CSPL: khoản 5 Điều 30 BLTTDS 2015 Tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công ty với công ty với nhau thuộc lĩnh vực thương mại nên nếu các bên có thỏa thuận trọng tài v
Trang 1Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Quản trị - Lớp QTL44B2
BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 3 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Bộ môn: Luật Tố tụng dân sự
Giảng viên: ThS Nguyễn Trần Bảo Uyên
Nhóm:
Thành viên
1 Nguyễn Tường Vi 1953401020287
2 Đào Ngọc Phương Vi 1953401020286
3 Nguyễn Lê Mai Tiên 1953401020233
4 Nguyễn Thị Phương Uyên 1953401020284
5 Trần Ngọc Thu Uyên 1953401020285
6 Lê Hoàn Bảo Trân 1953401020247
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 3 năm 2022
Trang 2Phần 1 Nhận định
1 Vụ án lao động có đương sự ở nước ngoài luôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa cấp tỉnh.
Nhận định đúng
Theo khoản c Điều 35 BLTTDS 2015 quy định là các tranh chấp về lao động tại Điều 32 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện Tuy nhiên, nếu
vụ án lao động mà có đương sự ở nước ngoài thì theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS
2015 thì TAND cấp huyện sẽ không giải quyết mà thẩm quyền sẽ thuộc về TAND cấp tỉnh theo điểm c khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015 Cho nên, vụ án lao động có đương sự ở nước ngoài sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa cấp tỉnh
2 Không phải mọi tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công ty với công ty với nhau đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.
Nhận định đúng CSPL: khoản 5 Điều 30 BLTTDS 2015
Tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công ty với công ty với nhau thuộc lĩnh vực thương mại nên nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận không thuộc trường hợp bị vô hiệu hay không thực hiện được thì thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại, chứ không phải của Toà án
3 Toà án chỉ giải quyết việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ khi có tranh chấp.
Nhận định sai CSPL: Khoản 10 Điều 28 BLTTDS 2015,
Ngoài trường hợp khi có tranh chấp, Tòa án giải quyết việc xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình khi có yêu cầu
4 Trong mọi trường hợp, nguyên đơn chỉ có thể yêu cầu tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp khi đương sự đã có thỏa thuận với nhau bằng văn bản.
Trang 3Nhận định sai CSPL: Điểm a, c, d, đ Khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015
Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết theo điểm c khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015
Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết theo điểm d khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015
Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình
cư trú, làm việc giải quyết theo điểm đ khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015
Trong các trường hợp trên, nguyên đơn chỉ có thể yêu cầu tòa án nơi mình
cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp mà không cần có sự thỏa thuận với nhau bằng văn bản giữa các đương sự
5 Tòa án nơi bị đơn cư trú là Tòa án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú.
Nhận định sai CSPL: Nghị quyết số 04/2017 NQ- HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015
Theo điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 04/2017 NQ- HĐTP “nếu người bị kiện là công dân Việt Nam thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật
cư trú”
Như vậy, Tòa án nơi bị đơn cư trú còn có thể là Tòa án nơi bị đơn tạm trú
6 Trong mọi trường hợp, nếu tranh chấp không liên quan đến bất động sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.
Nhận định sai CSPL: điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015
Trong trường hợp tranh chấp không liên quan đến bất động sản nhưng các đương sự có thỏa thuận với nhau yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên
Trang 4đơn giải quyết thì tranh chấp này sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc
7 Các tranh chấp về quốc tịch đều thuộc thẩm quyền giải quyết về dân
sự của Tòa án nhân dân.
Nhận định sai
Căn cứ Khoản 1 Điều 26 BLTTDS 2015 quy định tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Từ quy định của điều luật có thể hiểu nếu tranh chấp về quốc tịch mà giữa các bên đương sự không phải là cá nhân mà là pháp nhân thì không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
8 Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án cấp huyện luôn do Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
Nhận định sai CSPL: Khoản 2, Khoản 3 Điều 41 BLTTDS 2015
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh chỉ giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trường hợp tranh chấp về thẩm quyền giữa các TAND cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết theo Khoản 3 Điều 41 BLTTDS 2015
9 Trong mọi trường hợp, Tòa án có quyền giải quyết tranh cấp vụ kiện
ly hôn đều thuộc thẩm quyền nơi cư trú; làm việc của bị đơn.
Nhận định sai CSPL: Điều 39 BLTTDS 2015
Trường hợp đương sự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi
cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết tranh chấp thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp vụ kiện ly hôn thuộc Toà án nơi cư trú làm việc của nguyên đơn Hoặc đối tượng tranh chấp trong vụ kiện ly hôn là bất động sản thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết
10 Việc nhập hoặc tách vụ án có thể diễn ra trước khi Tòa án tiến hành thụ lý
vụ án dân sự.
Nhận định sai CSPL: Điều 42 BLTTDS 2015
Việc nhập hoặc tách vụ án chỉ được thực hiện khi Tòa án đã tiến hành thụ lý riêng biệt từng vụ án dân sự để giải quyết Trong quá trình xem xét, giải quyết mà
Trang 5Toà Án nhận thấy cần nhập hoặc tách vụ án thì phải bảo đảm việc nhập hoặc tách
vụ án đó đúng pháp luật
Trang 6Phần 2 Bài tập
Ngày 08/3/2012, ông Du Văn Đ (Cư trú tại 2 BAB, E, V3057, Australia) và Ông Trịnh Quốc P (Cư trú tại đường 19E, khu phố 2, phường B, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) có ký Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ở số 06575 ngày 08/3/2012 tại Phòng công Chứng số 2 đối với nhà đất
926 (trệt) Đường Tr1, Phường 7, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, giá chuyển nhượng là 14.500.000.000 đồng Ông Đ đã nhận 10.500.000.000 đồng và đã giao toàn bộ giấy tờ cho ông Ph, số tiền 4.000.000.000 đồng còn lại ông Ph sẽ giao sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng theo quy định Ông Ph đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Quận 5 cập nhật sang tên đối với nhà đất trên vào ngày 14/3/2012 nhưng đến nay vẫn không chịu trả cho ông Đ số tiền 4.000.000.000 đồng Nay ông Đ khởi kiện ông Ph yêu cầu ông Ph trả lại cho ông Đ số tiền 4.000.000.000 đồng còn lại và tiền lãi đối với số tiền trên theo lãi suất cơ bản của
Ngân hàng tính từ ngày 14/3/2012 đến khi xét xử sơ thẩm Hỏi:
1 Xác định tư cách đương sự.
Căn cứ Khoản 2, 3 Điều 68 BLTTDS 2015:
Nguyên đơn: ông Du Văn Đ - là người khởi kiện vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
Bị đơn: ông Trịnh Quốc P
2 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.
Đây là tranh chấp dân sự thuộc khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, cụ thể là Hợp đồng dân sự về mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất
3 Xác định Tòa án có thẩm quyền.
Vụ việc trên có nguyên đơn là người Việt Nam cư trú tại nước ngoài và bị đơn là người Việt Nam cư trú tại Việt Nam, do đó theo điểm a Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam
Thứ nhất, xét thẩm quyền theo vụ việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26 BLTTDS
2015 thì đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Trang 7Thứ hai, xét thẩm quyền theo cấp Tòa án: Căn cứ khoản 3 Điều 35 và khoản
1 Điều 37 BLTTDS 2015 thì vụ án dân sự này có ông Du Văn Đ là đương sự đang
cư trú tại nước ngoài nên thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án cấp tỉnh
Thứ ba, xét thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39
BLTTDS 2015 thì Tòa án nơi bị đơn cư trú là cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự được quy định tại Điều 26 BLTTDS
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8Phần 3 Phân tích án (Bản án số: 356/2018/KDTM-ST)
- Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Ông Trần Minh Hoàng – Đại diện Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương
Bị đơn: Công ty Cổ phần Tập đoàn Khang Thông
Nguyên đơn có xác lập hợp đồng số 29, số 41 về việc mua cây ăn trái và cây kiểng với bị đơn và hợp đồng mua cây cảnh quan số 46
Ngày 30/3/2011: hai bên ký biên bản thanh lý hợp đồng mua cây số 29, bị đơn còn nợ nguyên đơn 1.510.000.000 đồng
Ngày 02/6/2011: hai bên ký biên bản thanh lý hợp đồng mua cây số 41, bị đơn còn nợ 3.751.000.000 đồng
Ngày 09/4/2012 và ngày 06/5/2013, hai bên ký hai biên bản nghiệm thu, bị đơn còn nợ 4.770.000.000 đồng và 810.000.000 đồng
Ngày 05/5/2016, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ theo hợp đồng 29, 41 và 46 tổng cộng là: 10.031.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả
Phía bị đơn không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là kinh doanh thương mại chứ không phải là tranh chấp
về đòi tài sản
Các hợp đồng và văn bản hai bên xác lập vào thời điểm năm 2010 đến 2012 nhưng đến nay nguyên đơn mới khởi kiện do đó đã quá thời hạn 2 năm và đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 319 LTM 2005 và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án
Đối với Hợp đồng số 29 và 41, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại về việc đòi lại tài sản nên không
áp dụng thời hiệu với tranh chấp này Hội đồng xét xử bác bỏ lý do và buộc bị đơn phải trả tiền cho nguyên đơn đối với 2 hợp đồng này
Đối với hợp đồng số 46, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong hợp đồng này là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” và thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại kể từ ngày 28/11/2018
- Xác định vấn đề pháp lý có liên quan:
Trang 9Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Công ty Khang Thông là bị đơn có trụ sở tại Quận 1 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, TPHCM theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Luật TTDS 2015
Về quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn: Tranh chấp giữa ông Trần Minh Hoàng – Đại diện Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương và Công ty Khang Thông xuất phát từ việc Công ty Khang Thông không thực hiện theo như nội dung hợp đồng đã ký kết giữa các bên về nghĩa vụ trả tiền cho ông Trần Minh Hoàng Ngoài ra:
Thời điểm để tính thời hiệu khởi kiện khi nguyên đơn nhiều lần thay đổi yêu cầu khởi kiện
Việc ký kết biên bản thanh lý của các bên có làm chấm dứt quyền và nghĩa
vụ các bên trong hợp đồng
Hết thời hiệu khởi kiện thì Toà án giải quyết như thế nào?
- Trả lời các câu hỏi sau:
1 Hoạt động mua bán giữa hai bên chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật nào?
Hoạt động mua bán cây cảnh giữa Hộ kinh doanh Hoa kiểng Bảy Hương và Công ty Khang Thông là hoạt động thương mại phát sinh nhằm mục đích sinh lợi cho nên chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại 2005 sửa đổi bổ sung 2017
Đối với các hoạt động mua bán tại hợp đồng số 29, 41 và 46, hai bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán và có tranh chấp xảy ra trong lúc thực hiện nghĩa vụ của các hợp đồng Tranh chấp trên thuộc loại tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại về việc đòi lại tài sản Theo khoản 3 Điều 4 Luật thương
mại 2005 sửa đổi bổ sung 2017 quy định: “Hoạt động thương mại không được quy
định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự” Căn cứ khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 thì đây là tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký
Trang 10kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Vì vậy sẽ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
2 Việc các bên ký kết biên bản thanh lý hợp đồng có làm cho quan hệ hợp đồng chấm dứt hay không?
Thanh lý hợp đồng là biên bản ghi nhận sau khi hoàn tất một công việc nào
đó được hai bên tham gia xác nhận lại khối lượng, chất lượng, và các phát sinh sau quá trình hoàn thành công việc đó và hai bên cùng đồng ý ký tên
Về bản chất, mục đích của việc thanh lý hợp đồng chính là giải phóng các quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thực hiện đối với bên kia, tránh các tranh chấp về sau có thể xảy ra đối với các phần quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thực hiện Vì vậy, kể từ thời gian các bên ký vào biên bản thanh lý hợp đồng, quan hệ hợp đồng coi như đã được chấm dứt
Ở phần nhận định của Toà án có đoạn: “Ngày 30/3/2011, các bên lập biên
bản thanh lý hợp đồng mua cây số 29/TLHĐMC.2011 Theo biên bản thanh lý hợp đồng thì: Căn cứ hợp đồng mua cây số 29, căn cứ biên bản giao nhận ngày 17/9/2010 và biên bản nghiệm thu cây ngày 16/12/2010 giữa ông Trần Minh Hoàng và Công ty Khang Thông xác nhận: Bên A đã hoàn thành khối lượng công việc theo Điều 3 của hợp đồng 29, tổng giá trị hợp đồng là 2.654.000.000 đồng, tổng giá trị thực hiện là 2.510.000.000 đồng, bên B đã thanh toán cho bên A là 1.000.000.000 đồng, số tiền còn lại là 1.510.000.000 (Một tỉ năm trăm mười triệu) đồng Bên B thanh toán số tiền còn lại cho bên A ngày…tháng…năm 2011 Kể từ ngày…tháng…năm 2011, hợp đồng số 29/HĐMC.2010 được thanh lý xong quyền, nghĩa vụ của hai bên đã thực hiện đầy đủ và sẽ chấm dứt mà không có vướng mắc hay tranh chấp gì” Ở biên bản thanh lý Hợp đồng số 41 cũng tương tự
Như vậy là hợp đồng 29 và 41 đã được các bên thực hiện xong, quyền, nghĩa
vụ của các bên đã chấm dứt đồng thời quan hệ hợp đồng cũng chấm dứt theo khoản 1 Điều 422 BLDS 2015 Riêng Công ty Khang Thông vẫn còn nghĩa vụ trả tiền cho Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương theo biên bản thanh lý hợp đồng số 29, số 41
Trang 113 Phân biệt tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự, tranh chấp quyền
sở hữu tài sản và tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Tranh chấp yêu
cầu thực hiện
nghĩa vụ dân sự
Tranh chấp quyền sở hữu tài sản Tranh chấp về hợp
đồng kinh doanh thương mại
Yêu cầu xác định
nghĩa vụ, quyền
của các bên trong
hợp đồng dân sự
và các nghĩa vụ
pháp lý phát sinh
từ tranh chấp đó
Người khởi kiện yêu cầu TAND xác định họ là chủ sở hữu tài sản, chủ thể có quyền khác đối với tài sản hoặc là đồng sở hữu tài sản với người khác và do các bên không tự giải quyết được nên yêu cầu TÁ giải quyết
Phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
4 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên?
Tranh chấp kinh doanh, thương mại về việc đòi lại tài sản thuộc khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015:
+ Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại: các hợp đồng về việc mua bán cây ăn quả và cây kiểng
+ Giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau: các chủ thể phát sinh tranh chấp trong quan hệ tranh chấp này là các thương nhân Trong trường hợp này, ông Trần Minh Hoàng – Đại diện Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương và Công ty Cổ phần Tập đoàn Khang Thông đều là các tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật và phải đăng ký kinh doanh Hay nói cách khác, cả nguyên đơn và bị đơn đều là thương nhân
+ Đều có mục đích lợi nhuận: Nguyên đơn và bị đơn ký kết với nhau các hợp đồng về việc mua bán cây ăn quả và cây kiểng, cụ thể bên mua là bị đơn, bên bán là nguyên đơn Mục đích ký kết hợp đồng giữa các bên là nhằm sinh lợi nhuận
và liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, thương mại của từng bên