Đề tài nghiên cứu các nhân tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trong quá trình ứng tuyển trên địa bàn Hà Nội nhằm đưa ra kết quả kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng giúp cho bản thân sinh viên, nhà tuyển dụng, và các trường đại học, cao đẳng có thêm cơ sở khoa học để đưa ra những quyết định đúng đắn. Đề tài cũng phản ánh thực trạng về sự tự tin của sinh viên trong quá trình ứng tuyển hiện nay và đưa ra các đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao sự tự tin của sinh viên. Điều đó có ý nghĩa mạnh mẽ thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài này.
Trang 1Danh mục bảng biểu và hình minh họa 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.2.1 Mục tiêu chung 6
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 6
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.4 Ý nghĩa thực tiễn 7
1.5 Kết cấu bài nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
2.1 Giới thiệu 8
2.2 Các khái niệm có liên quan 8
2.2.1 Sự tự tin 8
2.2.2 Những yếu tố tác động 9
2.2.3 Khái niệm về phỏng vấn tuyển dụng 11
2.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phỏng vấn tuyển dụng 12
2.3 Một số công trình nghiên cứu và mô hình khoa học 13
2.4 Mô hình đề xuất 20
2.5 Hệ thống các câu hỏi định lượng sử dụng thang đo Likert được dùng trong bảng hỏi 20
2.6 Thực trạng sinh viên 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Giới thiệu 29
3.2 Thiết kế nghiên cứu 29
3.2.1 Quy trình nghiên cứu 29
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.3 Phương pháp chọn mẫu 33
3.2.4 Xây dựng thang đo 34
Trang 23.2.5 Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức và phương pháp thu thập thông tin 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Giới thiệu 39
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo 39
4.3 Thống kê mô tả biến định tính 39
4.4 Thống kê mô tả biến định lượng 41
4.5 Kiểm định Pearson giữa các biến định lượng 53
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 56
5.1 Tâm lý 56
5.2 Kinh nghiệm và học vị 58
5.2.1 Kinh nghiệm 59
5.2.2 Học vị 62
5.3 Tính cách 63
5.4 Môi trường học tập và phương pháp giáo dục 65
5.4.1 Môi trường học tập 65
5.4.2 Phương pháp giáo dục 69
5.5 Môi trường xã hội 73
5.6 Giọng nói, ngoại hình và phong thái 74
5.6.1 Ngoại hình 74
5.6.2 Giọng nói 76
5.6.3 Phong thái 77
5.7 Nhà tuyển dụng 78
CHƯƠNG 6: HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 81
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN 82
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 87
Phụ lục 1: Nhóm câu hỏi phỏng vấn chuyên sâu 87
Phụ lục 2: Bảng hỏi khảo sát về các nhân tố ảnh hưởng tới sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng 87
Phụ lục 3: Thống kê biến định tính 92
Phụ lục 4: Tổng hợp tệp ghi âm 20 cuộc phỏng vấn chuyên sâu 96
Trang 3Danh mục bảng biểu và hình minh h
Bảng 1: Hệ thống câu hỏi sử dụng 33
Bảng 2: Điểm trung bình của các nhận định 53
Bảng 3: Kiểm định Pearson 66
Y Hình 1: Tác động tương tác đối với hành vi ngôn ngữ trong phỏng vấn của ứng viên.24 Hình 2: Tác động tương tác đối với hành vi phi ngôn ngữ trong phỏng vấn của ứng viên 25
Hình 3: Tương tác hai chiều tiên đoán hiệu suất công việc (IPSE tự đánh giá) 26
Hình 4: Tương tác hai chiều tiên đoán hiệu suất công việc (IPSE ngang hàng) 26
Hình 5: Tương tác ba chiều tiên đoán hiệu suất công việc 27
Hình 6: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tự tin vào năng lực bản thân theo mô hình của Bandura 28
Hình 7: Mô hình đề xuất 29
Hình 8: Biểu đồ cơ cấu giới tính 49
Hình 9: Biểu đồ cơ cấu nơi sinh sống 50
Hình 10: Biểu đồ cơ cấu sinh viên năm thứ mấy 50
Hình 11: Biểu đồ cơ cấu ngành học 51
Hình 12: Bảng xếp hạng các trường đại học Việt Nam theo xếp hạng của Webometrics 83
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài.
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập kinh tế, đó là cơ hội để chúng ta giao lưu, học hỏi, hợp tác với các quốc gia trên thế giới nhằm phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực Trong điều kiện kinh tế hội nhập phát triển, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng tăng Để đáp ứng nhu cầu đó, nguồn nhân lực Việt Nam phải luônđược cải thiện và nâng cao về chất lượng, các cử nhân ngoài việc giỏi kiến thức
chuyên môn, rèn luyện các kỹ năng mềm cần thiết thì một yếu tố vô cùng quan trọng
để thành công trong công việc chính là sự tự tin Tự tin sẽ giúp chúng ta nắm bắt được nhiều cơ hội và xử lý mọi tình huống một cách dễ dàng
Rèn luyện tính tự tin ngày nay đã không còn là một vấn đề xa lạ với chúng ta mà nó là một yếu tố không thể thiếu đối với mỗi người nếu muốn phát triển và thành công trongcuộc sống Cũng như để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước theo kịp các quốc gia khác trên thế giới, chúng ta đòi hỏi phải có đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng tốt để hoàn thành công việc Và tự tin là một nhân tố quan trọng, quyết định đến sự thành công của mỗi cá nhân cũng như tập thể và khẳng định bản thân trước bạn bè quốc tế, khẳng định đất nước trước các quốc gia khác Nhưng muốn tuyển dụng được đội ngũ nhân lực chất lượng cao đó, chúng ta phải đào tạo tốt những sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường- nguồn nhân lực tương lai của đất nước, ngoàicung cấp cho sinh viên những kiến thức cần thiết thì còn phải tạo môi trường cho sinh viên tự do học tập và rèn luyện sự tự tin
Ngày nay, với việc tuyển dụng các tài năng trẻ, các công ty tại Việt Nam và trên toàn thế giới thích những người có mục đích, năng động và quan trọng là một sự tự tin cao
độ Như Google hiện đang tích cực nhận thêm các thanh thiếu niên vào công ty của họ,thậm chí còn nhiều hơn cả số các sinh viên tốt nghiệp đại học Đều đó một phần cho thấy bằng cấp không phải là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình tuyển dụng
Tại Việt Nam, ảnh hưởng của văn hóa “tâm lý khoa bảng” từ thời phong kiến đã thấm nhuần vào tư tưởng của rất nhiều thế hệ, giới trẻ hiện nay cũng không phải ngoại lệ Nhiều sinh viên tốt nghiệp với tấm bằng loại ưu ra trường, cho rằng bản thân đã “đủ tựtin” để đáp ứng mọi yêu cầu việc làm từ nhà tuyển dụng Tuy nhiên, khi bước chân vào
Trang 5môi trường làm việc cạnh tranh trên thực tế, họ lại nhận ra rằng bản thân vẫn còn thiếuhụt rất nhiều yêu cầu mà nhà tuyển dụng mong mỏi Hệ quả là, các cử nhân mới ra trường rơi vào trạng thái “thiếu tự tin”.
Tự tin là phẩm chất thiết yếu, là hành trang cần chuẩn bị của mỗi sinh viên khi bước chân vào môi trường làm việc cạnh tranh, toàn cầu hóa hiện nay Nếu sinh viên có những kiến thức cần thiết kết hợp với sự tự tin thì sẽ thật dễ dàng để thu hút nhà tuyển dụng và được đánh giá cao cho vị trí công việc đó
Tuy nhiên, một sự thật đáng buồn đang diễn ra là : Có hơn 200,000 cử nhân, thạc sỹ đang thất nghiệp trên cả nước, tình trạng thất nghiệp là một vấn đề nóng hổi hiện nay
và được báo chí thường xuyên đưa tin như một bài viết trên trang
web:http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/thi-truong/them-200-000-cu-nhan-that-nghiep-trong-nam-2017-356094.html ngày 13 tháng 2 năm 2017 với bài: “Thêm
200.000 cử nhân thất nghiệp trong năm 2017” hay bài viết trên trang web:
http://ndh.vn/hon-200-000-cu-nhan-that-nghiep-nam-2017-20170108100156195p4c145.news ngày 8 tháng 1 năm 2017 với tựa đề: “Hơn 200.000
cử nhân thất nghiệp năm 2017” đã nói lên được thực trạng số lượng cử nhân và thạc sỹthất nghiệp rất lớn ở Việt Nam Trong khi con số cử nhân và thạc sỹ thất nghiệp lớn như vậy, các nhà tuyển dụng vẫn không ngừng và khó khăn trong việc tìm kiếm nhữngứng viên phù hợp với công ty của mình, và họ nhận định rằng, sinh viên Việt Nam đang thiếu tự tin một cách trầm trọng
Thực trạng sinh viên kém tự tin đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại nhất là khi sinh viên chính là nguồn nhân lực, là tương lai của đất nước sau này Sinh viên Việt Nam còn được đánh giá là kém tự tin so với sinh viên nước ngoài (Mỹ, Úc) Nguyên nhân của việc sinh viên Việt Nam kém tự tin là do sinh viên thụ động, chỉ lo chạy theo bằng cấp, không chú trọng đến việc phát triển bản thân, nâng cao các kỹ năng cũng như sự tự tin; sinh viên ít tiếp xúc với môi trường bên ngoài, không tham gia các hoạt động xã hội; tự ti, cho rằng mình kém, không tin tưởng vào bản thân; không tự tin về
vẻ bên ngoài của bản thân hay cũng có thể do môi trường giáo dục không tạo điều kiệncho sinh viên rèn luyện sự tự tin Tuy vậy, chính bản thân họ cũng không nhận ra, không nắm bắt được các lý do và hậu quả tiềm tàng, hay thậm chí biết rõ nhân tố làm bản thân kém tự tin nhưng lại không biết cách khắc phục Điều này dẫn đến hàng loạt
Trang 6các hệ lụy như sinh viên không thể nắm bắt được các cơ hội, không khẳng định được bản thân, không mở rộng được các mối quan hệ, không gây được ấn tượng đối với nhà tuyển dụng, khó có cơ hội phát triển,
Sự tự tin là vấn đề không mới đối với chúng ta, nhưng nó vẫn chưa thực sự được đưa vào nghiên cứu rộng rãi Ở trong nước có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này, một trong các công trình đó là: “Đề tài: Khảo sát về sự tự tin của sinh viên” của trườngĐại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP Hồ Chí Minh Tuy vậy, đề tài nghiên cứu này còn chung chung, với mục tiêu nhằm xác định các nhân tố cụ thể tác động đến sự tự tin củasinh viên, tìm hiểu mức độ tự tin của sinh viên, xác định điểm mạnh và điểm yếu của sinh viên Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của công trình chỉ nằm trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh, với số mẫu điều tra không quá lớn (100 mẫu) Nhận thấy sự cần thiết của sự tự tin trong quá trình tuyển dụng cũng như tính cấp thiết của vấn đề này, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Các yếu tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trên địa bàn Hà Nội trong quá trình phỏng vấn và tuyển dụng”, đề tài này có tính lý thuyết và thực tiễn cao trong công tác xây dựng và nâng cao hiệu quả trong quá trình tìm việc làm của sinh viên Việt Nam hiện nay Và địa điểm mà chúng tôi lựa chọn để làm khảo sát là Hà Nội, lý do chúng tôi chọn phạm vi nghiên cứu là Hà Nội vìđây là nơi tập trung nhiều nhất các trường đại học, học viện, cao đẳng trong cả nước với hơn 100 trường, các trường đào tạo nhiều lĩnh vực và ngành nghề đa dạng, điều này rất thuận tiện cho việc nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu sẽ chính xác hơn Sau khi đề tài được tìm hiểu và nghiên cứu xong chúng tôi sẽ nắm bắt được các
nguyên nhân và xác định các nhân tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trong quá trình tuyển dụng để từ đó đưa ra các giải pháp và các khuyến nghị nhằm giúp sinh viên tự tin hơn trong quá trình tham gia phỏng vấn tuyển dụng
Đề tài sẽ giải quyết các câu hỏi lớn như sau:
- Tự tin là gì? Các nhân tố cấu thành đến sự tự tin của sinh viên?
- Phỏng vấn tuyển dụng là gì? Những yếu tổ ảnh hưởng đến phỏng vấn tuyển dụng?
- Sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng được biểu hiện như thế nào?
Trang 7- Các giải pháp nâng cao sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng?
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1 Mục tiêu chung.
Nghiên cứu về các yếu tố xây dựng và ảnh hưởng đến sự tự tin của sinh viên trong quátrình phỏng vấn tuyển dụng từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận về các khái niệm, các yếu tố liên quan đến đề tài, các
lý thuyết về sự tự tin của sinh viên trong quá trình tuyển dụng
- Đề xuất các mô hình nghiên cứu sự tự tin của sinh viên trong quá trình tuyển dụng, đánh giá các mô hình đó và kiểm định các giả thuyết được đặt ra, từ đó xây dựng
mô hình nghiên cứu của đề tài
- Thực trạng sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
- Phân tích những nhân tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
- Gợi ý các giải pháp nhằm nâng cao sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Các nhân tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài được thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng
10 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017 Các cuộc phỏng vấn chuyên sâu và điều tra khảo sát được thực hiện vào giai đoạn từ tháng 12 đến tháng 3 năm 2017
Trang 81.4 Ý nghĩa thực tiễn.
Đề tài nghiên cứu các nhân tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trong quá trình ứng tuyển trên địa bàn Hà Nội nhằm đưa ra kết quả kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng giúp cho bản thân sinh viên, nhà tuyển dụng, và các trường đại học, cao đẳng
có thêm cơ sở khoa học để đưa ra những quyết định đúng đắn Đề tài cũng phản ánh thực trạng về sự tự tin của sinh viên trong quá trình ứng tuyển hiện nay và đưa ra các
đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao sự tự tin của sinh viên Điều đó có ý nghĩa mạnh mẽ thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài này
- Đối với nhà tuyển dụng: Mỗi sinh viên được trang bị đầy đủ những kỹ năng, kinh nghiệm, tố chất mà nhà tuyển dụng mong mỏi sẽ là nguồn lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển Đề tài được thực hiện với mong muốngóp phần nângcao sự tự tin của sinh viên khi bước chân vào môi trường làm việc cạnh tranh, qua
đó các nhà tuyển dụng có thể dễ dàng tìm kiếm được những ứng viên phù hợp với doanh nghiệp của mình
- Đối với nhà trường: Giúp nhà trường đưa ra các phương pháp giảng dạy mới tích cực hơn, thúc đẩy tinh thần chủ động học tập, sáng tạo, định hướng nghề nghiệp rõ ràng, góp phần nâng cao sự tự tin cho sinh viên
- Đối với sinh viên: Hiểu rõ những yếu tố tạo nên sự tự tin, để từ đó xác định bản thân còn thiếu những gì cũng như tích cực hoàn thiện bản thân để thành công trong
sự nghiệp và cuộc sống
1.5 Kết cấu bài nghiên cứu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
CHƯƠNG 6: HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN
Trang 9CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Giới thiệu.
Trong chương 1, nhóm nghiên cứu đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2 nhóm sẽ trình bày các lý thuyết về sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng và đưa ra mô hình các nhân tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng, cũng như đưa ra các đặc điểm của mô hình đã đưa ra Đồng thời chương 2 cũng sẽ nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu Chương 2 bao gồm các nội dung chính sau:
- Những khái niệm liên quan đến đề tài, lý thuyết về sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
- Đưa ra các mô hình nghiên cứu sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
- Đánh giá mô hình từ đó đưa ra các giả thuyết
2.2 Các khái niệm có liên quan.
2.2.1 Sự tự tin.
Nhà tâm lý học Albert Bandura đã định nghĩa tự tin là "niềm tin vào khả năng thành công của một người trong những tình huống cụ thể hoặc hoàn thành một nhiệm
vụ”.Hay theo James B Arkbauer: "Sự tự tin là các đặc điểm của hình dung chiến thắng
từ những tình huống mà người khác chỉ nhìn thấy thất bại, để tìm lời hứa đã được người khác tìm thấy căn cứ để bi quan, để xem cơ hội mà người khác nhìn thấy trở ngại."
Theo từ điển Merriam Webster, tự tin cũng có nghĩa là trạng thái của tâm trí hoặc một cách thức được đánh dấu bằng sự dễ chịu và tự do từ sự không chắc chắn, ngẫu hứng, hay bối rối Sự tự tin nhấn mạnh niềm tin vào bản thân và sức mạnh của một người màkhông có bất kỳ gợi ý về sự tự cao hay kiêu ngạo (sự tự tin đến từ kinh nghiệm lâu năm)
Còn theo từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học Việt Nam – Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội 1988, tự tin được định nghĩa như sau: “Tự tin: Tin vào bản thân mình” Theo
Trang 10định nghĩa này, ta có thể hiểu tự tin là tin vào chính mình, tin vào những khả năng mà mình có, những việc mình có thể làm được mà không sợ khó khăn cản trở, không ngại đối diện với thất bại, là chủ động trong mọi công việc, cũng là hành động cương quyết,dám nghĩ, dám làm Và sự tự tin theo định nghĩa này có thể hiểu là thước đo niềm tin của một người vào khả năng mà họ có được.
2.2.2 Những yếu tố tác động.
Tự tin trong công việc, trong cuộc sống, trong mọi tình huống là một điều không hề đơn giản Nuôi dưỡng sự tự tin cũng như thể hiện được sự tự tin của mỗi cá nhân đượcxem như một trong những đòi hỏi quan trọng đối với bất kỳ ai muốn thành công Nhưng muốn nuôi dưỡng sự tự tin thì trước hết ta phải biết được sự tự tin chịu tác động từ những yếu tố nào để từ đó có những biện pháp thích hợp để luyện tập cho bản thân tự tin trong mọi tình huống Sau đây là một số yếu tố tác động tới sự tự tin
Kiến thức
Một trong những lý do làm cho chúng ta cần kiến thức là bởi vì kiến thức là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp chúng ta xây dựng sự tự tin Cứ thử hình dung trong một buổi phỏng vấn xin việc chẳng hạn: Chúng ta sẽ đáp lại nhà tuyển dụng như thế nào nếu trong đầu chưa sẵn sàng một kiến thức chuyên môn chắc chắn về lĩnh vực
mà chúng ta đã tham gia ứng tuyển? Nếu như vậy chúng ta sẽ trở nên nhạt nhòa đối với nhà tuyển dụng trước những ứng viên xuất sắc khác Và khi đó thì kiến thức sẽ là
vị cứu tinh cứu nguy cho chúng ta Nếu có một nền tảng kiến thức phong phú chúng ta
sẽ không sợ bản thân mình dốt hơn người khác, có thể nói chuyện và thể hiện sự hiểu biết của mình cho người khác và không sợ bị lạc lõng giữa mọi người vì không biết nói gì Việc biết nhiều sẽ giúp chúng ta tự tin thể hiện bản thân và thoải mái hơn trong mọi mối quan hệ Vậy làm thế nào để trau dồi kiến thức?
Hãy chăm đọc sách bởi sách là kho tàng kiến thức của toàn nhân loại, chúng ta có thể đọc và tìm hiểu rất nhiều thứ từ sách Theo dõi các chương trình thời sự để cập nhật thông tin quan trọng, theo dõi các trang mạng xã hội, báo chí để bắt kịp với xu thế chung và cả việc chia sẻ với mọi người
Tâm Lý
Trang 11Có rất nhiều người cảm thấy không tự tin chỉ đơn giản là vì tâm lý Mặc dù họ là người có học thức, có nhiều kiến thức cũng như sự dày dặn trong kinh nghiệm thực tế tuy nhiên khi họ đứng trước đám đông thì họ vẫn không thể thoát khỏi cảnh rụt rè, lời nói thiếu sức mạnh, thiếu sự cương quyết
Tất cả những vấn đề này chỉ nằm ở tâm lý, chúng ta chưa làm chủ được tâm lý của mình để tâm lý vượt khỏi sự kiểm soát Hãy sẵn sàng với một tâm thế chia sẻ, coi mình
là trọng tâm, coi mình là sức mạnh và đang đi “truyền lửa” sức mạnh đó cho người khác Hãy luôn làm chủ tâm lý, suy nghĩ tích cực, có khả năng làm chủ tâm lý chúng ta
sẽ tự tin hơn rất nhiều
Sự trải nghiệm
Nếu đã chuẩn bị đủ tất cả những yếu tố ở trên mà vẫn thiếu sự tự tin thì có lẽ đó là do chúng ta thiếu sự trải nghiệm Rất nhiều người rơi vào trường hợp này, và ví dụ cụ thể nhất là sinh viên Mặc dù một số người học rất giỏi, kiến thức rất tốt tuy nhiên lại rất rụt rè Và trong trường hợp này rất có thể là họ đang rơi vào trường hợp thiếu sự trải nghiệm Chính sự trải nghiệm về nghề, sự cọ xát thực tế sẽ làm cho chúng ta cứng rắn hơn, kiên cường hơn Đó là lý do sau một vài tháng hay vài năm đi làm thực tế công việc thì chúng ta tự tin hơn rất nhiều
Sự tin tưởng từ những người xung quanh
Ngoài những vấn đề nội tại là do chính chúng ta quyết định sự tự tin của bản thân thì một vấn đề khác từ bên ngoài cũng sẽ là nguồn cung cấp năng lượng, nhiệt huyết cũng như sự tự tin cho bản thân đó là sự ủng hộ từ những người xung quanh Chỉ cần một lời động viên từ một người bạn thân, một người đồng nghiệp tốt hay một người thân trong gia đình, khi ấy sự tự tin của chúng ta sẽ tăng lên rất nhiều
Hiểu rõ về bản thân
Một trong những lý do khiến chúng ta thiếu sự tự tin đó chính là thiếu sự thấu hiểu về bản thân Làm sao chúng ta có thể tự tin được trong khi chúng ta chưa hiểu rõ bản thânnhư thế nào? Có điểm mạnh gì? Điểm yếu gì? Bản thân mỗi chúng ta ai cũng có những thế mạnh riêng, hãy nhận ra và phát huy chúng để tự hào hơn về chính mình Chúng ta phải tìm hiểu về mục đích của bản thân, khi chúng ta hiểu được mục đích của
Trang 12bản thân thì chúng ta sẽ không ngại gì việc thể hiện cá tính của mình ra bên ngoài Điều đó sẽ khiến chúng ta tự tin hơn rất nhiều.
Môi trường xã hội và môi trường giáo dục
Môi trường xã hội và môi trường giáo dục có ảnh hưởng rất nhiều đến sự tự tin của chúng ta Bạn bè, người thân, đồng nghiệp xung quanh là những người có khả năng tạoảnh hưởng đến hành động, cảm xúc và thế giới quan của chúng ta Vì vậy, nếu chúng
ta thường xuyên tiếp xúc với những người tự tin chúng ta sẽ có xu hướng trở nên tự tinhơn Muốn phát triển bản thân, hãy làm việc với những người tích cực, biết chấp nhận thử thách, có khả năng thúc đẩy đồng đội, đồng thời luôn xây dựng tinh thần lạc quan,
tự tin trong tập thể Hãy hòa nhập vào những tập thể tích cực, học tập những phẩm chất tốt của họ và trở nên tự tin hơn
Có sự đam mê, có lý tưởng, mục đích sống rõ ràng và có ích
Đến đây thì có lẽ các bạn đã hiểu được gần hết những nguồn gốc của sự tự tin và tất nhiên cũng tới đây thì các bạn đã tự tin hơn rất nhiều rồi Và đây là một nguồn gốc nữa
mà nếu chúng ta nhận biết và làm tốt được nó thì chúng ta sẽ trở nên tự tin hơn rất nhiều, vững trãi hơn rất nhiều
2.2.3 Khái niệm về phỏng vấn tuyển dụng.
- Theo từ điển Merriam Webster, phỏng vấn là một cuộc thương nghị chính thức
nhằm đánh giá trình độ chuyên môn của học sinh hay ứng viên Phỏng vấn cũng được hiểu như một cuộc gặp gỡ mà trong đó, thông tin sẽ được khai thác thông qua các câu hỏi và trả lời
- Phỏng vấn tuyển dụng là một cuộc phỏng vấn trực tiếp giữa người xin việc và
đại diện công ty, qua đó người xin việc sẽ được đánh giá liệu họ có xứng đáng được nhận vào công ty hay không [ CITATION Rob121 \l 1033 ]
Phỏng vấn là công cụ được sử dụng rộng rãi trong công tác tuyển chọn Các cách thức phỏng vấn có thể dưới hình thức một ứng viên - một nhà tuyển dụng; hoặc nhiều nhà tuyển dụng - nhiều ứng viên… Nhà tuyển dụng chiếm vị trí có ưu thế hơn, ngay cả trong trường hợp nhà tuyển dụng không có nhiều lựa chọn cho vị trí công việc đang còn trống
Trang 13- Phỏng vấn tuyển dụng là phương pháp hết sức quan trọng trong việc tuyển dụng
để tìm ra ứng viên có cá tính và nhân cách phù hợp với công việc hay không Điều này đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao nguồn nhân lực trong doanhnghiệp Ngoài ra, phỏng vấn chính thức còn mang nhiều ý nghĩa quan trọng khác:
o Để ứng viên và cấp chỉ huy trong tương lai có dịp gặp gỡ nhau và hiểu biết nhau hơn
o Phỏng vấn xem ứng viên có thực sự đủ kiến thức hoặc trình độ đối với công việc sau này hay không
o Đánh giá một cách trực tiếp sắc thái bên ngoài của ứng viên như cách ăn mặc,dáng vóc, khoa ăn nói cũng như thái độ và tác phong của ứng viên
o Đánh giá một cách trực tiếp tài năng, óc thông minh cũng như tâm lý của ứng viên như: ý trí, nghị lực, mức độ thích nghi với hoàn cảnh, trí phán đoán, óc suy luận, trí tưởng tượng, tình cảm và tham vọng…
Như vậy, quá trình tuyển chọn tập chung vào việc kết hợp khả năng, sự hứng thú của những ứng viên có triển vọng với yêu cầu, phần thưởng của công việc Quyết định tuyển chọn là một trong số những quyết định quan trọng nhất của nhà quản lý Bởi vì, chúng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của một lực lượng lao động
2.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phỏng vấn tuyển dụng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến phỏng vấn tuyển dụng rất đa dạng, từ các yếu tố bên ngoài (ngoại cảnh) đến các yếu tố bên trong của mỗi cá nhân tham gia cuộc phỏng vấn Theo
quan điểm của Sherman & Bohlandertrong cuốn sách Managing Human Resource, kết
quả phỏng vấn tuyển dụng có thể bị ảnh hưởng bởi ba nhóm: ứng viên, phỏng vấn viên
và các tình huống phỏng vấn
- Nhóm thứ nhất, ứng viên:
Những yếu tố, đặc điểm của ứng viên như: Tuổi tác và giới tính của ứng viên; ngoại hình, diện mạo của ứng viên; học vấn, kiến thức cơ bản; sự hứng thú với công việc; đặc điểm tâm lý của ứng viên; hiểu biết của ứng viên về cuộc phỏng vấn, cũng như về
vị trí công việc, doanh nghiệp mà ứng viên đang ứng tuyển là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phỏng vấn tuyển dụng
- Nhóm thứ hai, phỏng vấn viên:
Trang 14Phỏng vấn viên là người tiếp xúc trực tiếp với ứng viên, quan sát, lắng nghe và đánh giá các ứng viên Những đặc điểm của phỏng vấn viên sẽ ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn tuyển dụng được liệt kê sau đây gồm: Tuổi, giới tính của phỏng vấn viên; ngoại hình, diện mạo của phỏng vấn viên; học vấn và kiến thức cơ bản; kiến thức chuyên môn về kỹ thuật phỏng vấn; hiểu biết về ứng viên tham gia phỏng vấn.
- Nhóm thứ ba, các tình huống phỏng vấn:
Các tình huống phỏng vấn được đưa ra trong một cuộc phỏng vấn tuyển dụng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như: chính trị và pháp luật nhà nước nơi tuyển dụng việc làm;điều kiện tổ chức, kỹ thuật phỏng vấn; số người tham gia hội đồng phỏng vấn; mục đích tổ chức các tình huống phỏng vấn
2.3 Một số công trình nghiên cứu và mô hình khoa học.
Trong nghiên cứu “The Effect of Cooperative Education on Change in
Self-Efficacy among Undergraduate Students: Introducing Work Self-Self-Efficacy” của Joseph A Raelin và cộng sự, nhóm tác giả đã xem xét các tác động của giáo dục hợp tác, kiểm soát hỗ trợ theo ngữ cảnh và đặc điểm nhân khẩu học, tới ba khía cạnh của thay đổi sự tự tin: công việc, sự nghiệp, và học thuật Trong ba hình thứccủa sự tự tin, sự tự tin trong công việc là hình thức chịu tác động của giáo dục hợptác Bảng kiểm kê sự tự tin trong công việc (WS-Ei), phát triển bởi Joseph Raelin,
đã đo hàng loạt hành vi liên quan tới các kỹ năng phi kỹ thuật và kỹ năng xã hội cần thiết để đạt được thành công tại nơi làm việc Một thang đo nữa đã được phát triển từ cuộc khảo sát bao gồm 10 biện pháp để ước lượng chất lượng trải nghiệm
Nghiên cứu “Self-efficacy and academic motivation” bởi Dale H Schunk đã chỉ
ra một số điểm cơ bản trong việc cảm nhận và đánh giá sự tự tin Sau quá trình tổng hợp và nghiên cứu, ông thấy rằng con người có xu hướng đánh giá sự tự tin
Trang 15thông qua việc tự thu thập thông tin từ những thành tựu về năng suất, kinh
nghiệm học hỏi được, hình thức thuyết phục và chỉ số sinh lý
Nghiên cứu “Using Technology to Motivate Students to Learn Social Studies” bởiTina Heafner tại trường đại học North Carolina đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng tới sự tự tin của sinh viên như: quá khứ và sự quen thuộc, môi trường học tập, sử dụng công nghệ trong học tập Đồng thời, bà cũng đề xuất một vài kiến nghị nhằm nâng cao sự tự tin trong sinh viên như: xây dựng phương pháp lấy học viên làm trung tâm hay xây dựng các phương pháp hướng dẫn đa dạng, thử thách
để đáp ứng các sinh viên khác nhau
Nghiên cứu của Timothy Judge đến từ đại học Florida, Mỹ cho thấy những người
tự tin có thể kiếm được thêm hàng trăm ngàn đô la trong suốt cuộc đời Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu là 12.686 đàn ông và phụ nữ tuổi từ 14 tới 22 vào năm 1979 Từ năm 2002, cứ hai năm một lần, những người này lại được khảo sát
và phỏng vấn Kết quả cho thấy những người thiếu tự tin chỉ kiếm được 7.000 đô
la Mỹ/năm, trong khi đó, những người tự tin tạo nên sự cách biệt lớn: họ kiếm được 22.000 đô la Mỹ/năm
Nghiên cứu “Does the confidence of first-year undergraduate students change over time according to achievement goal profile?” của David W Putwain (Faculty
of Education, Edge Hill University, Ormskirk, United Kingdom) và Paul Sander (Department of Psychology , Cardiff Metropolitan University, Cardiff, United Kingdom) đã kiểm tra sự thay đổi sự tự tin của sinh viên năm nhất qua các khóa học Dữ liệu được thu thập từ 434 sinh viên theo học tại các trường đại học danh
dự nhất trong ngành tâm lý học, gồm 158 nam và 276 nữ, độ tuổi trung bình là 20,2 Dữ liệu thu thập được chia làm 3 đợt: Đầu kỳ học đầu tiên của năm nhất, đầu kỳ học thứ hai của năm nhất, và đầu năm hai đại học
Kết quả của nghiên cứu cho biết Sự tự tin của sinh viên về xếp hạng, học tập và tham dự đã tiến bộ hơn chút ít qua năm nhất đại học Sự tự tin của sinh viên trong thứ hạng, học tập và sử dụng ngôn ngữ có thể được phân biệt bởi cụm thành tựu mục tiêu vào năm đầu, nhưng điều đó không kéo dài và không thể dùng để phân biệt khi sinh viên vào năm hai Do vậy, các thành tích mục tiêu được đặt ra bởi
Trang 16sinh viên không có bất cứ sự tác đông tích cực hay tiêu cực nào tới sự tự tin của sinh viên.
Trong cuốn “Confidence, Capacity, Connections”, nhóm tác giả Gabriella
Borovsky, Sarah Cherrabi El Alaoui và Megan Doherty đã đưa ra các lời khuyên
và chiến lược trong việc nâng cao sự tự tin với sự đóng góp của 25 phụ nữ khác nhau đến từ các nước khác nhau Họđã tổng kết và chỉ ra một số các yếu tố có ảnhhưởng tới sự tự tin, được phân vào các nhóm: cuộc sống cân bằng (bao gồm giáo dục, tinh thần, ), quản lý thời gian (thời gian biểu, ), sự hiện diện, giọng nói và hình ảnh (giọng nói, gương mặt, chuyển động, trang sức, ) Ngoài ra, họ cũng kết luận rằng: sự tự tin ảnh hưởng tới khả năng lãnh đạo, nâng cao ý thức cá nhân
về sức mạnh và giúp con người tập trung tài năng, năng lượng, sự sáng tạo vào việc tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch
Với nghiên cứu “Young people entering work: A review of the research”, Sarah Oxenbridge and Justine Evesson cho thấy sự chuyển dịch từ trường học sang môi trường làm việc và kinh nghiệm làm thêm trước đó là 2 yếu tố ảnh hưởng tới sự
tự tin tại nơi làm việc Họ cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao sự tự tin để trở thành một nhân viên của công ty mong muốn như tham gia chương trìnhthực tập hay các khóa đào tạo chuyên nghiệp
Trang 17Hình 1: Tác động tương tác đối với hành vi ngôn ngữ trong phỏng vấn của ứng viên
Hình 2: Tác động tương tác đối với hành vi phi ngôn ngữ trong phỏng vấn của ứng viên
Kết quả thu được ứng viên có thái độ tích cực đối với ngườiphỏng vấn có thái độ thân thiện hơn là người phỏng vấn có thái độ lạnh lùng Hành vi của người phỏng vấnvà sự
tự tin của ứng viên có quan hệ với nhau: hành vi lạnh lùng của người phỏng vấn ảnh hưởng tiêu cực đến ứng viên thiếu tự tin hơn là đối với người tự tin
Trang 18 Nghiên cứu Self-esteemand job performance: The moderatingrole of self-esteem contingencies của D Lance Ferris, Huiwen Lian Douglas J Brown, Fiona
X.J.Pang, Lisa M.Keeping đã chỉ ra mức độ quan trọng của hiệu quả công việc đến sự tự tin (IPSE)[ CITATION DLA10 \l 1033 ] Nghiên cứu đã chứng minh các giả thuyết sau là đúng:
Giả thuyết 1: IPSE sẽ kìm hãm mối quan hệ giữa sự tự tin và hiệu suất công việc Ví
dụ như quan hệ giữa sự tự tin và thành công trong công việc sẽ liên quan tích cực đến nhau khi IPSE thấp
Hình 3: Tương tác hai chiều tiên đoán hiệu suất công việc (IPSE tự đánh giá)
Hình 4: Tương tác hai chiều tiên đoán hiệu suất công việc (IPSE ngang hàng)
Giả thuyết 2: IPSE sẽ kìm hãm sự tương tác giữa mức độ tự tin và sự mơ hồ của bản thân trong công việc (role ambiguity) trong việc dự đoán sự thành công trong công việc Ví dụ như mối quan hệ giữa sự mơ hồ của bản thân trong công việc và hiệu suất công việc sẽ ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ lẫn nhaukhi cả mức độ của sự tự tin và IPSEđều thấp
Giả thuyết 3: IPSE sẽ kìm hãm sự tương tác giữa mức độ tự tin và sự mâu thuẫn về vaitrò của bản thân (role conflict) trong việc dự đoán thành công trong công việc Ví dụ,
Trang 19mối quan hệ giữa sự mâu thuẫn về vai trò bản thân và sự hiệu suất công việc sẽ có tiêu cực hơn nhiều khi cả mức độtự tin và IPSE đều thấp.
Hình 5: Tương tác ba chiều tiên đoán hiệu suất công việc
Lý thuyết về sự tự tin vào năng lực bản thân của Albert Bandura
Sự tự tin vào năng lực bản thân là niềm tin của một người về khả năng hoàn thành mộtcông việc cụ thể (Bandura,1977,1989,1994) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tự tin có ảnh hưởng rất lớn tới suy nghĩ, cảm giác, và cách ứng xử của một người
(Bandura,1994) Badura đã tìm ra mối quan hệ giữa sự tự tin, hành vi và kết quả Và ông cho rằng, trong một tình huống cụ thể, mối quan hệ giữa sự tự tin, hành vi và kết quả có thể còn quan trọng hơn kỹ năng, khả năng thực hiện công việc của một người.Nghiên cứu của Bandura và Wood (1989) lý giải rằng, có thể những người tự tin sẽ tậptrung đánh giá vấn đề và đi tìm những giải pháp cho vấn đề đó Trong khi những ngườikém tự tin thì chỉ tập trung vào những thiếu sót của họ và trở nên quá bận tâm tới việc
họ không có đủ kỹ năng và sự chú ý cần thiết vào công việc hiện tại
Sự tự tin của một cá nhân là không giống nhau ở trong mọi tình huống Ngoài ra, sự tựtin vào một lĩnh vực cụ thể có thể được phát triển hoặc thay đổi, ảnh hưởng tới hành vi
và sự thể hiện Bandura [ CITATION Alb77 \l 1033 ] đã đưa ra bốn nguồn ảnh hưởng tới sự tự tin vào năng lực của bản thân Bao gồm:
Trang 20Hình 6: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tự tin vào năng lực bản thân theo mô hình của Bandura.
- Trải nghiệm thành thạo - những điều mà chúng ta đã thực hiện thành công trong
quá khứ: Thành công sẽ làm gia tăng sự kỳ vọng, trong khi những thất bại lặp lại làm giảm chúng Đặc biệt, nếu như có những sự kiện không may xảy ra Khi nhữngthành công được lặp lại sẽ làm gia tăng kỳ vọng, trong khi ảnh hưởng tiêu cực của những thất bại không thường xuyên có vẻ như sẽ giảm đi
- Trải nghiệm gián tiếp - nhìn những người tương tự như chúng ta thành công: Trải
nghiệm thành thạo không phải là nguồn duy nhất liên quan tới sự tự tin của con người Có rất nhiều sự kỳ vọng đến từ trải nghiệm gián tiếp Nhìn những người khác đạt được thành công có thể khiến người quan sát thấy rằng họ cũng có thể đạt được mong muốn của mình nếu họ kiên trì và nỗ lực Họ tự thuyết phục bản thân
họ rằng nếu người khác có thể làm được, họ ít nhất cũng nên đạt được một bước tiến nhỏ trong công việc của mình (Bandura & Barab, 1973)
- Thuyết phục xã hội - nghe người khác nói là chúng ta có khả năng: Thuyết phục xã
hội được sử dụng rộng rãi trong nỗ lực ảnh hưởng tới hành vi của con người Thông qua những gợi ý từ người khác, mọi người được dẫn dắt để tin rằng họ có thể giải quyết thành công những gì đang gây áp lực cho họ trong quá khứ
Trang 21- Trạng thái cảm xúc - luôn tích cực, và quản lý căng thẳng: Những tình huống căng
thẳng và gây áp lực lớn thường tao ra những trạng thái cảm xúc có thể có giá trị thông tin rất hữu ích liên quan tới khả năng của bản thân Do đó, trạng thái cảm xúc là một nguồn có thể ảnh hưởng tới sự tự tin trong việc giải quyết những tình huống khó khăn
2.4 Mô hình đề xuất.
Sau khi tìm kĩ về các công trình nghiên cứu và các học thuyết thuyết trên, chúng tôi đãđưa ra mô hình nghiên cứu Đề tài nghiên cứu và và tìm ra 7 yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tự tin của sinh viên trên địa bàn Hà Nội, để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao
sự tự tin của sinh viên trong quá trình ứng tuyển
Hình 7: Mô hình đề xuất
Sự tự tin trong
ứng tuyển
Tâm lý Tính cách Môi trường xã hội Kinh nghiệm học vị Môi trường giáo dục
Ngoại hình, giọng nói, tác phong Nhà tuyển dụng
Trang 222.5 Hệ thống các câu hỏi định lượng sử dụng thang đo Likert được dùng
trong bảng hỏi.
1 Tôi không thích bị so sánh với những người khác
trong quá trình ứng tuyển [CITATION Jon01 \l 1033 ]
2 Tôi sợ sai trong việc trả lời câu hỏi của nhà tuyển
3 Khi gặp tình huống bất ngờ trong quá trình ứng
tuyển, tôi vẫn bình tĩnh xử lý tình huống tốt [ CITATION Jan10 \l 1033 ]
4 Tôi luôn nghiêm túc trước mỗi quyết định nộp đơn
ứng tuyển và làm mọi cách để thể hiện bản thân thật
tốt trong CV
[CITATION Jon01 \l 1033 ]
5 Mặc dù đã chuẩn bị, tôi vẫn luôn hồi hộp và lo
lắng khi đối mặt với nhà tuyển dụng [ CITATION Ale051 \l 1033 ]
6 Tôi luôn tin rằng mình sẽ là người được chọn khi
tham gia ứng tuyển [ CITATION Jan10 \l 1033 ]
Kinh nghiệm, học vị, thành tích Nguồn tham khảo
1 Tôi cho rằng người có kinh nghiệm làm việc
chiếm nhiều lợi thế hơn người có kiến thức tốt
nhưng ít kinh nghiệm về lĩnh vực đang ứng tuyển
[ CITATION Oxe12 \l 1033 ]
2 Các kiến thức được đào tạo tại trường học rất có
ích cho tôi trong quá trình phỏng vấn xin việc [ CITATION Tin04 \l 1033 ]
3 Sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ (Anh,
Pháp, Nhật,…) khiến tôi tự tin hơn khi phỏng vấn
xin việc
[ CITATION Nic14 \l 1033 ]
4 Tôi chú trọng các kỹ năng viết, đọc hiểu, sử dụng
thành thạo các phần mềm máy tính cơ bản khi đi ứng
tuyển xin việc
[ CITATION Nic14 \l 1033 ]
5 Tham gia phỏng vấn xin việc nhiều lần trước đó
giúp tôi tự tin hơn trong quá trình ứng tuyển [ CITATION Tin04 \l 1033 ]
6 Tôi cố gắng đạt được nhiều chứng nhận từ các
hoạt động học tập và ngoại khóa vì cho rằng đó là lợi
thế khi ứng tuyển xin việc
[CITATION Jon01 \l 1033 ]
1 Tham gia các hoạt động học tập, đoàn thể có ảnh
hưởng tích cực tới quá trình tuyển dụng [ CITATION DrJ12 \l 1033 ]
Trang 232 Những người hướng ngoại, giao tiếp nhiều với
mọi người dễ dàng trúng tuyển hơn những người
hướng nội, ít giao tiếp
[CITATION Kel141 \l 1033 ] [ CITATION Dal91 \l 1033 ]
3 Khả năng thu hút sự chú ý của mọi người có ảnh
hưởng tích cực tới kết quả tuyển dụng [CITATION Ale11 \l 1033 ]
4 Khả năng đưa ra lựa chọn một cách nhanh chóng
có ảnh hưởng tích cực tới quá trình tuyển dụng [ CITATION Gab102 \l 1033 ]
5 Mạnh dạn nói ra quan điểm của mình có ảnh
hưởng tích cực tới quá trình tuyển dụng [CITATION Jon01 \l 1033 ]
6 Thẳng thắn phỏng vấn “ngược” nhà tuyển
dụng/giảng viên/người quản lý của mình là nhân tố
quan trọng trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
[ CITATION Ale051 \l 1033 ]
Môi trường học tập và Phương pháp giáo dục Nguồn tham khảo
1 Sự bình đẳng giữa các thành viên khi hoạt động
nhóm tác động lớn tới sự tự tin của ứng viên trong
quá trình tuyển dụng
[CITATION Kho16 \l 1033 ]
2 Danh tiếng của trường học quyết định đến cơ hôi
nghề nghiệp của tôi
[CITATION Kel141 \l 1033 ] [ CITATION Jos111 \l 1033 ]
3 Việc được tiếp thu những phương pháp học tập đa
dạng tại trường đại học ảnh hưởng lớn tới ứng viên
trong quá trình tuyển dụng
[ CITATION Tin04 \l 1033 ]
4 Việc được học trong môi trường có nhiều người tự
tin tác động mạnh tới quá trình ứng tuyển [ CITATION DrJ12 \l 1033 ]
5 Việc chủ động đảm nhiệm nhiều bài tập thuyết
trình trên lớp tác động tích cực tới tôi khi ứng tuyển
xin việc
[CITATION Kho16 \l 1033 ]
6 Phương pháp giáo dục cấp dưới có ảnh hưởng tới
định hướng nghề nghiệp [ CITATION Tin04 \l 1033 ]
1 Những gì bạn bè và đồng nghiệp nhận xét về tôi
ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn công việc của tôi [CITATION Ale11 \l 1033 ]
2 Bằng cấp và kinh nghiệm của các ứng viên khác
không gây ảnh hưởng tới tôi trong quá trình ứng
tuyển xin việc
[ CITATION Gab102 \l 1033 ]
3 Tạo được nhiều mối quan hệ đa dạng với người
xung quanh giúp ích cho tôi trong quá trình ứng
tuyển xin việc
[CITATION Ale11 \l 1033 ]
Trang 244 Tôi không ngại “nhảy việc” nhiều lần cho tới khi
được làm việc trong môi trường phù hợp với bản
thân
[ CITATION Jos111 \l 1033 ]
5 Làm việc trong môi trường có nhiều cá nhân năng
động, xuất sắc có ảnh hưởng tới định hướng nghề
nghiệp của tôi
[CITATION Ale11 \l 1033 ]
6 Trong thời gian thực tập, tôi sẽ thay đổi để hòa
hợp với số đông đồng nghiệp trong công ty [CITATION Ale11 \l 1033 ]
Giọng nói, ngoại hình, phong thái Nguồn tham khảo
1 Chăm chút ngoại hình trước khi phỏng vấn xin
việc là điều quan trọng
[CITATION Ale11 \l 1033 ] [ CITATION Gab102 \l 1033 ]
2 Khi tham gia phỏng vấn xin việc, tôi không ngại
giao tiếp bằng mắt với nhà tuyển dụng [ CITATION Gab102 \l 1033 ]
3 Khi tham gia ứng tuyển xin việc,việc lựa chọn
những bộ trang phục thể hiện cá tính của mình khiến
tôi tự tin hơn
[ CITATION Gab102 \l 1033 ] [ CITATION Kat14 \l 1033 ]
4 Nói năng lưu loát, mạch lạc, rõ ràng và trôi chảy
trong mọi trường hợp ảnh hưởng lớn tới quá trình
ứng tuyển
[ CITATION Gab102 \l 1033 ] [ CITATION Kat14 \l 1033 ]
5 Phong thái đàng hoàng, đĩnh đạc, lịch sự ảnh
hưởng lớn tới quá trình ứng tuyển
[ CITATION Gab102 \l 1033 ] [ CITATION Kat14 \l 1033 ]
6 Nói ngọng, nói lắp ảnh hưởng lớn tới quá trình
ứng tuyển
[ CITATION Gab102 \l 1033 ] [ CITATION Kat14 \l 1033 ]
1.Nhà quản lý quan tâm tới việc truyền đạt các kiến
thức và kỹ năng cần thiết khiến tôi tự tin hơn trong
quá trình thực tập
[ CITATION Dal91 \l 1033 ] [ CITATION Ale051 \l 1033 ]
2 Phong cách làm việc bảo thủ, rập khuôn của nhà
quản lý ảnh hưởng tới sự tự tin trong công việc của
tôi
[ CITATION Sus10 \l 1033 ] [ CITATION Ale051 \l 1033 ]
3 Kinh nghiệm và học vị của nhà tuyển dụng ảnh
hưởng tới tâm lý của tôi khi tham gia ứng tuyển [ CITATION Kat14 \l 1033 ]
4 Không gian phỏng vấn tác động lớn đến sự tự tin
của tôi trong quá trình phỏng vấn xin việc
[ CITATION Sus10 \l 1033 ] [ CITATION Chi071 \l 1033 ]
5 Thái độ thân thiện của nhà tuyển dụng giúp tôi tự
tin thể hiện bản thân [ CITATION Dal91 \l 1033 ]
6 Những câu hỏi của nhà tuyển dụng nằm ngoài sự [ CITATION Kat14 \l 1033 ]
Trang 25chuẩn bị của tôi khiến tôi lúng túng, lo sợ [ CITATION Chi071 \l 1033 ]
Bảng 1: Hệ thống câu hỏi sử dụng
2.6 Thực trạng sinh viên.
Tại hội thảo “Đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho các khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam” do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Bộ GD&ĐT, Bộ LĐ-TB&XH, Chương trình đổi mới đào tạo nghề tại Việt Nam (GIZ) tổ chức, đã thống kê Quý 1/2016 cả nước có 225.000 người có trình độ cử nhân, thạc sĩ thất
nghiệp[ CITATION Hồn16 \l 1033 ] Đây là một số liệu đáng báo động đối với một đấtnước đang trên đà phát triển như Việt Nam Bên cạnh các nguyên nhân được đưa ra đối với chất lượng đào tạo như chưa làm chủ được công nghệ truyền tải, kỹ năng chuyên nghiệp yếu, thiếu tư duy sáng tạo,… Không thể không kể tới yếu tố tự bản thânsinh viên
Theo nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang, trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết sinh viên hiện nay còn yếu kỹ năng mềm, kỹ năng cứng là kiến thức cơ bản còn chưa vững Do vậy, chất lượng của sinh viên có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất khoảng 20% là các sinh viên tích cực, chăm chỉ trong học tập và có thái độ
nghiệm túc Nhóm thứ hai khoảng 30% là các sinh viên học bình thường Nhóm thứ bakhoảng 50% sinh viên học đối phó và lười học[ CITATION Hồn16 \l 1033 ]
Theo một cuộc khảo sát trực tuyến của CareerBuilder với hơn 1000 nhà tuyển dụng ở các công ty khác nhau cho biết, các nhà tuyển dụng chú ý và có xu hướng tuyển chọn những người mới tốt nghiệp và đang có nhu cầu tìm việc nếu họ đáp ứng được các yêucầu: Sinh viên có kinh nghiệm liên quan đến công việc; sinh viên có khả năng phù hợp
và thích nghi với môi trường, văn hóa của công ty; sinh viên có kiến thức nền tảng vững chắc tích lũy được trong quá trình đào tạo ở trường đại học, từ các cơ quan, tổ chức họ đã từng tham gia, các chứng chỉ, bằng cấp đã nhận được; sinh viên có sự thamvọng và lòng nhiệt tình đối với công việc; và sinh viên có sự chuẩn bị kỹ càng trước buổi phỏng vấn xin việc
Tuy nhiên, không phải sinh viên nào cũng đáp ứng đủ các yêu cầu trên của nhà tuyển dụng Mặc dù họ thuộc nhóm thứ nhất (20% sinh viên chăm chỉ, tích cực) hoặc nhóm thứ hai (30% sinh viên bình thường, không có gì nổi trội) Chúng tôi hiện đang là sinh viên năm 3 tại trường Học viện Ngân Hàng nhận thấy rằng, các sinh viên đại học hiện
Trang 26nay, ít nhiều đều đã nhận biết được họ cần phải làm gì để đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng Trên thị trường, các lớp đào tạo kỹ năng mềm, các chứng chỉ, bằng cấp bổ sung được mở ra ngày càng nhiều và thu hút khá nhiều sinh viên đăng ký tham gia Đồng thời, hoạt động ngoại khóa tại các trường đại học được đẩy mạnh (câu lạc
bộ, hội, nhóm, các cuộc thi về học thuật và tài năng nói chung…) để hỗ trợ sinh viên khám phá thế mạnh của bản thân Nhưng, khi phải đối mặt trực tiếp với nhà tuyển dụng trong quá trình phỏng vấn xin việc, đa số sinh viên đều cảm thấy lúng túng, lo lắng, thiếu tự tin về sự thể hiện của bản thân trước nhà tuyển dụng Cho dù sinh viên
đó có kiến thức tốt, tham gia các hoạt động của trường lớp,… nhưng đôi khi vẫn không làm hài lòng nhà tuyển dụng
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp đối với 20 sinh viên năm 3, năm 4, sắp ra trường thuộc các ngành nghề khác nhau (Như: Y dược, kinh tế, nghiên cứu, luật,
…) đến từ các trường đại học khác nhau trên địa bàn Hà Nội (Đại học Y Hà Nội, Đại học Ngoại thương, Học viện Ngân Hàng, Đại học Khoa học tự nhiên…) với các câu hỏi:
1 Theo anh chị sự tự tin có quan trọng khi đi xin việc không?
2 Sự tin quyết định bao nhiêu phần trăm sự thành công của việc ứng tuyển?
3 Sự tự tin thể hiện ở yếu tố nào khi đi xin việc?
4 Theo anh chị, yếu tố nào tác động mạnh nhất tới sự tự tin khi ứng tuyển củasinhviên?
5 Anh chị đánh giá như thế nào về sự tự tin của sinh viên trong quá trình xin việc?
Kết quả cho thấy rằng, các sinh viên đều đánh giá cao tầm quan trọng của sự tự tin khi
đi xin việc nhưng lại không chắc chắn rằng bản thân hoàn toàn tự tin khi tham gia vào một cuộc phỏng vấn xin việc Họ cho rằng những ứng viên tự tin vào khả năng của bảnthân mình có cơ hội trúng tuyển cao hơn so với những ứng viên thiếu tự tin, rụt rè, nhút nhát Tuy nhiên, những sinh viên được phỏng vấn đều cho rằng, các ứng viên không thực sự hoàn toàn tự tin vào khả năng của bản thân, mà chỉ tự tin vào lĩnh vực
mà họ cho rằng bản thân mình tốt nhất, hoặc được đào tạo tốt nhất Từ đó, họ có xu hướng lựa chọn những công việc thiên về lĩnh vực mà họ đảm bảo rằng bản thân mình
Trang 27làm tốt hơn người khác Ví dụ: Sinh viên học ngành y tự tin về khối lượng kiến thức y học mà họ thu nạp được thông qua quá trình tích lũy trên giảng đường, các buổi thực hành, thực tập Họ quen làm việc trong môi trường ít có sự giao tiếp, vì thế không thực
sự tự tin nếu phải làm việc trong môi trường đòi hỏi cá nhân phải năng động, quảng giao Trong khi đó, sinh viên ngành Luật là những người rất tự tin vào khả năng ăn nói Họ có luận điểm sắc bén, ngôn ngữ cơ thể tốt và giọng nói hùng hồn Điều tương
tự xảy ra đối với các sinh viên học chuyên ngành kinh tế Sinh viên tốt nghiệp từ chuyên ngành kinh tế có xu hướng nộp đơn ứng tuyển vào các vị trí đòi hỏi cao về kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình,…
Các sinh viên được phỏng vấn đã đề xuất những yếu tố có ảnh hưởng tới sự tự tin trong quá trình phỏng vấn xin việc, bao gồm: yếu tố tâm lý; kinh nghiệm, học vị, thànhtích; tính cách; môi trường học tập và phương pháp giáo dục; môi trường xã hội; địa vị
xã hội; giọng nói, ngoại hình; sở trường của bản thân; tiểu sử cá nhân; sự chuẩn bị trước cuộc phỏng vấn; tuổi tác, thâm niên trong công việc của sinh viên và nhà tuyển dụng… Ngoài ra, họ cho biết rằng bản thân còn thiếu sót nhiều những yếu tố ảnh hưởng tới sự tự tin trên và mong muốn tìm kiếm các biện pháp học tập và rèn luyện cóthể giúp họ cải thiện sự tự tin của bản thân
Qua quá trình phỏng vấn trực tiếp, chúng tôi nhận thấy rằng, các yếu tố có ảnh hưởng tới sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn xin việc có khả năng không thực
sự tồn tại độc lập mà có các mối quan hệ với nhau Đánh giá trên thang điểm 10, đa số các sinh viên cho rằng môi trường học tập và phương pháp giáo dục chiếm 8 điểm quan trọng trong việc ảnh hưởng tới sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn xin việc Mặc dù vậy, họ vẫn đề cao vai trò của các thành tích xã hội mà bản thân đạt được vì cho rằng đó sẽ là yêu tố tạo điểm nhấn thu hút nhà tuyển dụng trong hồ sơ xin việc Cho dù thành tích học tập và hoạt động ngoại khóa tốt, các sinh viên đều cho rằng sự chuẩn bị trước cuộc phỏng vấn là cần thiết Sự chuẩn bị đó bao gồm chuẩn bị
về ngoại hình, ước định các câu hỏi, thử thách mà nhà tuyển dụng cho thể đưa ra để chọn lọc người phù hợp nhất Khi đã chuẩn bị tốt, các ứng viên có khả năng làm chủ buổi phỏng vấn, sử dụng tốt ngôn ngữ cơ thể, thậm chí một vài ứng viên có thể đặt câuhỏi ngược liên quan tới công việc cho nhà tuyển dụng
Trang 28Những sinh viên đã có kinh nghiệm làm việc liên quan tới công việc mà họ ứng tuyển
có thái độ chủ động hơn và nắm vững được các kiến thức cơ bản Họ không bị bỡ ngỡ trước các câu hỏi của nhà tuyển dụng Nhưng đôi khi, trong tình huống bị phỏng vấn sâu bởi những câu hỏi hóc búa, liên quan nhiều hơn tới kiến thức nghề nghiệp, hoặc bị buộc phải đưa ra các quy cách ứng xử đối với một tình huống Tâm lý của nhiều sinh viên trở nên hoang mang, dẫn tới kết quả cuộc phỏng vấn không như ý muốn
Những sinh viên có cơ hội tiếp xúc với môi trường học tập và phương pháp giáo dục nước ngoài có xu hướng thể hiện cái tôi mạnh mẽ hơn so với những sinh viên được thụhưởng phương pháp giáo dục tại Việt Nam Đặc biệt, những du học sinh thường có khảnăng giao tiếp và sử dụng ngoại ngữ tốt hơn so với sinh viên tốt nghiệp tại Việt Nam Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong môi trường công việc yêu cầu làm việc với người nước ngoài, hay sử dụng tiếng nước ngoài như một ngôn ngữ thứ hai Trong cuộc phỏng vấn xin việc với hình thức nhiều ứng viên - nhiều nhà tuyển dụng, những sinh viên được học tập tại môi trường nước ngoài luôn mong muốn thể hiện được hết khả năng ngoại ngữ, cũng như vốn xã hội tích lũy được trong những năm sống xa nhà Vì thế, những sinh viên trong nước đôi khi cảm thấy hẫng hụt, mất tự tin khi tự so sánh với đối thủ cạnh tranh của mình là một du học sinh mới về nước có bảng thành tích và hoạt động ngoại khóa xuất sắc
Không chỉ việc tiếp thu cách đào tạo từ môi trường khác nhau tạo ra khoảng cách chênh lệch tự tin của sinh viên này với sinh viên khác Xuất xứ của ứng viên cũng là một nhân tố tác động tới sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng Nhiều sinh viên có xuất thân ở vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế còn khó khăn trở nên rụt rè, nhút nhát khi phải va chạm với các sinh viên đến từ các thành phố, vùng kinh tế trọng điểm trên cả nước Đôi khi, định kiến vùng miền cũng là một trở ngại khiến một sinh viên khi tham gia phỏng vấn xin việc không thể thể hiện tốt khả năng của bản thân
Khi được nhóm nghiên cứu phỏng vấn về yếu tố tác động tới sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn xin việc, phần lớn trong số 20 sinh viên được hỏi đều đề cậptới yếu tố ngoại hình, phong thái Họ cho rằng, trước buổi phỏng vấn xin việc, nhà tuyển dụng mới chỉ biết tới thông tin của ứng viên thông qua bản sơ yếu lý lịch và ảnh dán kèm Buổi phỏng vấn là lần đầu tiên mà nhà tuyển dụng và ứng viên gặp gỡ và
Trang 29trao đổi Vì thế, các sinh viên cho rằng ngoại hình và phong thái của sinh viên là rất quan trọng trong buổi phỏng vấn đó Đặc biệt đối với những công việc có yêu cầu về ngoại hình cao như: tiếp viên hàng không, người mẫu, phát thanh viên truyền hình,…
Vì thế, ngoại hình sáng, phong thái lịch sự được cho là một lợi thế lớn Lẽ dễ hiểu với tâm lý thông thường, khi gặp một người có ngoại hình cao ráo, xinh đẹp, chúng ta thường ngưỡng mộ và dõi theo họ, đồng thời tự so sánh với khuyết điểm của bản thân.Thông qua dữ liệu phỏng vấn trực tiếp từ 20 sinh viên năm 3, năm 4, sắp ra trường trênđịa bàn Hà Nội trên Với mong muốn tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, và có được câu trả lời cho công tác xác định và nâng cao các yếu tố ảnh hưởng tới sự tự tin của sinh viên trên địa bàn Hà Nội trong quá trình phỏng vấn xin việc,nhóm nghiên cứu tiếp tục lập bảng hỏi điều tra trên diện rộng hơn với tổng số 300 sinh viên đang được đào tạo ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau (8 sinh viên ngành du lịch và dịch vụ, 12 sinh viên ngành giáo dục và đào tạo, 34 sinh viên ngành khoa học - công nghệ, 19 sinh viênngành kiến trúc- xây dựng, 147 sinh viên ngành kinh doanh - quản lý, 15 sinh viên ngành luật, 4 sinh viên ngành nghệ thuật, 16 sinh viên ngành nhân văn, 7 sinh viên ngành nông nghiệp- thú y, 21 sinh viên ngành xã hội và truyền thông, 11 sinh viên ngành y tế và sức khỏe, 6 sinh viên ngành khác) với phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu được trình bày ở những phần sau
Trang 30CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu.
Khi tiến hành điều tra và nghiên cứu một vấn đề nào đó, người nghiên cứu có thể lựa chọn giữa hai phương pháp: nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng hoặc cả hai.Nghiên cứu định tính chủ yếu là nghiên cứu thăm dò Nó cung cấp những thông tin sâusắc về vấn đề nghiên cứu hay giúp phát triển các ý tưởng và giả thuyết phục vụ nghiên cứu định lượng Phương pháp thu thập dữ liệu định tính rất đa dạng, một số phương pháp phổ biến bao gồm thảo luận nhóm, phỏng vấn cá nhân và quan sát Kích thước mẫu của nghiên cứu định tính thường nhỏ[ CITATION Sus11 \l 1033 ]
Nghiên cứu định lượng được sử dụng để định lượng vấn đề nghiên cứu bằng cách tạo
ra số liệu hoặc dữ liệu có thể được chuyển đổi thành số liệu thống kê khả dụng
Nghiên cứu định lượng sử dụng dữ liệu có thể đo lường được để xây dựng các mô hình
và khám phá ra các sự thật Các phương pháp thu thập dữ liệu định lượng có cấu trúc chắc chắn hơn nhiều so với các phương pháp thu thập dữ liệu định tính, bao gồm hình thức khảo sát trực tuyến, điều tra bằng giấy, điều tra qua điện thoại di động, phỏng vấntrực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại[ CITATION Sus11 \l 1033 ]
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu và khảo sát sơ bộ thông qua phương pháp nghiên cứu định tính như phỏng vấn cá nhân nhằm tìm ra, bổ sung và hoàn thiện các yếu tố ảnh hưởng tới sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng Tiếp đó bước vào giai đoạn nghiên cứu định lượng bằng cách thiết kế bảng hỏi và tiến hành khảo sát qua mạng Cuối cùng chúng tôi thực hiện phân tích kết quả và đưa ra các giải pháp và khuyến nghị phù hợp
3.2 Thiết kế nghiên cứu.
3.2.1 Quy trình nghiên cứu.
Dựa trên bài viết trong cuốn Applied Research and Evaluation Methods in Recreation của Diane C Blankenship, có thể thấy rằng để hoàn thành 1 bài nghiên cứu khoa học cần phải trải qua 8 bước
Bước 1: Xác định vấn đề.
Trang 31Bước đầu tiên là xác định vấn đề hoặc phát triển một câu hỏi cần nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu có thể là những vấn đề nổi cộm trong xã hội hay một xu hướng mới nổi Vấn đề nghiên cứu chúng tôi chọn ở đây có tính cấp thiết với xã hội hiện đại và liên quan mật thiết tới các sinh viên – chủ nhân tương lai của đất nước.
Bước 2: Tìm hiểu tài liệu.
Sau khi xác định được vấn đề, nhà nghiên cứu phải tìm hiểu thêm về chủ đề đang đượcđiều tra Bước này sẽ cung cấp các kiến thức căn bản về lĩnh vực vấn đề Việc rà soát tài liệu giúp các nhà nghiên cứu biết được những nghiên cứu tương tự và gần tương tự
đã thực hiện trong quá khứ, những nghiên cứu này được tiến hành như thế nào và những kết luận của chúng Với đề tài nghiên cứu khoa học của chúng tôi, nhóm đã tìm hiểu rất nhiều tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan tới sự tự tin cũng như cácchủ đề xung quanh sinh viên
Bước 4: Xác định rõ các thuật ngữ và khái niệm.
Thuật ngữ và khái niệm là các từ hoặc cụm từ được sử dụng trong phần mục đích nghiên cứu hoặc mô tả nghiên cứu[ CITATION Dia10 \l 1033 ] Các mục này cần đượcxác định cụ thể đối với mỗi nghiên cứu Các thuật ngữ hoặc khái niệm thường có các định nghĩa khác nhau, tùy thuộc xem người đọc mà nhà nghiên cứu hướng tới là ai để lựa chọn Để giảm thiểu nhầm lẫn về những thuật ngữ và cụm từ, nhà nghiên cứu phải xác định cụ thể nội dung và ý nghĩa của chúng cho nghiên cứu
Bước 5: Xác định mẫu.
Vấn đề nghiên cứu và mục đích của nghiên cứu sẽ là những nhân tố quan trọng trong việc xác định mẫu tham gia nghiên cứu Xác định mẫu nghiên cứu giúp nhà nghiên cứu đạt được mục tiêu qua nhiều cách Thứ nhất, nó thu hẹp phạm vi nghiên cứu từ một quần thể rất lớn xuống còn một tập thể nhỏ hơn có thể quản lý được Thứ hai, việc
Trang 32chọn mẫu giúp nhà nghiên cứu tập trung hơn trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, đảm bảo rằng họ đang đi đúng kế hoạch đã vạch ra Cuối cùng, bằng cách xác định mẫu nghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể xác định được đối tượng nào mà bài nghiên cứu sẽ tác động tới Với đề tài nghiên cứu khoa học của chúng tôi, chúng tôi xác định mẫu nghiên cứu là những sinh viên đến từ các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.
Bước 6: Xây dựng kế hoạch định hướng.
Kế hoạch định hướng bao gồm nhiều quyết định và cân nhắc khác nhau Kế hoạch định hướng của chúng tôi đã liệt kê tất cả các bước phải làm để có thể hoàn thành mục tiêu nghiên cứu Trong chủ đề nghiên cứu này, chúng tôi đã quyết định thu thập thông tin từ sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội, thời gian từ đầu tháng 2 đến 2 tháng 3 với mục tiêu có được 300 phản hồi
Bước 7: Thu thập dữ liệu.
Dữ liệu có thể được thu thập thông qua cuộc khảo sát, bảng câu hỏi, thông qua quan sát, hoặc từ tài liệu Với đề tài “Những yếu tố cấu thành sự tự tin của sinh viên trên địabàn Hà Nội trong quá trình phỏng vấn và tuyển dụng”, chúng tôi đã thực hiện khảo sát trực tuyến thông qua bảng hỏi với 300 bạn sinh viên, đồng thời thực hiện phỏng vấn trực tiếp trước đó nhằm củng cố thêm các quyết định và lựa chọn của chúng tôi về các yếu tố cần đưa vào bài
Bước 8: Phân tích dữ liệu.
Các kết quả của phân tích này sau đó được xem xét và tóm tắt một cách trực tiếp liên quan đến các câu hỏi nghiên cứu Trong nghiên cứu về sự tự tin của sinh viên, chúng tôi đã sử dụng các dữ liệu thu thập được để phân tích thông qua phần mềm Microsoft Excel và IBM SPSS 24 Kết quả chi tiết sẽ được trình bày ở chương sau
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu.
Phỏng vấn.
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn chuyên sâu trên 20 đối tượng khác nhau đến từ các trường khác nhau trên địa bàn Hà Nội Thông qua các cuộc gặp mặt trực tiếp, chúng tôi đã thu được những ý kiến quý báu và xác thực phục
vụ cho quá trình nghiên cứu Cụ thể, thông qua phỏng vấn, chúng tôi đã loại bỏ 2 biến
Trang 33là “Quá khứ” và “Quê quán” bới không có bất cứ sinh viên nào đề cập tới vấn đề này Ngoài ra, chúng tôi cũng đã thêm vào 1 yếu tố mới là “Nhà tuyển dụng”, bới hầu hết các sinh viên đều cho rằng người thực hiện phỏng vấn là người trực tiếp có tác động mạnh mẽ nhất tới sự tự tin trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
Quan sát
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện quan sát trên các tài liệu có sẵn và trên đối tượng nghiên cứu thực tế Chúng tôi thực hiện tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích các bài báo, bản ghi và các nghiên cứu khoa học có liên quan tới sự tự tin của sinh viên trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng Tuy vậy, khó khăn lớn nhất chúng tôi gặp phải, cho tới thời điểm hiện tại và với năng lực của chúng tôi, đó là chưa có bất kỳ một nghiên cứu nào gần với chủ đề chúng tôi đã chọn Do đó, nhóm đã cần phải quan sát và thu nhận thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau mới có thể có đủ tư liệu phục vụ bài viết
Chúng tôi cũng thực hiện quan sát trong những hoàn cảnh cụ thể Bằng cách quan sát các cuộc phỏng vấn tuyển dụng có sự tham gia của sinh viên trên địa bàn Hà Nội, mỗi cuộc phỏng vấn có độ dài từ 15-30 phút, chúng tôi đã thu thập được rất nhiều tư liệu quý giá Chẳng hạn những biểu hiện rõ nhất có liên quan tới các yếu tố trong bài là giọng nói, ngoại hình, phong thái, phản xạ, ngôn ngữ,…
Phương pháp xử lí số liệu.
- Phương pháp tỉ lệ.
Phương pháp này được sử dụng nằm mục đích thống kê cho những câu hỏi định tính
Dữ liệu đã thu nhận được nhóm phân loại và sắp xếp theo các tiêu chí phù hợp, phục
vụ việc lý giải các vấn đề tồn đọng thông qua thông tin được cung cấp
- Phương pháp tính điểm trung bình, xếp thứ bậc.
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng nhằm đánh giá và thử nghiệm các câu hỏi trắc nghiệm đã được xây dựng trên thang đo Likert 5 mức độ đánh giá, từ rất không đồng ý đến rất đồng ý Việc cho điểm và tính điểm trung bình giúp cho chúng tôi có những cơ sở để đánh giá, nhận xét khách quan và khoa học cho những giả thuyết đưa
ra Việc tính toán cụ thể như sau:
Trang 34Với mỗi lựa chọn rất không đồng ý, không đồng ý, bình thường, đồng ý hoặc rất đồng
ý, đối tượng khảo sát sẽ cho điểm tương ứng 1, 2, 3, 4, 5 Điểm trung bình sau đó sẽ được xử lý thông qua phần mềm IBM SPSS 24
Phương pháp nghiên cứu định tính.
Phương pháp nghiên cứu định tính được chúng tôi lựa chọn là phương pháp chính trong quá trình nghiên cứu Ban đầu, phương pháp này được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự tin của sinh viên khi ứng tuyển, hình thành các biến trong
mô hình nghiên cứu Nghiên cứu tại bàn thông qua các bài báo, các công trình nghiên cứu khoa học, các tạp chí khoa học trong và ngoài nước Nghiên cứu thông qua một vài cuộc phỏng vấn sâu (In-depth Interview) một số sinh viên, chúng tôi lựa chọn phương pháp phỏng vấn có cấu trúc hoặc hệ thống (Structure/System Interview) Đây
là phương pháp phỏng vấn tất cả các đối tượng những câu hỏi như nhau Thông tin thuđược bằng phương pháp này có thể bao gồm cả các con số và các dữ liệu có thể đo đếm được, để thu thập được nhiều luồng ý kiến về cùng một vấn đề
Trên cơ sở đó từng bước xây dựng và phát triển mô hình giả định các yếu tố ảnh hưởng sự tự tin của sinh viên trong quá trình ứng tuyển
Phương pháp nghiên cứu định lượng.
Phương pháp định lượng chúng tôi sử dụnglà điều tra KAP (Knowledge Attitude Pratice: Kiến thức – Thái độ – Thực hành)
Trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức, cuộc khảo sát thử với mẫu nhỏ gồm 10 sinh viên nhằm phát hiện sai sót và những câu chữ khó hiểu dễ gây nhầm lẫn Sau khi khảo sát thử nhóm đã điều chỉnh và tiếp tục khảo sát trên phạm vi rộng hơn Sau khi thu thập thông tin việc, chúng tôi thực hiệnxử lý và phân tíchsố liệu bằng phần mềm SPSS Trong bài nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng thang đo định danh( Nominal Scale) và thang đo mức độ (Measures Scale) Cuối cùng các kết quả được phân tích, giải thích và trình bày thành bản báo cáo nghiên cứu
3.2.3 Phương pháp chọn mẫu.
Phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu ngẫu nhiên.
Trang 35Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà khả năngđược chọn vào tổng thể mẫu của tất cả các đơn vị của tổng thể đều như nhau Đây là phương pháp tốt nhất để có thể chọn ra một mẫu có khả năng đại biểu cho tổng thể Vì
có thể tính được sai số do chọn mẫu, nhờ đó có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý số liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung
Xác định kích thước mẫu.
Kích thước của mẫu áp dụng trong nghiên cứu được dựa theo yêu cầu của phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) và hồi quy đa biến:
- Đối với phân tích nhân tố khám phá EFA: Dựa theo nghiên cứu của Hair,
Anderson, Tatham và Black (1998) cho tham khảo về kích thước mẫu dự kiến Theo đó kích thước mẫu tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát ( tức n=5*m , với m là số lượng câu hỏi trong trong bảng hỏi) Đây là cỡ mẫu phù hợp cho
nghiên cứu có sử dụng phân tích nhân tố (Comrey, 1973; Roger, 2006).Bài nghiên cứu của chúng tôi gồm 48 câu hỏi, do đó, cỡ mẫu tối thiểu là 5*48=240 mẫu khảo sát
- Đối với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công
thức là n=50 + 8*m (với m là số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996) Bài nghiên cứu của nhóm gồm 7 biến độc lập, do đó, cỡ mẫu tối thiểu là 50+ 8*7= 106.Căn cứ vào cỡ mẫu tối thiểu từ hai công thức trên, chúng tôi đã tiến hành lấy 300 mẫu
3.2.4 Xây dựng thang đo.
Thang đo là công cụ để mã hoá các biểu hiện khác nhau của các đặc trưng nghiên cứu Hiện tại có 4 thang đo phục vụ cho việc nghiên cứu và thu thập dữ liệu: (1) thang đo định danh (nominal scale); (2) thang đo thứ tự (ordinal scale); (3) thang đo quãng (internalscale); (4) thang đo tỷ lệ (ratio scale) Với chủ đề này, chúng tôi đã tham khảo rất nhiều thang đo từ việc rà soát các tài liệu khác nhau trên thế giới Tuy vậy, do chưa
có chủ đề cụ thể nghiên cứu về vấn đề này, đồng thời có sự khác biệt khá nhiều giữa xãhội Việt Nam và những nền văn hóa tiên tiến trên thế giới, chúng tôi đã đánh giá và thiết kế lại bảng hỏi sao cho phù hợp hơn
Thang đo tâm lý
Trang 36Thang đo này được đo lường bới 6 biến quan sát sau:
TL1: Tôi không thích bị so sánh với những người khác trong quá trình ứng tuyển.TL2: Tôi sợ sai trong việc trả lời câu hỏi của nhà tuyển dụng
TL3: Khi gặp tình huống bất ngờ trong quá trình ứng tuyển, tôi vẫn bình tĩnh xử lý tình huống tốt
TL4: Tôi luôn nghiêm túc trước mỗi quyết định nộp đơn ứng tuyển và làm mọi cách đểthể hiện bản thân thật tốt trong CV
TL5: Mặc dù đã chuẩn bị, tôi vẫn luôn hồi hộp và lo lắng khi đối mặt với nhà tuyển dụng
TL6: Tôi luôn tin rằng mình sẽ là người được chọn khi tham gia ứng tuyển
Thang đo kinh nghiệm và học vị
Thang đo này được đo lường bới 6 biến quan sát sau:
KN1: Tôi cho rằng người có kinh nghiệm làm việc chiếm nhiều lợi thế hơn người có kiến thức tốt nhưng ít kinh nghiệm về lĩnh vực đang ứng tuyển
KN2: Các kiến thức được đào tạo tại trường học rất có ích cho tôi trong quá trình phỏng vấn xin việc
KN3: Sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nhật,…) khiến tôi tự tin hơn khi phỏng vấn xin việc
KN4: Tôi chú trọng cáckỹ năng viết, đọc hiểu, sử dụng thành thạo các phần mềm máy tính cơ bản khi đi ứng tuyển xin việc
KN5: Tham gia phỏng vấn xin việc nhiều lần trước đó giúp tôi tự tin hơn trong quá trình ứng tuyển
KN6: Tôi cố gắng đạt được nhiều chứng nhận từ các hoạt động học tập và ngoại khóa
vì cho rằng đó là lợi thế khi ứng tuyển xin việc
Thang đo tính cách
Thang đo này được đo lường bới 6 biến quan sát sau:
Trang 37TC1: Tham gia các hoạt động học tập, đoàn thể có ảnh hưởng tích cực tới quá trình tuyển dụng.
TC2: Những người hướng ngoại, giao tiếp nhiều với mọi người dễ dàng trúng tuyển hơn những người hướng nội, ít giao tiếp
TC3: Khả năng thu hút sự chú ý của mọi người có ảnh hưởng tích cực tới kết quả tuyển dụng
TC4: Khả năng đưa ra lựa chọn một cách nhanh chóng có ảnh hưởng tích cực tới quá trình tuyển dụng
TC5: Mạnh dạn nói ra quan điểm của mình có ảnh hưởng tích cực tới quá trình tuyển dụng
TC6: Thẳng thắn phỏng vấn “ngược” nhà tuyển dụng/giảng viên/người quản lý của mình là nhân tố quan trọng trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng
Thang đo môi trường học tập và phương pháp giáo dục
Thang đo này được đo lường bới 6 biến quan sát sau:
GD1: Sự bình đẳng giữa các thành viên khi hoạt động nhóm tác động lớn tới sự tự tin của ứng viên trong quá trình tuyển dụng
GD2: Danh tiếng của trường học quyết định đến cơ hôi nghề nghiệp của tôi
GD3: Việc được tiếp thu những phương pháp học tập đa dạng tại trường đại học ảnh hưởng lớn tới ứng viên trong quá trình tuyển dụng
GD4: Việc được học trong môi trường có nhiều người tự tin tác động mạnh tới quá trình ứng tuyển
GD5: Việc chủ động đảm nhiệm nhiều bài tập thuyết trình trên lớp tác động tích cực tới tôi khi ứng tuyển xin việc
GD6: Phương pháp giáo dục cấp dưới có ảnh hưởng tới định hướng nghề nghiệp
Thang đo môi trường xã hội
Thang đo này được đo lường bới 6 biến quan sát sau:
Trang 38XH1: Những gì bạn bè và đồng nghiệp nhận xét về tôi ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn công việc của tôi.
XH2: Bằng cấp và kinh nghiệm của các ứng viên khác không gây ảnh hưởng tới tôi trong quá trình ứng tuyển xin việc
XH3: Tạo được nhiều mối quan hệ đa dạng với người xung quanh giúp ích cho tôi trong quá trình ứng tuyển xin việc
XH4: Tôi không ngại “Nhảy việc” nhiều lần cho tới khi được làm việc trong môi trường phù hợp với bản thân
XH5: Làm việc trong môi trường có nhiều cá nhân năng động, xuất sắc có ảnh hưởng tới định hướng nghề nghiệp của tôi
XH6: Trong thời gian thực tập, tôi sẽ thay đổi để hòa hợp với số đông đồng nghiệp trong công ty
Thang đo giọng nói, ngoại hình và phong thái
Thang đo này được đo lường bới 6 biến quan sát sau:
NH1: Chăm chút ngoại hình trước khi phỏng vấn xin việc là điều quan trọng
NH2: Khi tham gia phỏng vấn xin việc, tôi không ngại giao tiếp bằng mắt với nhà tuyển dụng
NH3: Khi tham gia ứng tuyển xin việc, việc lựa chọn những bộ trang phục thể hiện cá tính của mình khiến tôi tự tin hơn
NH4: Nói năng lưu loát, mạch lạc, rõ ràng và trôi chảy trong mọi trường hợp ảnh hưởng lớn tới quá trình ứng tuyển
NH5: Phong thái đàng hoàng, đĩnh đạc, lịch sự ảnh hưởng lớn tới quá trình ứng tuyển.NH6: Nói ngọng, nói lắp ảnh hưởng lớn tới quá trình ứng tuyển
Thang đo nhà tuyển dụng
Thang đo này được đo lường bới 6 biến quan sát sau:
TD1: Nhà quản lý quan tâm tới việc truyền đạt các kiến thức và kỹ năng cần thiết khiến tôi tự tin hơn trong quá trình thực tập
Trang 39TD2: Phong cách làm việc bảo thủ, rập khuôn của nhà quản lý ảnh hưởng tới sự tự tin trong công việc của tôi.
TD3: Kinh nghiệm và học vị của nhà tuyển dụng ảnh hưởng tới tâm lý của tôi khi tham gia ứng tuyển
TD4: Không gian phỏng vấn tác động lớn đến sự tự tin của tôi trong quá trình phỏng vấn xin việc
TD5: Thái độ thân thiện của nhà tuyển dụng giúp tôi tự tin thể hiện bản thân
TD6: Những câu hỏi của nhà tuyển dụng nằm ngoài sự chuẩn bị của tôi khiến tôi lúng túng, lo sợ
3.2.5 Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức và phương pháp thu thập thông
tin.
Cuộc khảo sát được tiến hành trong Hà Nội, mẫu khảo sát là các sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội thuộc các lĩnh vực đa dạng: nông nghiệp, thú y, khoa học công nghệ, kinh doanh, xã hội,… Thu thập trực tiếp qua phỏng vấn chuyên sâu và bảng hỏi trên Google Forms Qua nghiên cứu sơ bộ, các thang đo đã được xác định và bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên thang đo Likert (1932)
Trang 40CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Giới thiệu.
Chương 3 đã trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu của đề tài và mô tả thông tincủa mẫu nghiên cứu định lượng Trong chương 4, chúng tôi sẽ thực hiện thống kê mẫu dựa trên các biến định tính đã đưa ra Sau đó, nhóm sẽ thực hiện kiểm định mô hình lý thuyết Các công việc được thực hiện bằng IBM SPSS 24
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo.
Các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết và mô hình khoa học mà nhóm đã nêu trong Chương 2 Cụ thể có năm thang đo lường năm khái niệm nghiên cứu, đó là (1) Tâm lý (TL), (2) Kinh nghiệm và học vị (KN), (3) Tính cách (TC), (4) Môi trường học tập và phương pháp giáo dục (GD), (5) Môi trường xã hội (XH), (6) Giọng nói, ngoại hình và phong thái (NH)
4.3 Thống kê mô tả biến định tính.
Đối tượng khảo sát được phân loại dựa trên giới tính, nơi ở hiện tại, sinh viên năm thứ mấy, ngành học và tình trạng công việc hiện tại
213 71.00%
86 28.67%
1 0.33%
Giới tính
Nữ Nam Khác
Hình 8: Biểu đồ cơ cấu giới tính
Khảo sát trên 300 đối tượng đang là sinh viên của các trường trên địa bàn Hà Nội, có
213 đối tượng nữ (chiếm 71%), 86 đối tượng nam (chiếm 28,67%), duy nhất chỉcó 1