BÀI THU HOẠCHLỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊHỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNINTÊN BÀI THU HOẠCH: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TẠI HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II
BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNG K72 A144 (2021 – 2022) TÊN MÔN HỌC:
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
TÊN BÀI THU HOẠCH:
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TẠI HUYỆN ĐỊNH QUÁN,
TỈNH ĐỒNG NAI
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 2
1.1 Một số khái niệm liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế 2
1.1.1 Cơ cấu kinh tế 2
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 3
1.2 Tổng quan về kinh tế tri thức 3
1.3 Sự tác động của phát triển kinh tế tri thức đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 6
PHẦN 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TẠI HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI 9
2.1 Một số nét khái quát về huyện Định Quán 9
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và đơn vị hành chính 9
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 9
2.2 Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện 10 2.2.1 Thuận lợi 10
2.2.2 Khó khăn 11
2.3 Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Định Quán 12
2.3.1 Những mặt đã đạt được 12
2.3.2 Những khó khăn và thách thức 14
PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TẠI HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI 16
3.1 Giải pháp huy động các nguồn vốn đầu tư 16
3.2 Coi trọng phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực 16
3.3 Tích cực triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ 16
3.4 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm 17
3.5 Quán triệt và triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách mới 17
3.6 Tăng cường năng lực quản lý nhà nước 18
PHẦN KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến vượt bậc
trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Để có những thành công đó, một phần rất
quan trọng nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh
tế nói riêng
Tuy nhiên, hiện nay với xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức phát triển
như vũ bão trên quy mô toàn cầu Nền kinh tế tri thức đã ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh
vực trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Không có một quốc gia nào muốn vươn
lên mà nằm ngoài xu thế đó, ngay cả đối với những nước đang phát triển như Việt
Nam Nền kinh tế tri thức dần xuất hiện và có những ảnh hưởng tới mọi mặt trong
mọi hoạt động kinh tế Chính vì vậy, nghiên cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trở thành một vấn
đề hết sức cấp thiết Vì nếu chúng ta có một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, phát huy
được những lợi thế, tiềm năng của đất nước, phù hợp với sự phát triển của nền kinh
tế tri thức thì chúng ta sẽ tạo ra được những bước phát triển nhảy vọt, góp phần nhanh
chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, đuổi kịp các nước phát triển trên thế
giới
Hòa cùng với xu thế phát triển của đất nước, huyện Định Quán cũng đạt được
những bước phát triển trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhưng chuyển dịch còn chậm,
khu vực nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu giá trị gia tăng và giá trị sản
xuất Với một huyện vùng sâu, vùng xa thuộc tỉnh Đồng Nai, nền kinh tế còn kém
phát triển, đời sống dân cư còn thấp, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp Tuy tiềm
năng của vùng không lớn, nhưng chưa khai thác triệt để tiềm năng của vùng
Nhằm tạo nên một sự phát triển, sự chuyển dịch kinh tế theo hướng tốt nhất,
góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tại huyện Định Quán nói riêng
và cả tỉnh nói chung Với mong muốn đóng góp một phần công sức bé nhỏ của mình
cho sự phát triển của huyện nhà, em đã chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong thực tiễn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” để làm bài thu hoạch
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 1.1 Một số khái niệm liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1 Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành kinh tế của một cơ sở, một ngành, một vùng hay một nền kinh té; các bộ phận này quan hệ chặt chẽ với nhau, có tính hệ thống, tác động lẫn nhau để có thể phát triển và được thể hiện bằng tỷ trọng của mỗi bộ phận trong tổng thể, diễn ra trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ
Hệ thống kinh tế hợp thành cơ cấu kinh tế, thường được nghiên cứu theo ba phương diện, tạo thành ba loại hình cơ cấu khác nhau: Cơ cấu ngành kinh tế; Cơ cấu thành phần kinh tế; Cơ cấu vùng lãnh thổ
Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế giữ vai trò quan trọng hơn cả, nó được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất Trong cơ cấu ngành kinh tế có ba ngành hay còn gọi là ba khu vực chính Đó là: khu vực nông nghiệp, khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ
Cơ cấu ngành kinh tế có thể hiểu là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân Đó là thước đo phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động của mỗi quốc gia
Cơ cấu thành phần kinh tế được phân chia dựa trên chế độ sở hữu Cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý sẽ thúc đẩy lực lượng sản suất và phân công lao động xã hội phát triển
Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ được hình thành dựa trên việc bố trí kinh tế theo vùng địa lý Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, xã hội riêng biệt của từng vùng để phát triển các ngành kinh tế phù hợp
Các loại hình cơ cấu kinh tế nói trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể được hình thành và phát triển dựa trên phạm
Trang 5vi vùng lãnh thổ Ngược lại việc xác định cơ cấu vùng, lãnh thổ hợp lý sẽ thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế không ngừng vận động và biến đổi Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
là quá trình làm thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ và chất lượng cấu trúc của các yếu
tố cấu thành nó theo một chiều hướng nhất định Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là xu hướng khách quan, trước hết nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học và công nghệ mà nền kinh tế đó đã đạt được trong mỗi thời kỳ lịch sử Nền kinh tế muốn phát triển thì phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp Sự chuyển dịch đó diễn
ra nhanh hay chậm và theo chiều hướng nào tùy thuộc vào các nhân tố chủ yếu là: Quy mô của nền kinh tế, mức độ mở cửa để hội nhập của nền kinh tế với bên ngoài, lượng dân số, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn nhân lực, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa của từng nước
Ngày nay, với sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu hướng toàn cầu hóa, thế giới bước sang kỷ nguyên của kinh tế tri thức Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đi theo xu hướng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật mới tăng lên nhanh chóng và dần chiếm ưu thế,
tỷ trọng các ngành truyền thống giảm dần Các quốc gia đi đầu trong những lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường sẽ giành vị trí thống trị, áp đảo trong nền kinh tế khu vực và thế giới
Điều đó làm cho các quốc gia khác cũng phải có các chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế toàn cầu
1.2 Tổng quan về kinh tế tri thức
Bên cạnh cách giải thích truyền thống về lịch sử phát triển nhân loại tiếp cận
từ phương thức sản xuất xã hội, vào đầu những năm 90 thế kỷ XX nhiều nhà khoa học còn phân chia giai đoạn lịch sử văn minh nhân loại căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Theo cách này, nhân loại đã trải qua nền văn minh nông nghiệp (từ khi xuất hiện xã hội loài người đến những năm 70 của thế kỷ XVIII) lên nền văn minh công nghiệp (từ những năm 70 thế kỷ XVIII đến nay) và đang trong
Trang 6giai đoạn quá độ chuyển lên một nền văn minh cao hơn gọi là nền văn minh trí tuệ Trong đó, nền kinh tế được chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và đang quá độ chuyển lên kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là gì?
Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, do nhận thức về vai trò quan trọng hàng đầu của sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trong tăng trưởng kinh tế, các nhà khoa học và tổ chức thực tiễn đã sử dụng thuật ngữ “kinh tế tri thức” Thuật ngữ này nhanh chóng được thừa nhận và đưa vào sử dụng rộng rãi Tuy đã có nhiều quan niệm
và giải thích khác nhau về thuật ngữ này, song các nhà khoa học đều có sự thống nhất trong nhận thức về bản chất của nền kinh tế tri thức khác với hai nền kinh tế trước
nó Nếu trong quá trình sản xuất của cải của nền kinh tế nông nghiệp dựa chủ yếu vào sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên, còn trong nền kinh tế công nghiệp tuy đã có sự trợ giúp của máy móc nhưng sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ trọng yếu, thì trong nền kinh tế tri thức, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia
Trên thực tế, không có một nền kinh tế nông nghiệp hay nền kinh tế công nghiệp thuần túy Tức là trong nền kinh tế nông nghiệp cũng đã chứa đựng một số yếu tố của nền kinh tế công nghiệp và trong nền kinh tế công nghiệp cũng vẫn còn một số yếu tố của nền kinh tế nông nghiệp Trong nền kinh tế nông nghiệp, tri thức chủ yếu là những kinh nghiệm được tích lũy từ các hoạt động thực tế, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất đều thấp kém So với nền kinh tế nông nghiệp, trong nền kinh tế công nghiệp, tri thức đã chiếm vị trí ngày càng quan trọng hon Nó không chỉ
là kinh nghiệm từ các hoạt động thực tế, mà còn khám phá ra những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy để đưa ra những sáng chế, phát minh nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả Trong nền kinh tế tri thức, tri thức là bộ phận nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, mà trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất lại đóng vai trò quyết định sự phát triển xã hội
Có nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể thấy, nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản và tiêu chí sau:
Trang 7- Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh
tế có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng, trong đó cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao
- Cơ cấu lao động trong nền kinh tế tri thức có những biến đổi, trong đó lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao, nguồn lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người
- Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố như tài nguyên, đất đai
- Mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa,
có tác động sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên thế giới
Có thể thấy những khác biệt chủ yếu của nền kinh tế tri thức so với nền kinh
tế công nghiệp: (1) Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành nguồn vốn chủ yếu nhất, hơn cả tài nguyên và lao động, tuy hai yếu tố này vẫn là cơ bản không thể thiếu; (2) Trong nền kinh tế công nghiệp chủ đạo là cơ khí hóa, hóa học hóa, điện khí hóa thì trong nền kinh tế tri thức là số hóa và tự động hóa; (3) Chuyển sang kinh tế tri thức là chuyển từ các ngành công nghiệp chế biến sang các ngành công nghiệp công nghệ cao (công nghiệp tri thức), chuyển từ sản xuất vật phẩm sang dịch vụ, đặc biệt
là các ngành dịch vụ dựa nhiều vào tri thức; (4) Tạo ra của cải và nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là nhờ vào nghiên cứu, sáng tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới; (5) Công nghệ đổi mới nhanh chóng, nhiều ngành sản xuất và doanh nghiệp mất đi, nhiều ngành và doanh nghiệp mới ra đời
Như vậy, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế tiếp nối nền kinh tế công nghiệp, phát triển ở trình độ cao hơn nền kinh tế công nghiệp, là nền kinh tế mà nhân loại
đang hướng tới Có thể hiểu kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó sự sản sinh
Trang 8ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đổi với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống
1.3 Sự tác động của phát triển kinh tế tri thức đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Sự phát triển kinh tế tri thức có sự tác động rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế được hình thành chủ yếu từ nguồn lực tự nhiên (đất đai) và sức lao động của con người Còn trong nền kinh tế công nghiệp, lợi thế công nghệ và vốn lại được đánh giá cao cùng với việc phát triển các ngành chế biến với giá trị ngày càng lớn hơn, thì với sự phát triển của kinh tế tri thức lợi thế lớn nhất là kinh tế tri thức từ tri thức sẽ tạo ra công nghệ với trình độ cao và tạo lợi thế cạnh tranh trong các quan hệ kinh tế quốc tế
Về cơ cấu kinh tế, trong kinh tế tri thức, nông nghiệp và công nghiệp vẫn tồn tại và phát triển nhưng chiếm tỷ lệ ngày càng nhỏ, các ngành kinh tế dựa vào tri thức
và những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Sự phát triển khoa học và công nghệ trong kinh tế tri thức tác động đến biến đổi các bộ phận truyền thống trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia theo các hướng sau:
- Hiện đại hóa các ngành truyền thống: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ
Các ngành truyền thống sản xuất ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của con người Ngành nông nghiệp cung cấp cho con người lương thực, thực phẩm, vải vóc vẫn được duy trì để phục vụ cuộc sống con người nhưng sẽ được áp dụng các phương pháp tiên tiến của thời đại kinh tế tri thức như kỹ thuật gen, kỹ thuật
vi sinh góp phần tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao và năng suất vượt trội so với các phương pháp truyền thống truyền lại từ ngàn năm nay
Điều đó cũng tạo ra sự biến đổi xã hội sâu sắc khi càng ngày càng cần ít người hơn để tạo ra một khối lượng sản phẩm nhiều hơn gấp hàng nghìn lần thậm chí hàng triệu lần so với phương pháp truyền thống
Trang 9- Hình thành những ngành mới, những ngành đại diện cho nền kinh tế tri thức
Đó là những ngành, những doanh nghiệp chế tạo ra những sản phẩm công nghệ mới với trình độ cao Những ngành này có thể kể đến như: Ngành công nghệ thông tin; Ngành công nghệ sinh học; Ngành công nghệ năng lượng mới và nguồn năng lượng tái sinh; Ngành công nghệ kỹ thuật cao có lợi cho môi trường; Ngành công nghệ vật liệu mới; Ngành khoa học kỹ thuật không gian; Ngành khoa học kỹ thuật hải dương; Ngành khoa học kỹ thuật mềm
Các ngành khoa học kỹ thuật cao nêu trên về cơ bản khác với các ngành khoa học số học, vật lý, hóa học, thiên văn địa lý và sinh vật trước đây vì nó không lấy việc tìm kiếm tri thức hệ thống làm tiêu chuẩn mà theo đuổi tiêu chuẩn hiệu quả
Ví dụ, một mục tiêu của công nghệ thông tin là phải mở rộng, tăng nhanh việc tích lũy, xử lý và vận chuyển thông tin với số lượng ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao Quang điện tử, mạch IC quy mô lớn và máy tính đều phục vụ cho mục đích này Công nghệ vật liệu mới nhằm tạo ra được những nguyên liệu mới như kỹ thuật nguyên liệu mô sinh vật đã vượt ra khỏi khái niệm vật lý và hóa học của các nguyên liệu truyền thống Khoa học hải dương chính là khoa học tổng hợp lấy toàn bộ biển làm đối tượng nghiên cứu, bao gồm một loạt khoa học kỹ thuật cao như phát điện thủy triều, sinh vật biển và thăm dò khoáng sản dưới đáy biển Chính điều đó tạo điều kiện cho sự tăng trưởng kinh tế và tạo ra sự tiến bộ về xã hội
Tuy nhiên, thế giới vẫn là một bức tranh không đồng nhất về sự phát triển kinh
tế tri thức Các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và những nước phát triển đã có được sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng đó Còn các nước đang phát triển hiện nay,
sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế này mới ở bước đầu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chủ yếu diễn ra theo chiều rộng chứ chưa phải theo chiều sâu Phần lớn công nghệ ở các nước đang phát triển vẫn còn rất lạc hậu, chủ yếu là mua lại những máy móc thiết bị thế hệ hai hoặc ba của các nước phát triển
Cùng với thời gian sư chênh lệch này diễn ra theo khoảng cách ngày càng xa, nguy cơ tụt hậu ngày càng lớn Điều đó đòi hỏi mỗi nước đang phát triển phải tìm
Trang 10con đường đi cho riêng mình nhằm bước đầu tạo ra các nhân tố của kinh tế tri thức, tạo bệ phóng thoát ra khỏi tình trạng tụt hậu và kém phát triển
Trang 11PHẦN 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TẠI
HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Một số nét khái quát về huyện Định Quán
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và đơn vị hành chính
Định Quán là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Đồng Nai; cách thành phố Biên Hòa 85 km và thành phố Hồ Chí Minh 115 km về hướng Tây Nam và cách thành phố Đà Lạt 185 km về phía Đông Bắc; Huyện có vị trí địa lý: phía Bắc giáp huyện Tân Phú, phía Nam giáp huyện Thống Nhất và Xuân Lộc, phía Tây giáp huyện Vĩnh Cữu, phía Đông giáp huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận Hiện nay huyện có 14 đơn vị hành chính gồm có 13 xã và 01 thị trấn, dân số 187.306 người (năm 2020) Toàn huyện có 97.288,4 ha đất tự nhiên, trong đó có 41.137,5 ha đất nông nghiệp, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Huyện có 17.647,32 ha mặt nước thuộc lòng hồ Trị An nằm trong lưu vực hai con sông La Ngà và sông Đồng Nai là nguồn cung cấp nước mặt quan trọng cho thủy điện Trị an và cho các hoạt đông sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt cho huyện và các địa bàn lân cận
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ một huyện miền núi nghèo, kinh tế thuần nông kém phát triển, cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển kinh tế – văn hóa nghèo nàn lạc hậu; gần một nửa dân số đói nghèo và mù chữ Thì đến nay, diện mạo nông thôn miền núi của huyện đã có chuyển biến đáng tự hào Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; tiềm năng lợi thế của huyện từng bước khai thác có hiệu quả Hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư tương đối đồng bộ Xây dựng nông thôn mới đã có nhiều chuyển biến tích cực; năm 2019 huyện có 13/13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, năm 2020 có 04/13 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao Văn hoá - xã hội tiếp tục phát triển và đạt được nhiều kết quả tích cực
Đến nay, Định Quán có 07 trường trung học phổ thông và 01 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, 67 trường Trung học cơ sở, tiểu học và mầm non Tổng số học sinh các cấp gần 60.000 học sinh, 14/14 xã, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học Về Y tế có 01 Bệnh viện đa khoa khu vực; 14/14 xã,