao nhất những mong muốn về những thiếu sót hiện tại của khoa liên quan đến việc trau dồi cũng như rèn luyện thêm cho sinh viên những kỹ năng mềm cần thiết bên cạnh trình độ chuyên môn để có thể hoà nhập tốt nhất vào môi trường làm việc sau khi ra trường
1.2 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên khoa Quản lí công nghiệp trường Đại học Bách Khoa TP.HCM, cụ thể sinh viên các khóa: K19, K18, K17, trước K17
1.3 Phạm vi nghiên cứu
tích khảo sát và đưa ra phương án bắt đầu từ ngày 01/04/2021
TP.HCM
nghiệp về việc khoa đã và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kĩ năng sinh viên
Trang 52 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Nguyên tắc của mô hình Kano
dụng một mô hình để giúp đội ngũ thiết kế hiểu được yêu cầu và tầm quan trọng của sản phẩm xét từ góc độ của khách hàng Họ nhận thấy rằng việc thực hiện các yêu cầu nhất định của khách hàng sẽ chỉ ảnh hưởng đến sự hài lòng hoặc không hài lòng của khách hàng Và từ đó họ đã tạo ra một hệ thống gọi là mô hình Kano và được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp trên thế giới hiện nay
Mô hình Kano hoạt động dựa trên việc phân tích những yêu cầu của khách hàng và sau
đó phân loại chúng vào các loại tính năng trong đó có tính năng phải có (must be), tính năng thu hút (attractive), Một ví dụ về tính năng “phải có” để minh họa rõ hơn là sinh viên gửi xe khi đi học – nếu trường có nhà xe đủ chỗ chứa cho các sinh viên, điều này
sẽ không ảnh hưởng đến cảm nhận của sinh viên vì họ cảm thấy đó là chuyện đương nhiên; nhưng nếu họ không thể có chỗ để gửi vì nhà xe đã quá tải thì họ sẽ cảm thấy rất không hài lòng
Để có thể phân loại các yêu cầu vào các nhóm tính năng này, chúng ta cần phải sử dụng bảng câu hỏi Kano Đó là một cặp câu hỏi tương phản lẫn nhau: câu hỏi chức năng (dạng tích cực) và câu hỏi phản chức năng (dạng tiêu cực) Câu hỏi dạng tích cực là những câu
có dạng nếu sự vật, sự việc này được đáp ứng thì bạn sẽ cảm thấy thế nào? Và sẽ có 5 cấp độ cho người trả lời từ rất hài lòng đến rất không hài lòng Như ví dụ ở trên thì câu hỏi được đặt ra sẽ là nếu nhà xe của trường đáp ứng được nhu cầu gửi xe của các sinh viên thì sinh viên sẽ cảm thấy thế nào? Dạng câu hỏi như thế này sẽ giúp khảo sát mức
độ hài lòng của khách hàng khi được đáp ứng các yêu cầu cụ thể Trong khi đó, câu hỏi
dạng tiêu cực sẽ là nếu sự vật, sự việc này không được đáp ứng thì bạn sẽ cảm thấy thế
nào? Tương tự thang đáng giá dành cho người được khảo sát cũng có 5 cấp độ từ rất hài
lòng đến rất không hài lòng Ngược với câu hỏi trên sẽ là nếu nhà xe của trường không
đáp ứng được nhu cầu gửi xe của các sinh viên thì sinh viên sẽ cảm thấy thế nào? Câu hỏi dạng này chỉ ra việc không đáp ứng đầy đủ yêu cầu thì ảnh hưởng đến sự hài lòng của người trả lời như thế nào Như vậy với mỗi dạng câu hỏi thì câu trả lời sẽ là 1 cấp
độ nào đó trong 5 cấp độ, kết hợp câu trả lời của câu tích cực và câu tiêu cực sẽ cho ra tối đa 25 (5 × 5) sự kết hợp Bảng 1 dưới đây có chứa 25 tổ hợp đó và được xếp vào các loại tính năng là M(Must Be), O(One-Dimensional), A(Attractive), I(Indifferent), R(Reverse), Q(Questionable)
Hình 1 dưới đây trình bày rõ hơn việc khảo sát ví dụ “sinh viên gửi xe khi đi học” và việc xếp nó vào tính năng phải có (Must be)
Trang 6Nếu nhà xe của trường đáp ứng
được nhu cầu gửi xe của các sinh
viên thì sinh viên sẽ cảm thấy thế
Nếu nhà xe của trường không đáp
ứng được nhu cầu gửi xe của các
sinh viên thì sinh viên sẽ cảm thấy
Tôi thích thế
Nó phải như vậy
Sao cũng được
Chấp nhận được
Tôi không thích Tôi thích
Nó phải như vậy
2.2 Các loại tính năng và phương pháp phân loại chúng trong mô hình Kano
Mô hình Kano hiện nay bao gồm sáu loại tính năng:
Trang 7 Must Be (M)-tính năng phải có: nghĩa là những yêu cầu này sẽ không được khách hàng thể hiện ra, tuy nhiên phải tự động đáp ứng nhưng chỉ ở mức độ vừa đủ để không dẫn đến sự kém hài lòng của khách hàng vì đây là những tính năng tối thiểu nhất của một sản phẩm và dịch vụ mà tổ chức phải đạt được Khách hàng cảm thấy những tính năng đó là đương nhiên, là cơ bản nên dù tổ chức có đáp
không có nhóm tính năng này thì sản phẩm sẽ mất đi cái bản chất, mất đi cái giá trị cốt lõi Tuy nhiên nếu tổ chức không đáp ứng được tính năng loại này thì khách hàng sẽ rất bực bội và không hài lòng Đối với sản phẩm hay dịch vụ thì đó chính
là những tính năng nền tảng, không có nó thì mọi sự đáp ứng khác dù là tốt nhất cũng trở nên vô nghĩa; vì vậy tổ chức phải ưu tiên thực hiện nó trước
Ví dụ: điện thoại phải nghe gọi được, đồng hồ phải xem giờ được,
One-dimensional (O)-tính năng một chiều: nghĩa là nếu tổ chức đáp ứng được càng nhiều các tính năng một chiều này thì sự hài lòng của khách hàng sẽ tăng lên một cách tuyến tính Đây là tính năng mà khách hàng có thể cần khặc không
hài lòng Tuy nhiên, việc triển khai các tính năng loại này sẽ kéo giá thành của sản phẩm tăng lên Vì vậy, cần phải cân bằng sao cho vừa đảm bảo được sự hài lòng của khách, vừa đảm bảo được giá thành sản phẩm
đồng hồ ngoài xem giờ thì có thể đo được nhịp tim, đo số bước chân,
độc đáo mà khi khách hàng trải nghiệm sẽ cảm thấy phấn khích, trầm trồ trước tính năng của sản phẩm Những tính năng này sẽ làm khách hàng thảo mãn và tăng sự hài lòng theo cấp số nhân tuy nhiên rất khó xác định vì chúng tiềm ẩn Chúng có thể chỉ chiếm một chi phí rất nhỏ trong sản phẩm nhưng lại khiến khách hàng rất kinh ngạc Khi một tổ chức tạo ra được một sản phẩm chứa tính năng loại này thì sản phẩm sẽ trở nên cực kì độc đáo và tổ chức có thể bán nó với một mức giá cao, thậm chí cao gấp 3 đến 5 lần chi phí sản xuất mà vẫn đảm bảo doanh
dù không có cũng không làm giảm sự thỏa mãn của khách hàng, vì ngay từ đầu
họ không nghĩ rằng là sản phẩm của bạn sẽ có
dụng, công nghệ sạc không dây,…
Indifferent (I)-tính năng không quan trọng: Đây là nhóm tính năng không thể xác định rõ ràng là nó làm tăng hay giảm sự hài lòng của khách hàng Dù có nhóm tính năng này hay là không thì khách hàng cũng không quan tâm Trong hầu hết các trường hợp, họ thậm chí còn không biết về các loại tính năng này
Ví dụ: Bao bì đóng gói của các sản phẩm: khách hàng không quan tâm nó có hình dạng như thế nào, độ dày ra sao vì vậy các nhà sản xuất cần tính toán kết cấu của bao bì để tối thiểu chi phí đóng gói
Reverse (R)-tính năng không mong muốn, và nếu sản phẩm càng có nhiều những tính năng đó thì sự hài lòng của khách hàng sẽ giảm xuống Có thể một số chức năng, thuộc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ đi ngược lại với những gì khách hàng muốn và mong đợi nên họ cảm thấy không hài lòng Điều này thường xảy ra khi
Trang 8các thương hiệu không nhận thức đúng đối tượng mục tiêu mà sản phẩm của họ hướng tới
Ví dụ: Công nghệ tiên tiến trên điện thoại có thể gây khó khăn và bất tiện cho người cao tuổi sử dụng vì sự phức tạp của nó
Questionable (Q)-tính năng chưa rõ Đó có thể là những tính năng mà khách hàng chưa từng trải nghiệm hoặc chưa hiểu rõ và thậm chí là hiểu sai nên họ mâu thuẫn trong việc xác định cảm nhận của mình Có thể họ cho rằng họ sẽ rất hài lòng nếu
có tính năng này, nhưng nếu không có thì họ vẫn sẽ hài lòng Đây là loại tính năng gây khó khăn trong khi khảo sát và phân tích nên thường không xuất hiện trong khi phân tích mô hình Kano
Thông thường, người ta thường xếp ba tính năng ‘Must be’(M), dimensional’(O) và ‘Attractive’(A) thành một nhóm tính năng ưu tiên đi cùng với nhau Nhóm tính năng còn lại bao gồm 2 loại là ’Reverse’(R) và
‘One-‘Indifferent’(R)
Hình 2: Mô hình Kano
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế phương pháp thực hiện
Bài nghiên nghiên cứu được thực hiện dựa trên yêu cầu bài tập lớn môn Quản lý sản xuất – IM2031 của Khoa Quản lý Công nghiệp trường Đại Học Bách Khoa Tp.HCM với mục đích phát triển các phương án đề xuất nhằm cải tiến chất lượng Chương trình đào tạo Cử nhân khoa Quản lý Công nghiệp (BKU) thông qua việc phân loại các dạng
nghiên cứu được thực hiện dựa trên kết quả bài nghiên cứu “Nghiên cứu đánh giá giáo
dục” (Studies in Educational Evaluation, 2020) của Jawad Abbas qua việc xác định
những nhu cầu hay “tiếng nói khách hàng” có sức ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng đào tạo của các sinh viên đang học tại Turkey liên quan đến phương diện “Phát triển kỹ năng sinh viên” bao gồm hai khía cạnh chính là: Các hoạt động ngoại khóa và Phát triển bản thân
Trang 9Biểu đồ 1 Các bước tiến hành nghiên cứu Bài nghiên cứu tập trung vào việc thu thập các dữ liệu định tính để tiến hành phân loại
những sinh viên thuộc CTĐT đang nghiên cứu Tuy nhiên, để bổ trợ cho việc đánh giá
và phân tích giảm bớt sai sót, việc thu thập và phân tích các dữ liệu định lượng cũng được sử dụng trong bài nhằm đo lường mức độ hài lòng và so sánh mức độ đáp ứng theo từng nhu cầu của sinh viên (VOC) từ đó có cái nhìn tổng thể để hoạch định và triển khai những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện chất lượng đào tạo cử nhân tại khoa
3.2 Mẫu thử và thu thập thông tin
Bài nghiên cứu tập trung vào việc cải thiện chất lượng CTĐT Cử nhân khoa Quản lý Công nghiệp do đó đối tượng mẫu thử nghiên cứu nhắm tới là các sinh viên thuộc hệ CTĐT này Mẫu khảo sát nghiên cứu được thực hiện thông qua “khảo sát online” bằng việc sử dụng trang mạng “Google Drive” Để đảm bảo kết quả số liệu chính xác nên mẫu nghiên cứu giới hạn phạm vi người làm bằng cách gửi khảo sát trực tiếp đến sinh viên trong hệ đào tạo và yêu cầu truy cập bằng tài khoản mạng (Gmail) của trường - tức
có đuôi @hcmut.edu.vn và hạn chế số lần làm khảo sát là 01 lần (có thể chỉnh sửa sau
khi nộp) Kết quả khảo sát thu thập được bao gồm 32 sinh viên, trong đó có 27 sinh viên
là nữ và 5 sinh viên là nam Ngoài ra, mẫu thử phân tích được lựa chọn ngẫu nhiên – tức không chỉ định cụ thể đối tượng khảo sát Tuy nhiên để đảm bảo cho những sai sót do sinh viên chưa thực sự hiểu rõ và có những trải nghiệm ở khoa, các sinh viên được tiến hành khảo sát đều phải trải qua ít nhất hai học kỳ tại khoa
Tuân theo các nguyên tắc ước lượng khoảng tin cậy về cỡ mẫu lớn (n=32,n ≥ 30) để tính giá trị trung bình của các mức độ thuộc tính hay sự hài lòng của sinh viên Bài nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp thống kê căn bản là thống kê mô tả và thống kê suy diễn Các giá trị tính trong bài được chọn làm cơ sở… để ước lượng và phân tích các thuộc tính cho toàn bộ đối tượng thuộc CTĐT Cử nhân khoa QLCN Các dữ liệu được
Trang 10thu thập trong mẫu khảo sát và toàn bộ quá trình làm bài chỉ phục vụ cho mục tiêu phân tích đã được đề cập như trên Biểu mẫu khảo sát được thiết kế nhằm trả lời các câu hỏi chủ yếu sau đây:
1 Trong quá trình học tập tại khoa nếu tôi được Trường/Khoa cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất cho hoạt động thể thao (nâng cao sức khỏe thể chất) và giải trí (nâng cao sức khỏe tinh thần)
2 Vì một vài lí do nào đó mà trong các cuộc thi thể thao của trường như: BK League, khoa QLCN hầu như là luôn đứng chót bảng Theo bạn khoa có cần bổ sung/thêm vào các hỗ trợ "tài chính" (tiền thưởng) và "phi-tài chính" ( động viên, cổ vũ, khuyến khích, ) để cải thiện kết quả trên không?
3 Khoa thường xuyên (định kỳ/có kế hoạch) tổ chức các hoạt động ngoại khóa (các hoạt động về thể thao, văn hóa, nghệ thuật, ) Mục đích: tạo dựng môi trường đa dạng và phong phú cả về năng lực học thuật và cả về sở thích cá nhân cho sinh viên?
4 Khoa có truyền đạt, hướng dẫn sinh viên phát triển các kỹ năng về "lãnh đạo" (leadership) và kỹ năng trở thành "thành viên tích cực" (đóng góp, hoạt động năng nổ, ) trong nhóm?
5 Khoa có môi trường tốt, tạo điều kiện phát triển các kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, ?
6 Khoa có môi trường tốt, tạo điều kiện phát triển sự tự tin (self-confidence) và ổn định cảm xúc (ít hoặc không có khuynh hướng buồn bã, ủ rũ, cảm xúc không ổn định)?
7 Môi trường học tập tại khoa thúc đẩy phát triển tính chấp nhận thử thách và bình đẳng ở sinh viên?
8 Khoa có tạo điều kiện phát triển khả năng trí tuệ cho sinh viên (sáng tạo, ra quyết định, nâng cao khả năng làm việc, ) không?
9 Khoa có tạo điều kiện "rèn dũa" tính có trách nhiệm, quản lý thời gian, sắp xếp công việc cho sinh viên không?
Mỗi câu hỏi yêu cầu người thực hiện phải hoàn thành ba phần phụ thuộc vào nội dung câu hỏi sau: Nếu có? Nếu không? Đánh giá mức độ hài lòng Có 5 cấp độ câu trả lời được lựa chọn theo lý thuyết mô hình Kano:
1 Tôi thích thế (I like it that way)
2 Nó phải như vậy (It must be that way)
3 Sao cũng được (I am neutral)
4 Chấp nhận được (I can live with it that way)
5 Tôi không thích (I dislike it that way)
Ngoài ra một số câu hỏi phụ cũng được đưa ra để thu nhận những góp ý từ sinh viên như: Bạn có góp ý gì thêm cho khoa để tạo điều kiên phát triển kỹ năng cho bản thân tại khoa không?; Theo bạn khoa nên đầu tư, tạo điều kiện phát triển thêm những hoạt động,
kỹ năng nào để phát triển khả năng nghề nghiệp sau này của bạn? Theo bạn tại sao có nhiều sinh viên khoa QLCN lại ưu tiên tham gia các câu lạc bộ hay các hoạt động ngoại khóa của khoa khác hơn là khoa mình? Thời gian làm bài dự tính trong khoảng từ 5-8 phút cho 1 lần làm khảo sát
Trang 11Câu 1: Trong quá trình học tập tại khoa nếu tôi được Trường/Khoa cung cấp đầy đủ
cơ sở vật chất cho hoạt động thể thao (nâng cao sức khỏe thể chất) và giải trí (nâng cao sức khỏe tinh thần)
Trang 12Theo khảo sát mức độ hài lòng đa số sinh viên đều đang hài lòng nhưng mức độ chưa cao
Câu 2: Vì một vài lí do nào đó mà trong các cuộc thi thể thao của trường như: BK League, khoa QLCN hầu như là luôn đứng chót bảng Theo bạn khoa có cần bổ sung/thêm vào các hỗ trợ "tài chính" (tiền thưởng) và "phi-tài chính" ( động viên,
cổ vũ, khuyến khích, ) để cải thiện kết quả trên không?
Đánh giá mức độ hài lòng
Tỷ lệ hài lòng vẫn còn đang ở mức thấp, khoa cần tăng cường thêm các hoạt động thể dục thể thao giúp sinh viên rèn luyện, ngoài ra cần tăng cường thêm các hoạt động hỗ trợ để nâng cao vị trí xếp hạng
Trang 13Câu 3: Khoa thường xuyên (định kỳ/có kế hoạch) tổ chức các hoạt động ngoại khóa (các hoạt động về thể thao, văn hóa, nghệ thuật, ) Mục đích: tạo dựng môi trường
đa dạng và phong phú cả về năng lực học thuật và cả về sở thích cá nhân cho sinh viên
Mức độ hài lòng đã ở mức cao có thể không cần phải tăng thêm các hoạt động về lĩnh vực này vì khoa đã đang làm các hoạt động này rất tốt được sinh viên đánh giá cao
Một số góp ý của sinh viên về các hoạt động ngoại khóa của khoa qua khảo sát:
Tích cực đẩy mạnh các hoạt động ngoại khóa của khoa về cả quy mô và cách tổ chức