Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 197 GIẢI PHÁP KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN.
Trang 1GIẢI PHÁP KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH VIỆT NAM NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH BÌNH THƯỜNG MỚI
ThS Nguyễn Thanh Bình
Phó Vụ trưởng Vụ Khách sạn, Tổng cục Du lịch
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Email: binhvnat@yahoo.com
Tóm tắt: Hoạt động du lịch được mở lại từ ngày 15 tháng 3 năm 2022 sau hai năm gián đoạn, thị
trường khách nội địa tăng trưởng mạnh, thị trường khách du lịch quốc tế phục hồi dần, nhưng nhân sự
du lịch bị thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là khối cơ sở lưu trú du lịch Trong bối cảnh
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các đơn vị trong ngành du lịch đang gặp thách thức về nhiều mặt,
năng lực cạnh tranh cần được nâng cao Tham luận này phân tích về thực trạng nhân lực của cơ sở lưu
trú du lịch Việt Nam, vấn đề cung cầu, khó khăn, thách thức và một số giải pháp gợi ý nhằm khôi phục và
phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới theo tinh thần “thích ứng an toàn, linh hoạt,
kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”
Từ khóa: Du lịch Việt Nam; Cơ sở lưu trú du lịch; Nhân lực; Bình thường mới
1 Đặt vấn đề
Du lịch là ngành có sự biến động rất lớn, rất nhạy cảm với các yếu tố mất an toàn như thiên tai, bệnh
dịch, chiến tranh Đại dịch COVID-19 tác động mạnh đến du lịch toàn cầu và các quốc gia có nguồn thu
lớn từ du lịch như Việt Nam, kéo dài từ tháng 01 năm 2020 đến hết năm 2021, đã khiến hàng nghìn doanh
nghiệp và người lao động du lịch bị ảnh hưởng nặng nề Nhiều cơ sở dịch vụ du lịch bị rơi vào tình trạng
không còn nguồn lực để duy trì hoạt động tối thiểu, buộc phải chuyển đổi mô hình kinh doanh, cắt giảm
nhân sự, nhiều người lao động ngành du lịch phải chuyển đổi nghề để duy trì cuộc sống, dẫn đến sự thiếu
hụt nhân lực khi du lịch khôi phục trở lại
Hoạt động du lịch được Chính phủ cho phép mở lại từ ngày 15 tháng 3 năm 2022 theo tinh thần
“thích ứng linh hoạt, an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19” Những số liệu cho thấy tình hình
phục hồi du lịch hết sức khả quan, đánh dấu sự khởi sắc trở lại, thị trường khách nội địa tăng trưởng
mạnh, thị trường khách quốc tế phục hồi dần Trong 4 tháng đầu năm 2022, tổng số khách du lịch quốc tế
đến Việt Nam đạt xấp xỉ 92.400 lượt, khách nội địa đạt 10,5 triệu lượt, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm
2021, trong đó có hơn 6,3 triệu lượt khách nghỉ đêm tại cơ sở lưu trú du lịch Riêng trong tháng 4/2022,
khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ước đạt 70.000 lượt, lượng khách quốc tế qua các sân bay của Việt
Nam bằng tổng 3 tháng trước đó cộng lại, khách du lịch nội địa khoảng 36,6 triệu lượt Các đợt nghỉ Tết
nguyên đán, Giỗ Tổ Hùng Vương, lễ 30/4-1/5 nhiều cơ sở lưu trú kín buồng Trên 70% cơ sở lưu trú du
lịch hoạt động bình thường trở lại Công suất buồng phòng cuối tuần đạt trung bình 40-50%, dịp nghỉ lễ
đạt khoảng 70%, trong tuần đạt khoảng 15% Tuy nhiên, trong bối cảnh chuỗi cung ứng du lịch vừa bị
gãy, đứt, các đơn vị trong ngành Du lịch đang gặp thách thức lớn về nhân lực
Liên quan đến phát triển nhân lực, Chiến lược phát triển Du lịch đến năm 2030 được Thủ tướng
Chính Phủ phê duyệt tại Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2020 đã nêu rõ quan điểm
chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và mục tiêu: Đến năm 2025, Việt Nam trở thành điểm
Trang 2đến hấp dẫn, phấn đấu thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu về phát triển du lịch trong khu vực Đông Nam Á
và 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, trong đó tất cả 14 tiêu chí năng lực cạnh tranh du lịch đều tăng, phù hợp yêu cầu phát triển bền vững; Tạo ra khoảng 5,5 - 6 triệu việc làm, trong
đó có khoảng 2 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 12 - 14%/năm; Đến năm 2030, Du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, đáp ứng đầy đủ yêu cầu và mục tiêu phát triển bền vững, tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 8 - 9%/năm
Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2019, thời điểm trước khi đại dịch COVID - 19 xảy ra, là năm du lịch Việt Nam đạt kết quả cao nhất, chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch
và lữ hành Việt Nam đứng thứ 63 trong 140 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá, tăng 4 bậc so với xếp hạng năm 2017 (67/136), được chấm điểm theo 14 trụ cột, 90 nhóm chỉ số Chỉ số cạnh tranh cao nhất Việt Nam đạt được là sức cạnh tranh về giá (đứng thứ 22), tài nguyên văn hóa và du lịch công vụ (29) và tài nguyên thiên nhiên (35) Nhóm các chỉ số tăng hạng nhanh nhất là mức độ mở cửa quốc tế (58), cạnh tranh giá (22), hạ tầng hàng không (50); nhóm tụt hạng nhiều là hạ tầng mặt đất và cảng (84), nhân lực và thị trường lao động (xếp thứ 47); nhóm xếp hạng cạnh tranh thấp nhất vẫn là sự bền vững về môi trường (121), hạ tầng dịch vụ du lịch (106) và mức độ ưu tiên cho du lịch (100) Sự tụt hạng 10 điểm trong chỉ số cạnh tranh trụ cột thứ 4 về Nguồn nhân lực và thị trường lao động yêu cầu phải quan tâm, chú trọng nhiều hơn đến công tác đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuẩn bị cho thời kỳ phục hồi và phát triển du lịch mới trong giai đoạn 2022-2030 Việc khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch đặc biệt là nhân lực cơ sở lưu trú du lịch cho phù hợp yêu cầu thực tiễn đang là một yêu cầu cấp bách
2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1 Thực trạng nhân lực cơ sở lưu trú du lịch
Giai đoạn 2011-2019 đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam, ngày càng đa dạng về loại hình, cách thức vận hành và hình thức sở hữu, quản lý, đáp ứng nhu cầu của hàng chục triệu lượt khách mỗi năm ở các mức chi tiêu khác nhau Làn sóng đầu tư vào lĩnh vực này diễn ra khắp cả nước, tập trung vào các khu nghỉ dưỡng biển, nghỉ dưỡng núi Bên cạnh khách sạn và nhà nghỉ du lịch, còn có căn hộ du lịch, homestay, khu căn hộ du lịch chia sẻ kỳ nghỉ, biệt thư du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch bãi cắm trại du lịch Đáng chú ý là mạng lưới nhà dân cung ứng qua hệ thống airbnb chiếm thị phần lớn, làm tăng cung, cạnh tranh mạnh mẽ với các cơ sở lưu trú truyền thống Cùng với những tập đoàn khách sạn lớn có thương hiệu trên thế giới từ nhiều năm như Hyatt, Intercontinental, Accor, Sheraton, Hilton, IHG, đã có sự lớn mạnh của các tập đoàn khách sạn do người Việt đầu tư và quản lý, hình thành những thương hiệu Việt nổi tiếng được đánh giá cao như Vinpearl, Saigontourist, Mường Thanh
Năm 2011 cả nước có hơn 13.700 cơ sở lưu trú du lịch với trên 256.000 buồng thì tới 2021 con số đã đạt 38.000 cơ sở với 780.000 buồng, tăng hơn 2,5 lần về số cơ sở và hơn 3 lần về sức chứa, trong đó có hơn 9.200 khách sạn, 282 căn hộ du lịch, 16.000 nhà nghỉ du lịch, 5600 nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, 386 biệt thự du lịch, 245 tàu thuỷ lưu trú du lịch, 8 bãi cắm trại du lịch Trong đó: 1) Nhóm cơ sở lưu trú du lịch CSLTDL 4-5 sao: có 530 cơ sở với hơn 114.000 buồng chiếm gần 20% Khối 5 sao có sức chứa lớn nhất Phân khúc 4-5 sao ngày càng chiếm tỷ trọng lớn tại khu vực Nam Trung bộ, Phú Quốc và các trung tâm du lịch; 2) Nhóm cơ sở lưu trú du lịch 1 sao đến 3 sao: có 5.360 cơ sở với khoảng 156.000 buồng Nhóm này có xu hướng giảm dần qua các năm; 3) Nhóm cơ sở lưu trú du lịch đủ điều kiện có
Trang 314.200 cơ sở với hơn 220.000 buồng Trong nhóm này, nhà nghỉ du lịch có xu hướng giảm, còn các loại hình khác có xu hướng tăng
Cơ sở lưu trú du lịch cung ứng dịch vụ lưu trú và nhiều dịch vụ bổ sung, liên quan trực tiếp đến nhiều người, nhiều ngành nghề, thu hút lao động từ giản đơn đến trình độ cao Chất lượng cơ sở lưu trú du lịch phụ thuộc nhiều vào năng lực người lao động, đặc biệt là quan điểm, tư duy, phương pháp quản lý của nhóm quản trị gồm 3 cấp: cấp cao (thành viên hội đồng quản trị, giám đốc/ phó giám đốc điều hành), cấp trung (trưởng/phó phòng ban, bộ phận chức năng như buồng, bàn, bar, bếp, kinh doanh…), cấp cơ sở (trưởng nhóm, giám sát, tổ trưởng, tổ phó) Nhiều bộ phận không đòi hỏi trình độ văn hóa cao, như phục
vụ buồng, tạp vụ, vệ sinh, chăm sóc cây cảnh, bảo vệ chiếm tỷ trọng lớn, cần được đào tạo nghề Những
bộ phận cần chuyên môn sâu là quản trị, lễ tân, bếp, pha chế, kinh doanh, tin học, kỹ thuật Những bộ phận trực tiếp tiếp xúc với khách nước ngoài yêu cầu ngoại ngữ Cơ sở lưu trú hạng 4 sao đến 5 sao có yêu cầu cao về chất lượng nhân lực
Hiện nay ngành Du lịch cần khoảng 520.000 lao động trong cơ sở lưu trú du lịch cho công suất trên 70%, trong đó quản trị cần khoảng 50.000 người (xem phân bổ tại bảng 1) Dự báo tăng trưởng du lịch Việt Nam 10 năm tới khá lạc quan, năm 2025 cả nước cần có 950.000 đến 1.050.000 buồng lưu trú và đến năm 2030 cần 1.300.000 đến 1.450.000 buồng; Như vậy, năm 2025, cầu về lao động khối cơ sở lưu trú du lịch khoảng hơn 800 nghìn và năm 2030 là hơn 1 triệu, giai đoạn 2022 - 2030, trung bình cần bổ sung mỗi năm trên 60.000 lao động
Bảng 1 Nhu cầu lao động trong các cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam
Số
TT Cơ sở lưu trú
Số buồng/
căn/ cabin
Số
cơ sở
Xu hướng
Nhu cầu Lao động (công suất trên 70%)
Bình quân lao động/buồng (công suất trên 70%)
6 Khách sạn
Trang 4Số
TT Cơ sở lưu trú
Số buồng/
căn/ cabin
Số
cơ sở
Xu hướng
Nhu cầu Lao động (công suất trên 70%)
Bình quân lao động/buồng (công suất trên 70%)
15 Nhà nghỉ DL chưa
16 Homestay đủ
17 Homestay chưa
18 Tàu thủy lưu trú
19 Tàu thủy lưu trú
20 Tàu thủy lưu trú
21 Tàu thủy lưu trú DL
22 Bãi cắm trại du lịch
23 CSLTDL
Nguồn: Tổng cục Du lịch
Về cung, nhân lực du lịch hiện tại suy giảm cả số lượng và chất lượng so với thời điểm năm 2019
Lực lượng lao động trực tiếp khối cơ sở lưu trú du lịch hiện chưa đến 400.000 người, đáp ứng hơn 70% nhu cầu với công suất trung bình dưới 50%, định mức chưa tới 0.6 lao động/buồng Tại các cơ sở lưu trú
du lịch đạt tiêu chuẩn, định mức trung bình chỉ khoảng 0,4 lao động/buồng Đặc biệt thiếu nhân sự vào thời điểm cao điểm như nghỉ lễ, Tết Cơ cấu nhân sự chưa đồng bộ, thiếu trầm trọng nhân lực có chuyên môn cao, đặc biệt là quản trị cấp cao Sự mất cân đối nhân lực theo vùng/miền khiến nhiều khu vực tăng trưởng nóng về khách du lịch nhưng chất lượng dịch vụ thấp hơn khu vực khác và không ổn định
Hiện nay, nhân lực cơ sở lưu trú du lịch đang đối mặt với nhiều thách thức, cụ thể:
Thách thức bên ngoài: Việc tham gia khu vực kinh tế tự do ASEAN tạo ra sân chơi bình đẳng giữa
các doanh nghiệp du lịch trong nước và nước ngoài Các nước ASEAN đã ký kết Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong du lịch, lao động các nước ASEAN có chung bộ tiêu chuẩn nghề và có thể tự do đi làm việc trong khu vực, sẽ hạn chế cơ hội việc làm của lao động Việt Nam nếu người Việt không cải thiện được chuyên môn nghiệp vụ và năng suất lao động
Những rào cản trong nước:
Thứ nhất là Rào cản về ý thức chấp hành pháp luật: Còn tồn tại cơ sở lưu trú du lịch chưa thực hiện
nghiêm túc quy định của pháp luật, có nơi chưa đáp ứng quy định về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ
Trang 5môi trường Các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mới nhất chưa được những người thừa hành nghiên cứu, chưa được hiểu tường tận, dẫn đến việc áp dụng chưa chính xác hoặc chưa hiệu quả
Thứ hai là Rào cản về kinh nghiệm, trình độ và nhận thức của chủ đầu tư:Sự thiếu kinh nghiệm của
chủ đầu tư dẫn đến những sai lầm trong quá trình đầu tư, duy trì chất lượng và phát triển thương hiệu Nhiều chủ đầu tư chọn tư vấn thiết kế không đủ năng lực nên xây dựng công trình có nhiều bất cập, không đáp ứng công năng, khó vận hành, không đạt tiêu chuẩn theo mục đích ban đầu Nhiều nơi chưa thực sự quan tâm đến xu hướng chuyển đổi số Một số chủ đầu tư chưa quan tâm đến tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng lao động Có những người thành công ở lĩnh vực khác chuyển sang đầu tư khách sạn, can thiệp sâu vào công tác điều hành trong khi thiếu kiến thức quản lý, chưa có định hướng phù hợp, chưa tuyển dụng và sử dụng hiệu quả đội ngũ điều hành, trưởng bộ phận chuyên nghiệp
Thứ ba là Rào cản về thiếu hụt và khó tuyển dụng nhân lực: Sau hai năm bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh
COVID - 19, giãn cách và gãy, đứt chuỗi cung ứng, nhân sự chất lượng cao, lao động giỏi, có kỹ năng, thạo nghề, kinh nghiệm làm việc lâu năm bị giảm thu nhập hoặc mất việc làm, người có khả năng điều hành, quản lý cơ sở lưu trú du lịch chuyển việc nhiều nên rất thiếu so với yêu cầu thực tế, không theo kịp
sự tăng trưởng cơ sở lưu trú du lịch và nhu cầu thị trường Việc tuyển lao động có kinh nghiệm, có chuyên môn tốt rất khó khăn gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Có cơ sở lưu trú du lịch phải tuyển người điều hành hạn chế về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý Hầu hết các cơ sở khó tuyển lao động mới, phải tuyển gấp nhân sự tại địa phương chưa qua đào tạo, sau đó vừa đào tạo vừa phục vụ khách nên còn nhiều lúng túng, một số nơi sử dụng sinh viên bán thời gian nhưng bị hạn chế thời gian đi làm
Thứ tư là Rào cản về chất lượng nhân lực: Một số vấn đề cần khắc phục: Về thái độ: còn hạn chế về
ý thức bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Về Kỹ năng: Nhóm nhân lực mới tuyển dụng, mới ra trường, ít kinh nghiệm, thiếu hụt nhân lực quản trị cấp cao và cấp trung Về kiến thức: thiếu kinh nghiệm
thực tiễn, hạn chế về ngoại ngữ, đội ngũ lãnh đạo, quản lý mới chưa đủ năng lực quản trị, yếu nghiên cứu phân tích thị trường, kiến thức chuyển đổi số chưa tương ứng với yêu cầu của ngành trong bối cảnh hội nhập Khả năng ngoại ngữ yếu, kỹ năng nghiệp vụ thiếu khiến nhân viên khó phát triển nghề, chuyên môn, khó khăn trong giao tiếp, giao dịch, không giới thiệu được dịch vụ của cơ sở nên một số cơ sở lưu trú du lịch phụ thuộc đơn vị gửi khách, không khai thác được nguồn khách nước ngoài trực tiếp
Trình độ nhân viên chưa đồng đều, hạn chế về ngoại ngữ khiến chất lượng phục vụ nhiều nơi không đảm bảo tiêu chuẩn, khác biệt giữa vùng núi và đô thị, có khoảng cách giữa khách sạn do tập đoàn quản
lý khách sạn nổi tiếng của nước ngoài điều hành và khách sạn do người Việt Nam điều hành Nhiều cơ sở lưu trú du lịch từ 2 sao trở xuống, một số khách sạn hạng 3 sao ở vùng sâu, vùng xa khó tuyển nhân viên, hạn chế đào tạo nên lao động tay nghề yếu, không giao tiếp được với người nước ngoài, không có nhiều
cơ hội thực hành nghề ở mức độ chuyên nghiệp cao, kiến thức học được dễ bị mai một
Thứ năm là Rào cản về chính sách với người lao động: Ở một số nơi, người lao động chưa được coi
trọng, chế độ lương, chính sách đãi ngộ, điều kiện làm việc chưa được quan tâm đầy đủ, nên khó tuyển nhân sự, lực lượng lao động thường xuyên thay đổi, cơ sở đào tạo khách sạn khó tuyển sinh viên chất lượng cao
Thứ sáu là Rào cản do tính thời vụ: Yếu tố thời vụ ảnh hưởng lớn đến chất lượng, uy tín của nhiều
đơn vị do thời gian thấp điểm, cơ sở vật chất bị xuống cấp, nhân viên không ổn định, nhiều nơi không dám tuyển đủ nhân lực vì sợ không đủ chi phí cho quỹ lương sau thời gian dài cạn kiệt nguồn vốn dự phòng Những thời gian cao điểm như lễ hội, nghỉ hè, nghỉ tết do cung thấp hơn cầu dễ gây đến tình trạng nâng giá, ép giá, cung ứng dịch vụ không đảm bảo chất lượng
Trang 6Thứ bảy là Rào cản về rủi ro, an toàn: Ngành Du lịch rất nhạy cảm với yếu tố an toàn, khi có biểu
hiện mất an toàn sẽ bị giảm sút, suy thoái ngay Năm 2003 xảy ra dịch SARS, năm 2007 cúm gia cầm, năm 2016 xảy ra sự cố môi trường ở miền Trung, và năm 2020 – 2021 dịch bệnh COVID-19 đã khiến hơn 50% cơ sở lưu trú du lịch đóng cửa, lao động bị mất việc và giảm thu nhập, gặp khó khăn
Thứ tám là Rào cản về đào tạo: Cả nước hiện có gần 200 cơ sở giáo dục, đào tạo bồi dưỡng du lịch,
gồm các trường đại học có khoa du lịch, trường cao đẳng (với 10 trường chuyên về du lịch, 45 trường có ngành du lịch), trường trung cấp, trung tâm dạy nghề Với lĩnh vực lưu trú du lịch, các chuyên ngành chủ yếu ở trình độ trung cấp và dạy nghề là kỹ thuật chế biến món ăn, kỹ thuật phục vụ buồng, bàn, bar và lễ tân; các chuyên ngành ở trình độ cao đẳng và đại học là quản trị kinh doanh khách sạn, marketing du lịch,
kỹ thuật Hàng năm các đơn vị đào tạo du lịch cho ra trường khoảng 40.000 lao động, riêng nghề khách sạn khoảng 30.000 người
Một số cơ sở đào tạo uy tín như trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist, Cao đẳng Du lịch Huế, Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Cao đẳng quốc tế Pegasus, Đại học Thăng Long… có cơ sở thực hành chất lượng, đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm, đã làm thực tế, tạo điều kiện cho sinh viên có thu nhập ngay từ khi học, tự tin khi làm việc ở cơ sở lưu trú du lịch cao cấp Một số trường có học sinh, sinh viên đạt giải trong các cuộc thi tay nghề quốc gia, thi tay nghề ASEAN và thế giới Ngoài đào tạo trong nước, nhân lực cơ sở lưu trú du lịch được bổ sung lực lượng đào tạo ở nước ngoài về với ngoại ngữ tốt, phong cách chuyên nghiệp
Đào tạo nhân lực lưu trú du lịch dù đang hướng tới đạt kiến thức, kỹ năng theo các tiêu chuẩn đã được thỏa thuận trong khu vực và mở rộng ra phạm vi toàn cầu nhưng vẫn chưa đạt kỳ vọng Tính liên thông của chương trình cần giải quyết Một số cơ sở chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, chưa theo kịp các quốc gia trong khu vực, chưa có giáo trình theo chuẩn chung Cơ sở vật chất, trang thiết bị một số cơ sở đào tạo thiếu, lạc hậu, không đồng bộ và còn khoảng cách với các khách sạn 4 sao đến 5 sao Thiếu giáo viên tay nghề cao, lực lượng giáo viên cơ hữu mỏng và khác nhau giữa các nhóm trường Vì vậy, chất lượng đầu
ra của một số cơ sở đào tạo còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu hội nhập quốc tế Một số cơ sở lưu trú du lịch chưa sử dụng tốt đội ngũ đào tạo viên để đào tạo tại chỗ
Thứ chín là Rào cản về vốn: Do thiếu vốn, hạn chế dòng tiền, cơ sở lưu trú du lịch khó trả lương cao
cho người lao động, khó dành ngân sách hợp lý cho đào tạo, tuyển dụng
2.2 Định hướng và giải pháp đối với việc phát triển nguồn nhân lực cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam
2.2.1 Mục tiêu
Giai đoạn 2022-2030, nguồn nhân lực cơ sở lưu trú du lịch cần đạt những mục tiêu sau: a) Kiện toàn đội ngũ nhân sự các cấp; b) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng nhân lực quản trị cấp cao; c) Tuân thủ quy định phát luật, đảm bảo chất lượng và quyền lợi cho khách sử dụng dịch vụ lưu trú, làm hài lòng khách, đáp ứng yêu cầu hội nhập; d) Tiêu chuẩn hóa đối với nhân lực trong cơ sở lưu trú du lịch; đ) Áp dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý; e) Nhận diện kịp thời yêu cầu mới của thị trường và điều chỉnh phù hợp Những thay đổi về nhu cầu thị trường, hành vi của khách đặt ra yêu cầu mới về sản phẩm, dịch vụ, đặc biệt là yếu tố an toàn, sản phẩm có lợi cho sức khỏe, cá nhân hóa dịch vụ… ; g) Nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động trong lĩnh vực lưu trú và nhận thức xã hội về du lịch, ý thức và nhận thức của các cấp, các ngành, các nhà cung ứng dịch vụ và người dân về đảm bảo chất lượng và khẳng định thương hiệu của cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam, tạo sự hưởng ứng tích cực của toàn ngành; và h) Đảm bảo Du lịch Việt Nam phát triển bền vững, đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
Trang 72.2.2 Giải pháp
Những thách thức về nhân sự cần sự tham gia, hợp lực để giải quyết của tất cả các bên liên quan Chúng tôi đề xuất một số giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch cơ sở lưu trú
du lịch trong bối cảnh bình thường mới như sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nhận thức, tư duy về phát triển du lịch: Nâng cao ý thức người dân,
doanh nghiệp, cộng đồng trong ứng xử văn minh, thân thiện với khách du lịch và bảo vệ hình ảnh, môi trường, góp phần phát triển bền vững, không ngừng nâng cao uy tín, thương hiệu và sức thu hút của du lịch Việt Nam;
Thứ hai, Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển du lịch: Thúc đẩy quan hệ hợp tác công - tư
và các mô hình quản trị tích hợp các khu vực công và tư nhân, doanh nhân và cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch bền vững; thiết lập các điều kiện tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, kích thích đổi mới, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển lực lượng doanh nghiệp, hình thành nhiều doanh nghiệp du lịch có thương hiệu mạnh; hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh du lịch tiếp thu công nghệ mới, kỹ năng số và tiếp cận tài chính; Ưu tiên nguồn lực cho công tác quy hoạch, đào tạo nhân lực, nghiên cứu thị trường, xúc tiến, phát triển sản phẩm du lịch; phát triển du lịch cộng đồng; bảo vệ tài nguyên
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực du lịch: theo cơ cấu hợp lý, bảo đảm số lượng, chất lượng,
cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh, hội nhập; có chính sách khuyến khích thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động toàn diện, nâng cao chất lượng nhân lực du lịch cả về quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và kỹ năng nghề du lịch, chú trọng đào tạo nhân lực quản lý cấp cao và lao động lành nghề; Đa dạng các hình thức đào tạo; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực du lịch; chú trọng đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng mềm cho lao động trực tiếp phục vụ du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch tại điểm; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho cộng đồng dân cư tham gia kinh doanh du lịch và góp phần quảng bá điểm đến, hình ảnh du lịch địa phương; Tăng cường năng lực các cơ sở đào tạo, trường đào tạo nghề du lịch chất lượng cao tại các khu vực động lực phát triển du lịch; Khuyến khích hình thành đội ngũ tình nguyện viên hướng dẫn,
hỗ trợ khách du lịch
Đối với việc liên kết vùng để phát triển du lịch chất lượng cao, một số đề xuất gợi ý cụ thể như sau:
a) Rà soát lực lượng lao động cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn, nhận diện những hạn chế, yếu kém,
thiếu hụt về chuyên môn nghiệp vụ của từng bộ phận, nghiên cứu nhu cầu thị trường, dự báo du lịch để tính toán nhu cầu đào tạo tập trung/tại chỗ, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo của từng địa phương, cơ sở Địa phương không đủ nhân sự hoặc không có cơ sở đào tạo có năng lực cần liên hệ với các cơ sở đào tạo ở các địa phương khác đến nhận sinh viên thực tập và làm việc, trao đổi hỗ trợ nhân sự giữa các tập đoàn và các cơ sở cùng hạng Bám sát yêu cầu trong Tiêu chuẩn Việt Nam, Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia để định hướng tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của từng vị trí việc làm trong cơ sở lưu trú du lịch
b) Phối hợp chặt chẽ giữa chủ đầu tư và người vận hành, quản trị cơ sở lưu trú du lịch, phối hợp cùng
các cơ quản quản lý, chính quyền địa phương và ban quản lý khu du lịch, triển khai các giải pháp nâng cao nhận thức, ý thức, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân lực trong việc đảm bảo quyền lợi, đáp ứng nhu cầu khách khi cung ứng dịch vụ, chú trọng các dịch vụ có lợi cho sức khỏe, đảm bảo an toàn vệ sinh, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, tạo an tâm cho du khách Có chính sách thu hút, khuyến khích lao động có kinh nghiệm, kỹ năng nghề đã chuyển việc quay lại làm, khuyến khích nhân viên nâng cao kiến thức, kỹ năng
Trang 8c) Về đào tạo: Định hướng việc làm tốt từ phụ huynh đến học sinh ngay từ khi đào tạo Nếu định
hướng việc làm chưa được chú trọng, dẫn đến nhận thức nghề kém, chất lượng nhân sự và hiệu suất
việc làm và chất lượng dịch vụ kém Kết hợp và liên thông giữa các cấp độ đào tạo, giữa các chuyên
ngành đào tạo đặc biệt là ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, đảm bảo liên kết chặt chẽ và cân đối giữa các bậc đào tạo, ngành nghề đào tạo Củng cố, nâng cao chất lượng đầu ra đối với đội ngũ lao động nghề của các cơ sở đào tạo du lịch, nâng cao năng lực và chất lượng của công tác đào tạo nghề Quản lý chặt chất lượng đào tạo Tổ chức cho Học sinh, phụ huynh và doanh nghiệp bình chọn
uý tín/chất lượng của các trường trên website Phát triển chương trình, giáo trình; xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn chức danh nghề du lịch, áp dụng chương trình đào tạo theo hướng gắn với thực tiễn phù hợp thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN, đảm bảo chuẩn đầu ra phù hợp
Thay đổi cách thức đào tạo phù hợp với các mùa du lịch để điều kiện thực hành thuận lợi hơn Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng theo hướng tiếp cận năng lực, tăng cường kỹ năng nghiệp vụ và ngoại ngữ,
kỹ năng lãnh đạo, quản trị rủi ro, ứng phó với các tình huống khẩn cấp hay bất khả kháng Đặc biệt là ứng phó và phòng chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn cho bản thân người lao động và du khách Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, tăng cường năng lực cơ sở đào tạo, cải thiện cơ sở thực hành Xây dựng mô hình trung tâm thực hành nghề, khách sạn trường để sinh viên có thể vừa học lý thuyết vừa thực hành tại chỗ, như khách sạn Đệ nhất của Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn, Khách sạn của trường Cao đẳng Du lịch Huế Huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt tập đoàn lớn đào tạo nhân lực cho cả vùng chứ không chỉ phạm vi địa phương
Phát triển, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, giảng viên, đào tạo viên, mời người có kinh nghiệm, giỏi nghề, đặc biệt là giám đốc điều hành, trưởng bộ phận khách sạn 4-5 sao thương hiệu quốc
tế làm giáo viên hoặc thỉnh giảng
Cập nhật các xu hướng như chăm sóc sức khỏe (Wellness), bảo vệ môi trường, phát triển bền vững,
tự động hóa trong đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn
Đẩy mạnh đào tạo tại chỗ, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ tại các địa phương và doanh nghiệp, khuyến khích, phát huy hiệu quả đào tạo trực tuyến, chia sẻ giáo trình đào tạo trực tuyến, sử dụng đội ngũ đào tạo viên để đào tạo tại chỗ, đặc biệt nhóm nhà nghỉ hay nhà có phòng cho khách du lịch thuê cần cách thức “cầm tay chỉ việc”
Phối hợp với các cơ sở đào tạo chuẩn bị lực lượng để kịp thời bổ sung lực lượng nhân sự chất lượng cao khi có sự dịch chuyển lao động
Các cơ quan quản lý du lịch các cấp xây dựng kế hoạch và triển khai kịp thời các gói hỗ trợ đào tạo cho các cơ sở lưu trú du lịch
d) Ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin Liên kết với các đơn vị cung ứng giải
pháp (như FPT), cho người lao động quen với công nghệ mới và các phần mềm quản lý tiên tiến, tích cực thực hiện chuyển đổi số
e) Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực (tài chính, công nghệ, công sức và kinh
nghiệm) trong và ngoài nước cho phát triển nhân lực cơ sở lưu trú du lịch, tạo điều kiện các thành phần tham gia đào tạo, đẩy mạnh Hợp tác quốc tế về phát triển nhân lực Đề xuất các gói vay ưu đãi để hỗ trợ các đơn vị, các cơ sở lưu trú du lịch có nguồn tiền đủ trả lương nhân viên trong 01 năm và kịp thời đào tạo nhân lực Trao đổi sinh viên, nhân lực giữa cơ sở lưu trú du lịch với cơ sở gáo dục du lịch, kinh doanh du lịch uy tín trên thế giới, mời chuyên gia nước ngoài giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm
g) Tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nhân lực du lịch Nâng cao nhận thức cộng đồng về du
lịch, tạo cơ hội tôn vinh và khơi dậy lòng yêu nghề, tâm huyết với cơ sở lưu trú du lịch Nhân sự du
Trang 9lịch dễ bị tổn thương hơn các nghề khác, đặc biệt khi kinh tế khó khăn hoặc thiên tai, dịch bệnh xảy ra
sẽ bị ảnh hưởng trước tiên và phục hồi sau cùng Một số vị trí không làm được lâu dài do yêu cầu riêng
về độ tuổi như lễ tân, phục vụ bàn… Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ và chuyển đổi nghề những ngành nghề công việc dễ tổn thương Có chính sách thu hút, khuyến khích lao động có kinh nghiệm, kỹ năng nghề đã chuyển việc quay lại làm trong lĩnh vực CSLTDL: lương, môi trường làm việc Có chính sách lương theo bậc/năng lực khuyến khích nhân viên học nâng cao kiến thức, kỹ năng
h) Tôn vinh kịp thời người lao động có chuyên môn tốt, tay nghề cao, đạt nhiều thành tích, đặc
biệt những người có đóng góp với cộng đồng và ngành du lịch, có sáng kiến tốt về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Các hội thi tay nghề như lễ tân, buồng, chế biến món ăn, bartender…
sẽ góp phần nâng cao lòng yêu nghề, chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng của nhân viên các bộ phận giữa các địa phương
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, hiệp hội du lịch, hiệp hội nghề, các chủ đầu tư hàng năm có chương trình tôn vinh, khen thưởng và tuyên truyền quảng bá cho các cá nhân có thành tích nổi trội, được khách đánh giá cao, có những hành vi tốt, tuyên truyền rộng rãi, tạo phong trào thi đua và nhân rộng các gương điển hình trong ngành du lịch nói chung và khách sạn nói riêng
3 Kết luận và kiến nghị
Chính phủ Việt Nam đã xác định chủ đề của năm 2022 là “Đoàn kết kỷ cương, chủ động thích ứng,
an toàn hiệu quả, phục hồi phát triển” Với chủ đề chung này, những “từ khóa” của du lịch Việt Nam
năm 2022 và giai đoạn sắp tới sẽ là: “Hòa bình”, “xanh hóa”, “số hóa” và “kết nối” Tin tưởng rằng
sự hồi sinh của ngành du lịch sau đại dịch COVID-19 sẽ góp phần phục hồi nền kinh tế của đất nước, đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 08-NQ/TW
Giai đoạn 2022 - 2030, phát triển nguồn nhân lực cơ sở lưu trú du lịch cần trọng tâm cho từng nhóm đối tượng để đạt mục đích hiệu quả, đáp ứng yêu cầu số lượng, chất lượng và cơ cấu, yêu cầu phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú ở các cấp độ khác nhau Các giải pháp, đề xuất cần phổ biến rộng rãi để các đơn vị trong toàn quốc nghiên cứu ứng dụng, tùy điều kiện, tình hình, bối cảnh của mỗi cơ sở, mỗi địa phương, mỗi khu vực./
Tài liệu tham khảo
[1] Luật Du lịch, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật Cán bộ, công chức
[2] Các báo cáo tổng kết, báo cáo thường niên du lịch của Tổng cục Du lịch năm 2014, 2015, 2016,
2017, 2018, 2019, 2020, 2021, 2022
[3] Báo cáo năm 2019 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF)
[4] Quyết định số 3624/QĐ-BVHTTDL ngày 31/12/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt Đề án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch thích ứng với tác động của đại dịch COVID-19 giai đoạn 2021-2030”
[5] Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ ban hành quy định tạm thời "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”
[6] Thông báo số 43/TB-VPCP ngày 16/2/2022 kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại cuộc họp bàn về phương án mở cửa lại hoạt động du lịch
Trang 10Abstract:
RECOMMENDATIONS FOR IMPROVING AND DEVELOPING THE VIETNAM
HOSPITALITY HUMAN RESOURCE UNDER THE NEW NORMAL STATE
The decision to officially reopen tourism activities from 15 March 2022 is opening up many opportunities for growing the domestic tourist market and recovering the international one Positive signals of Vietnam tourism seen after 2 years hiatus, but tourism human resources are still facing many difficulties of both quantity and quality limitations, especially in accommodation and hospitality industry In the context of international intergration, we can see the challenges that Vietnam tourism stakeholders have to overcome
to strengthen the competitiveness This article will help us better understand current tourism human resource of Vietnam's Hospitality Industry in term of demand and supply The paper proposes solutions and recommendations to recover and improve human resource of Vietnam tourism accommodation under the "new normal" state, which is following the Government’s Resolution No.128/NQ-CP promoting provisional regulations on safe, flexible adaptation to and effective control of COVID-19 pandemic
Keyword: Accommodation; New normal; Human resource; Vietnam tourism