Con người, từ khá sớm trong lịch sử nhận thức cho đến tận hôm nay vẫn được nhiều học thuyết khoa học xã hội coi là vị trí trung tâm của sự phát triển. Theo thời gian, quan điểm về phát triển con người đã được thừa kế, bổ sung, được Liên hợp quốc và nhiều quốc gia đề cao và chú trọng thực hiện trong chương trình phát triển kinh tế xã hội, nhằm đạt tới mục tiêu phát triển bền vững. Ngày nay, với sự phát triển liên tục và ngày càng ấn tượng của thế giới và nhiều quốc gia, quan điểm phát triển thuần tuý chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế (tốc độ tăng GDP) đôi khi không còn ý nghĩa tích cực và tính thời sự. Bởi nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không chú ý tới các vấn đề xã hội, không chú ý tới xoá đói giảm nghèo, bỏ qua các vấn đề y tế, giáo dục thì sự phát triển ấy không đem lại lợi ích chung cho con người. Nhiều quốc gia, tuy có tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhưng tỷ lệ nghèo đói vẫn lớn, số người mù chữ vẫn nhiều, tuổi thọ của người dân vẫn thấp. Từ thực tế đó, đòi hỏi phải có một quan điểm và cách tiếp cận khác đối với vấn đề phát triển.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA KINH TẾ -
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ TOÀN CẦU HÓA 3
1.1 Khái niệm về HDI 3
1.2 Mục đích và ý nghĩa của HDI 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Ý nghĩa 3
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số HDI 4
1.3.1 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số tuổi thọ 4
1.3.2 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giáo dục 4
1.3.3 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số thu nhập 5
1.3.4 Nhóm các yếu tố khác ảnh hưởng đến HDI 5
PHẦN 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 7
2.1 Thành tựu chủ yếu trong phát triển con người Việt Nam 7
2.2 Một số vấn đề trong phát triển con người ở Việt Nam 10
PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ 13
3.1 Phát huy lợi thế so sánh, phát triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và đẩy mạnh CNH, HĐH 13
3.2 Phát triển bền vững khu vực nông thôn 13
3.3 Đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững 14
3.4 Phát triển hài hoà các lĩnh vực văn hoá xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 14
3.5 Giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn 15 3.6 Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Con người, từ khá sớm trong lịch sử nhận thức cho đến tận hôm nay vẫnđược nhiều học thuyết khoa học xã hội coi là vị trí trung tâm của sự phát triển.Theo thời gian, quan điểm về phát triển con người đã được thừa kế, bổ sung,được Liên hợp quốc và nhiều quốc gia đề cao và chú trọng thực hiện trongchương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đạt tới mục tiêu phát triển bềnvững
Ngày nay, với sự phát triển liên tục và ngày càng ấn tượng của thế giới vànhiều quốc gia, quan điểm phát triển thuần tuý chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế(tốc độ tăng GDP) đôi khi không còn ý nghĩa tích cực và tính thời sự Bởi nếuchỉ tăng trưởng kinh tế mà không chú ý tới các vấn đề xã hội, không chú ý tớixoá đói giảm nghèo, bỏ qua các vấn đề y tế, giáo dục thì sự phát triển ấy khôngđem lại lợi ích chung cho con người Nhiều quốc gia, tuy có tốc độ tăng trưởngGDP cao, nhưng tỷ lệ nghèo đói vẫn lớn, số người mù chữ vẫn nhiều, tuổi thọcủa người dân vẫn thấp Từ thực tế đó, đòi hỏi phải có một quan điểm và cáchtiếp cận khác đối với vấn đề phát triển
“Human Development’ là khái niệm bằng tiến Anh để chỉ sự phát triểnkhông phải là tăng trưởng kinh tế thuần tuý Đó sự phát triển có tính nhân văn,tổng hợp giữa các vấn đề kinh tế và các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế Bảnchất của nó được thể hiện ở quá trình mở rộng sự lựa chọn cũng như nâng caonăng lực lựa chọn cho người dân Để đo lường phát triển có tính nhân văn (pháttriển con người), cần phải có một chỉ số tổng hợp, đó là chỉ số phát triển conngười (HDI)
Mục đích của việc tính toán HDI là tìm ra một số chỉ tiêu tổng hợp phảnánh một cách toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và vùnglãnh thổ bên cạnh một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp vĩ mô khác như tốc độ tăngtrưởng GDP, GDP bình quân đầu người Đồng thời thông qua cấu thành củaHDI để phân tích chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đề ra các khuyến cáo
Trang 4góp phần khắc phục tình trạng bất cập giữa phát triển kinh tế và phát triển xãhội.
Để so sánh, đánh giá một cách toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội mỗiquốc gia, vùng lãnh thổ thì việc tính Chỉ số phát triển con người là cần thiết.Đây cũng là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp, bao quát, phản ánh mối liên hệ giữa pháttriển kinh tế với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, đáp ứng được mục tiêu
mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra
Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Chỉ số pháttriển con người là cần thiết phục vụ cho công tác đánh giá một cách toàn diện sựphát triển kinh tế - xã hội ở cả cấp vĩ mô và vi mô Đó cũng là mục tiêu của đề
tài nghiên cứu khoa học “Giải pháp nâng cao chỉ số phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá”.
Trang 5PHẦN 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ TOÀN CẦU HÓA
1.1 Khái niệm về HDI
- Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số
so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tốkhác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sựphát triển của một quốc gia (hoặc một địa phương)
1.2 Mục đích và ý nghĩa của HDI
- Vì là thước đo tổng hợp sự phát triển, nên HDI được sử dụng để làmcông cụ quản lý và đề ra chính sách Trên cơ sở tính toán HDI và các chỉ sốthành phần, các nhà quản lý và những người đề ra chính sách dễ dàng phát hiệnnhững khía cạnh non yếu để từ đó có những giải pháp thích hợp nhằm nâng caonăng lực lựa chọn cho người dân và mở rộng phạm vi lựa chọn cho người dân;
- HDI được sử dụng làm một trong những chỉ tiêu thống kê quan trọngcủa các hệ thống chỉ tiêu phát triển của thế giới, của các khu vực, các hiệp hội,như của Liên hợp quốc, ESCAP, ASEAN, vv ;
- HDI được đưa vào mục tiêu phấn đấu trong các Chiến lược phát triểnngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn của các quốc gia;
- HDI được sử dụng trong các công trình phân tích kinh tế - xã hội;
Trang 6- HDI được sử dụng để so sánh quốc tế trình độ phát triển giữa các khuvực, các nhóm nước, các quốc gia, hay thậm chí giữa các vùng và các tỉnh,thành phố trong một quốc gia.
Như vậy, việc tính toán HDI ở nước ta hiện nay đã trở thành vấn đề cấpthiết để theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội mà Đảng và Chính phủ đề ra, để so sánh quốc tế trình độ phát triển ởnước ta với các nước khác, để hội nhập với cộng đồng quốc tế, nhất là ở giaiđoạn hiện nay của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước trong bốicảnh toàn cầu hoá
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số HDI
1.3.1 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số tuổi thọ
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi: Tỷ suất chết
của trẻ dưới 1 tuổi cho biết trung bình cứ 1000 trẻ dưới 1 tuổi có bao nhiêu trẻ bịchết khi chưa đạt 1 tuổi Tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi lại phụ thuộc vào rấtnhiều các yếu tố như: vấn đề chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ phụ nữ khimang thai và trẻ sơ sinh, chất lượng khám chữa bệnh, cơ sở hạ tầng y tế, cácchương trình tiêm chủng, chất lượng dân số và kế hoạch hoá gia đình, Các yếu
tố này được quan tâm, đầu tư sẽ làm giảm tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi và sẽgóp phần nâng cao chỉ số tuổi thọ và chỉ số HDI
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất dân số trên 65 tuổi: Tỷ suất dân số
trên 65 tuổi là tỷ suất tổng số người từ 65 tuổi trở lên trên tổng số dân, tỷ suấtnày càng lớn thì tuổi thọ trung bình càng cao Các yếu tố về dinh dưỡng, ditruyền, công tác chăm sóc sức khoẻ y tế, lao động việc làm, thiên tai, bệnh tật, ônhiễm môi trường, chiến tranh là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tuổithọ Và từng bước cải thiện đời sống vật chất, nâng cao đời sống tinh thần vàmôi trường sống cho người dân chính là từng bước nâng cao tuổi
1.3.2 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giáo dục
Trang 7- Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số người lớn biết chữ: Chỉ số người lớn
biết chữ phụ thuộc vào tỷ lệ người lớn biết chữ, hay tỷ lệ số người lớn (từ 15tuổi trở lên) biết chữ trên tổng số người lớn (tổng số người từ 15 tuổi trở lên).Các yếu tố dạy và học, cụ thể ở đây đó là các chương trình giáo dục quốc gia,các chương trình phổ cập giáo dục các cấp, sự quan tâm đầu tư của toàn xã hộiđối với giáo dục đào tạo, ý thức học tập của người dân là những yếu tố cơ bản,chủ yếu ảnh hưởng đến chỉ số người lớn biết chữ
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số nhập học tổng hợp: Chỉ số nhập học
tổng hợp phụ thuộc vào tỷ lệ nhập học tổng hợp, hay tỷ lệ số người đi học cáccấp từ tiểu học đến đại học trên tổng dân số từ 6 đến 24 tuổi Tỷ lệ nhập họccàng cao thì chỉ số nhập học càng lớn Tỷ lệ nhập học phụ thuộc vào các chươngtrình giáo dục quốc gia, các chương trình phổ cập giáo dục các cấp, cơ sở hạtầng và quy mô của các trường, nhu cầu đào tạo của xã hội, đầu tư của xã hộicho giáo dục đào tạo, truyền thống, nhận thức của người dân Đây cũng lànhững yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giáo dục và chỉ số HDI
1.3.3 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số thu nhập
- Thu nhập bình quân đầu người là một trong những chỉ tiêu quan trọngcủa tất cả các quốc gia cũng như các tỉnh, thành phố, vì nó phản ánh trực tiếpmức sống vật chất của dân cư Nước nào, tỉnh nào có thu nhập bình quân đầungười cao, nơi đó đời sống vật chất của một bộ phận lớn của người dân cao Để
có thu nhập thì phải có sản xuất để tạo ra sản phẩm cho xã hội, muốn thu nhậpngày càng cao cần phát triển và mở rộng quy mô sản xuất Và như vậy cácchương trình, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế, các vấn đề về vốn cho sảnxuất, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, các hoạt động dịch vụ, ứng dụng khoa học côngnghệ, thu hút và sử dụng các nguồn lực, giải quyết vấn đề lao động việc làm,phát triển dân số, là những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, ảnh hưởng đến chỉ
số thu nhập và HDI
1.3.4 Nhóm các yếu tố khác ảnh hưởng đến HDI
Trang 8Bên cạnh các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số tuổi thọ, ảnh hưởng đếnchỉ số giáo dục và chỉ số thu nhập, còn có một số yếu tố khác ảnh hưởng chungđến HDI đó là: các yếu tố lịch sử, truyền thống dân tộc, phong tục tập quán củađịa phương cũng như các yếu tố ảnh hưởng quốc tế.
Trang 9PHẦN 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
2.1 Thành tựu chủ yếu trong phát triển con người Việt Nam
2.1.1 Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng lên
Chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng lên đáng kể sau hơn 30 năm đổi mới, từ0,439 (năm 1990) lên 0,559 (năm 1995), 0,687 (năm 2000), 0,714 (năm 2005),0,718 (năm 2006,) 0,725 (năm 2007) và 0,752 (năm 2009) Từ năm 2010, cáchtính chỉ số HDI của UNDP có sự thay đổi: (1) Chỉ số tri thức: thay tiêu chí tỷ lệngười lớn biết chữ bằng số năm đi học bình quân và số năm đi học kỳ vọng; (2)Chỉ số thu nhập: thay tiêu chí GDP bình quân đầu người bằng GNI bình quânđầu người Theo cách tính mới này, chỉ số HDI của hầu hết các nước đều giảmxuống và Việt Nam cũng không ngoại lệ
Như vậy, dù tính theo cách nào thì chỉ số HDI của Việt Nam vẫn có xuhướng tăng lên Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1990-2018 của Việt Nam là1,36%, trong khi của Thái Lan là 1,03%, Indonesia là 1,07%, Philippin là 0,67%
2.1.2 Các chỉ số thành phần của HDI đều tăng khá nhanh
Trang 10Chỉ số sức khỏe: tăng từ 67,6 tuổi năm 1980 lên 75,3 tuổi năm 2018 Sốgiường bệnh tăng từ 192,3 nghìn giường năm 1990 lên 308,4 nghìn giường năm
2018 và tương ứng số bác sỹ tăng từ 31 nghìn lên 84,8 nghìn người Chỉ số thunhập: GNI bình quân đầu người tăng từ 850 USD năm 1990 lên 6.220 USD năm
2018 (tính theo PPP) Chỉ số tri thức: Số năm đi học kỳ vọng tăng từ 7,8 năm(năm 1990) lên 12,7 năm (năm 2018) và số năm đi học bình quân tăng từ 4,0năm (năm 1990), lên 8,2 năm (năm 2018)
2.1.3 Gia tăng số địa phương có HDI rất cao, cao, trung bình cao và giảm nhanh số địa phương có HDI trung bình, trung bình thấp, thấp
Năm 1999, cả nước chỉ có tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong nhóm có HDIrất cao (HDI>0,80), đến năm 2012, có thêm thành phố Hồ Chí Minh và ĐàNẵng Năm 2004, cả nước có 2 địa phương nằm trong nhóm có HDI cao(0,75<HDI<0,80) là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, đến năm 2012 đã có
12 tỉnh, thành thuộc nhóm này
Sự gia tăng số lượng các tỉnh, thành phố trong nhóm có HDI trung bìnhcao (0,70<HDI<0,75) cũng rất đáng kể Năm 1999 chỉ có 4 tỉnh, thành phố, năm
2004, con số này là 7 và năm 2012 tăng lên 35 tỉnh, thành phố Do đó, đến năm
2012, Việt Nam đã có 50/63 tỉnh, thành phố nằm trong nhóm có HDI từ trungbình cao trở lên
Số lượng các tỉnh ở nhóm có HDI thấp (HDI<0,50), nhóm trung bình thấp(0,50 < HDI < 0,60) và nhóm trung bình (0,60 < HDI < 0,70) đã giảm đi nhanhchóng Năm 2004, cả nước có 53 tỉnh, thành phố thuộc các nhóm trên, đến năm
2012 không còn tỉnh nào trong nhóm HDI thấp, 1 tỉnh thuộc nhóm HDI trungbình thấp và 11 tỉnh nằm trong nhóm HDI trung bình (năm 2004 là 47 tỉnh)
2.1.4 Gia tăng tỷ trọng dân cư nhóm thu nhập cao, trung lưu, giảm tỷ trọng dân cư nhóm nghèo và cận nghèo
Tỷ trọng dân cư thuộc nhóm thu nhập cao năm 2004 là 3,4%, đến năm
2012 tăng lên 7,0%; nhóm trung lưu lớp trên tăng từ 2,7% năm 2004 lên 6,7%
Trang 11năm 2012; nhóm trung lưu lớp dưới tăng nhanh chóng từ 28,4% năm 2004 lên47,8% năm 2012 Tỷ trọng của nhóm dân cư nghèo và cận nghèo giảm dần,tương ứng từ 26,7% và 38,8% năm 2004 xuống còn 12,4% và 26,1% năm 2012.
Năm 2018, Việt Nam có 13% dân số thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩnthế giới Tầng lớp này đang phát triển nhanh chóng, tăng hơn 20% trong giaiđoạn 2010-2017 Từ năm 2014 đến 2018, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu ngườiViệt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu(8) Tỷ lệ người nghèo giảmnhanh từ mức 58% (năm 1993) xuống 28,9% (năm 2002) và 5,8% (năm 2016)
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cũng giảm nhanh từ 9,2% (năm 2016) xuống 7,8%(năm 2017), 6,8% (năm 2018) và ước còn khoảng 3,73 - 4,23% (năm 2019)
2.1.5 Chỉ số phát triển giới đạt nhiều tiến bộ
Theo Báo cáo phát triển con người 2019 của UNDP, chỉ số Bất bình đẳnggiới của Việt Nam là 0,314, xếp thứ 68/189 nước trên thế giới So với các nướctrong khu vực ASEAN, Việt Nam chỉ đứng sau Singapore (số liệu tương ứng là0,065; 11/189 và Malaysia là 0,274; 58/189) và đứng trên Thái Lan (0,377;84/189); Philippin (0,425; 98/189); Indonesia (0,451; 103/189); Lào(0,463;110/189) và Campuchia (0,474; 114/189)
Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đã liên tục tăng từ 17,7% nhiệm kỳ
1987-1992 lên 18,84% nhiệm kỳ 1987-1992-1997, 26,2% nhiệm kỳ 1997-2002 và 27,3%nhiệm kỳ 2002-2007 Nhiệm kỳ 2007-2011 giảm nhẹ còn 25,8% (đứng thứ 31thế giới), nhiệm kỳ 2011-2016 là 24,4% (cao thứ 2 trong khu vực và thứ 43 trênthế giới) Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là 25,2%, cấp huyện là24,6%, cấp xã là 21,7% Năm 2018, tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội đạt26,7%, trong khi của Thái Lan là 5,3%; Malaysia 15,8%; Indonesia 19,8%,Campuchia 19,3%, Myanmar 10,2%
2.1.6 An sinh xã hội đạt nhiều kết quả tốt đẹp
Sau hơn 3 thập kỷ đổi mới, an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả ấntượng Năm 2017, số người tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) là 13,82 triệu
Trang 12người, số người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là 81,189 triệu người và sốngười tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là 11,539 triệu người Số người vàlượt người được hưởng BHXH, BHYT, BHTN cũng ngày càng tăng lên Năm
2010, số người hưởng BHXH hàng tháng là 2.403,0 nghìn người, năm 2017 là3.026,5 nghìn người Số lượt người hưởng BHXH 1 lần tăng từ 647,7 nghìn lượtngười năm 2010, lên 863,7 nghìn lượt người năm 2017; Số lượt người đượckhám chữa bệnh BHYT năm 2010 là 106 triệu lượt người, tăng lên 169,9 triệulượt người năm 2017 và số người được giải quyết hưởng BHTN tăng từ 157nghìn người năm 2010 lên 706,5 nghìn người năm 2017 Ngoài ra, BHXH ViệtNam còn hỗ trợ cho hàng trăm nghìn người khuyết tật không có khả năng laođộng được nhận trợ cấp hằng tháng; hàng trăm nghìn người dễ bị tổn thươngkhác, như người già cô đơn, trẻ em mồ côi, trẻ có hoàn cảnh khó khăn, ngườisống chung với HIV được trợ cấp bằng tiền và hỗ trợ chăm sóc xã hội Các hộnghèo và dân tộc thiểu số cùng con em của họ được trợ cấp hằng tháng, đượcmiễn học phí, hỗ trợ sản xuất và đào tạo nghề
2.2 Một số vấn đề trong phát triển con người ở Việt Nam
2.2.1 Thành tựu phát triển con người của Việt Nam có xu hướng chậm lại những năm gần đây
Tốc độ tăng chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 1990-2018 liên tục giảmdần (1990-2000: 1,99%/năm, 2000-2010: 1,23%/năm, 2010-2018: 0,74%/năm)
và bình quân đạt 1,36%/năm, thấp hơn của một số nước trong khu vực cùng thời
kỳ như: Lào (1,49%/năm), Campuchia (1,49%/năm), Myanmar (1,85%/năm),Trung Quốc (1,48%/năm)
Trong khu vực ASEAN, năm 1995, HDI của Việt Nam đứng thứ 7/10,năm 2000 và 2003 xếp thứ 6/10, từ năm 2005 đến năm 2018 lại tụt xuống thứ7/11 (chỉ xếp trên Lào, Campuchia, Myanmar và Đông Timor)
2.2.2 Sự cải thiện về thứ bậc xếp hạng HDI của Việt Nam chậm hơn
so với một số nước trong khu vực