1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020 " potx

8 563 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020
Tác giả PGS.TS. Nguyễn Văn Song, Đỗ Thị Diệp, Trần Tấn Nhật, Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Xuân Thấm
Trường học Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 199,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa 3 biến chính trong mô hình: dân số-lao động nông nghiệp, đất canh tác lúa, cân bằng lúa gạo là mối quan hệ động theo thời gian.. Từ thực tế và những phân tích ở trên chú

Trang 1

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008

Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp

Đồng bằng sông Hồng từ 2007-2020 PGS.TS Nguyễn Văn Song, Đỗ Thị Diệp, Trần Tấn Nhật, Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Xuân Thấm

Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội

SUMMARY

By using dynamic modeling, this study estimated the long run trends of population, agricultural land and agricultural labor force of Red River Delta from 2007 - 2020 The results of the basic project found out that population and ceultivated lands has been reaching 20.498.520 persons and 540.183ha, respectively In 2020, even if the increasing population and decreasing cultivated land, the average rice production per person are still arounf 303kg per/person in the year of 2020 ensuring food security Expansion of husbandry, stabilizing population and improvement of humman resource's quality are main sustainable development strategies for Red River Delta

Key word: Dynamic modeling, population, cultivated land, agricultural labor force and rice production.

1 Đặt vấn đề

Đồng bằng Sông Hồng là dải đất nằm ở

hai bên tả, hữu ngạn Sông Hồng Cái tên ĐBSH

không chỉ là địa danh của một vùng kinh tế lâu

đời, trù phú mà còn là tên riêng của một khu

vực dân cư đông đúc và quần tụ trong một môi

trường xã hội làng xã rất đặc trưng, một nền văn

hoá giàu bản sắc và độc đáo trong nước Việt

Nam thống nhất Với tổng diện tích tự nhiên

1486,2 nghìn ha [2], trong đó 70% là đất phù sa

phì nhiêu, nông thôn chiếm 56,12% diện tích

toàn vùng, lực lượng lao động dồi dào…là điều

kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế của

vùng nói chung và phát triển nông nghiệp nông

thôn nói riêng Thế nhưng, cùng với quá trình

công nghiệp hoá hiện đại hoá, sự tác động của

quá trình đô thị hoá và phát triển các khu công

nghiệp dẫn đến sự thay đổi và biến động các

nguồn lực trong nông nghiệp Giai đoạn

2001-2005 diện tích đất lúa chuyển cho nuôi trồng

thuỷ sản là 1.395ha, chuyển cho công nghiệp

hoá và đô thị hoá 4150 ha Bình quân thóc trên

đầu người của vùng năm 2004 là 376,2 kg, năm

2005 giảm xuống còn 343 kg, đến năm 2006

mức bình quân này lại tăng lên 358,56 kg [2], tuy nhiên so với năm 2004 vẫn ở mức thấp hơn

Trong quá trình chuyển đổi của vùng theo hướng CNH-HĐH, mọi nguồn lực trong nông ngiệp như: đất đai, dân số-lao động nông nghiệp đều được huy động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Việc phân bổ nguồn lực trong nông nghiệp hợp lý sao cho phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

dự báo xu hướng biến động các nguồn lực cơ bản trong nông nghiệp là một yếu cầu cần thiết

và quan trọng cho việc các nhà hoạch định chính sách phát triển và sử dụng tiềm năng nông nghiệp trong vùng Vì vậy, các câu hỏi về các biến động cụ thể của các nguồn lực cơ bản trong nông nghiệp được đặt ra cho nghiên cứu này Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu là tìm ra

xu hướng biến động của các nguồn lực cơ bản trong nông nghiệp, sản lượng lúa cho khu vực đồng bằng sông Hồng từ nay tới năm 2020

2 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích

hệ thống động (dynamic modelling) của BruceHanon & Matthias để xem xét sự thay đổi của sự vật hiện tượng kinh tế-xã hội trong một

Trang 2

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008

2

khoảng thời gian dài Mô hình được áp dụng

rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: vi mô, vĩ mô,

sinh học, hoá học và quản lí môi trường

William Grant &cs (1997) đã sử dụng mô hình

này để quản lí và sử dụng một số tài nguyên

thiên nhiên như: đất, nước, rừng và thuỷ sản

Lar Hei (2005) đã sử dụng mô hình này để tính

toán lượng chất thải trong các nguồn nước của

con sông Căn cứ vào đó các chính sách quản lí

ô nhiễm được ban hành nhằm tối thiểu hoá các

chi phí xã hội

Nguồn số liệu thứ cấp sử dụng trong

nghiên cứu được thu thập từ các sở Nông

nghiệp và phát triển nông thôn, chi cục thống kê

của 11 tỉnh trong toàn vùng, sở kế hoạch và đầu

tư, sở khoa học công nghệ của các tỉnh trong

vùng Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua

điều tra 400 hộ nông dân trồng lúa trong vùng

Nguồn số liệu này được sử dụng để chạy hàm

Cobb-Douglas, xem xét các yếu tố ảnh hưởng

đến năng suất và tình hình phân phối lúa gạo

của khu vực cho các mục đích khác nhau Các

yếu tố ảnh hưởng đến năng suất là các yếu tố

đầu vào cơ bản ảnh hưởng gián tiếp đến tổng

sản lượng lúa sản xuất ra và biến cân bằng lúa

gạo trong mô hình cân bằng động

Mối quan hệ giữa 3 biến chính trong mô

hình: dân số-lao động nông nghiệp, đất canh tác

lúa, cân bằng lúa gạo là mối quan hệ động theo

thời gian Dân số biến động phụ thuộc vào tỉ lệ

sinh, tỉ lệ tử, di cư, nhập cư…dân số tăng làm

tăng lao động tham gia vào sản xuất lúa, đồng

thời dân số tăng làm tăng lượng lúa phục vụ cho

nhu cầu tiêu dùng và tăng diện tích đất lúa

giành cho nhà ở Diện tích đất lúa và năng suất

ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng lúa sản xuất

ra Diện tích đất lúa lại chịu ảnh hưởng của đất có

khả năng nông nghiệp và tỉ lệ mở rộng đất lúa

Cân bằng lúa gạo của vùng ngoài hai

yếu tố ảnh hưởng nội sinh trực tiếp là năng suất

và diện tích gieo trồng lúa còn bị ảnh hưởng

của các yếu tố khác như phân bón, lao động, tiêu dùng nội tỉnh, trao đổi ra tỉnh ngoài

3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Phân tích sự thay đổi của các yếu tố trong

mô hình Trong phương án gốc của mô hình, chúng tôi sử dụng giá trị thực tế của các yếu tố thu thập được từ các nguồn tài liệu thứ cấp của các tỉnh trong vùng và số liệu sơ cấp thông qua việc điều tra hộ nông dân trong vùng

3.1.1 Xu hướng biến động của dân số-lao động nông nghiệp

Kết quả mô hình cho thấy, dân số của ĐBSH trong những năm tiếp theo tiếp tục tăng lên Năm 2010 dân số của vùng ĐBSH là 18.834.907 người, năm 2015 là 19.649.114 người và đạt mức 20.498.520 người vào năm

2020 Kết quả mô hình cũng cho thấy, lao động nông nghiệp và lao động sản xuất lúa vẫn tiếp tục tăng lên Từ năm 2007 đến năm 2009 (giai đoạn 1), tốc độ tăng lao động cho sản xuất lúa nhanh hơn tốc độ tăng dân số và lao động nông nghiệp Từ năm 2009 đến năm 2020 (giai đoạn 2), tốc độ này có xu hướng tăng chậm hơn so với tốc độ tăng dân số Ta thấy rằng giai đoạn 2 kéo dài hơn là do ĐBSH đang trong giai đoạn đầu của quá trình CNH nên tỉ lệ lao động nông nghiệp chuyển sang các lĩnh vực phi nông nghiệp còn chậm Vì khu vực công nghiệp có nhiều khả năng lựa chọn và ứng dụng tiến bộ kĩ thuật công nghệ nên có thể tiếp nhận lao động

dư thừa từ nông nghiệp Nhưng một trong những điều kiện đủ ở đây là công nghiệp chỉ thu hút được lao động dư thừa ở nông nghiệp khi thu nhập từ khu vực công nghiệp (Tcn) lớn hơn hoặc ít ra cũng bằng thu nhập ở nông thôn

Tcn > = Tnn Mặc dù tốc độ CNH đang diễn ra khá nhanh nhưng hiện ĐBSH đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình CNH Khi quá trình CNH đi vào giai đoạn phát triển thì tốc độ dịch chuyển cơ cấu lao động sẽ tăng nhanh hơn Tuy nhiên, số lượng lao động nông nghiệp của vùng

Trang 3

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008 vẫn tiếp tục tăng trong các năm tới về mặt tuyệt

đối

3.1.2 Xu hướng biến động của đất canh tác lúa

Cùng với quá trình CNH-HĐH và

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, đất đai của

vùng ĐBSH biến động theo các xu hướng đề ra

trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế-xã

hội của vùng Theo quy hoạch phát triển của

vùng đến năm 2010 và 2020: các ngành kinh tế

phi nông nghiệp sẽ chiếm khoảng 90% trong tổng

GDP, các sản phẩm chủ lực đóng góp 60-65%

GDP, độ mở của nền kinh tế đạt trên 90%, cơ cấu

kinh tế của vùng là cơ cấu hiện đại với các ngành

mũi nhọn có khả năng đột phá, có sức cạnh tranh

[12] Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá của

vùng đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô

lớn làm cho diện tích đất chuyên dùng và đất ở

không ngừng tăng lên trên phạm vi cả nước nói

chung và đồng bằng Sông Hồng nói riêng

Theo kết quả phương án gốc của mô

hình, tức với tốc độ CNH Là 5000 ha như hiện

nay, thì đến năm 2020 diện tích đất canh tác lúa

giảm xuống còn 540.183ha, bình quân mỗi năm

giảm hơn 6 nghìn ha

Từ thực tế và những phân tích ở trên

chúng tôi thấy, một trong những kế hoạch đề ra

cho vấn đề sử dụng đất canh tác là tiếp tục chuyển

đất canh tác lúa sang các mục đích sử dụng khác

như: xây dựng khu công nghiệp, đô thị, đường

giao thông, thuỷ lợi hoặc chuyển những vùng đất

trũng, trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng

thuỷ sản sao cho có hiệu quả Tuy nhiên sự giảm

sút với tốc độ nào, đến diện tích bao nhiêu thì

thích hợp đối với các mục tiêu của tỉnh sẽ được

chúng tôi phân tích ở các phần sau

3.1.3 Xu hướng biến động sản lượng lúa và cân

bằng lúa gạo

Sản lượng lúa của đồng bằng Sông Hồng

có chiều hướng giảm qua các năm Như đã phân

tích ở phần trước, sản lượng lúa chịu ảnh hưởng

của năng suất, tổng diện tích và cơ cấu diện tích

gieo trồng Mặc dù năng suất lúa trên toàn vùng

có tăng từ 60,7 tạ/ha năm 2007 lên 65,2 tạ/ha vào năm 2020, nhưng do diện tích đất canh tác lúa giảm nhanh hơn nên sản lượng lúa gạo vẫn

có xu hướng giảm: Năm 2007 sản lượng lúa của đồng bằng Sông Hồng là 6,764 triệu tấn, đến năm 2020 giảm xuống còn 6,213 triệu tấn Trên thực tế, điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của ngành sản xuất lương thực, dịch vụ là sản xuất lúa

3.1.4 Phân tích mối quan hệ giữa dân số, đất canh tác lúa, cân bằng lúa gạo

Dân số của vùng tiếp tục tăng lên trong khi đất canh tác lúa tiếp tục giảm cùng với quá trình CNH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Diện tích đất canh tác lúa giảm từ 619018 ha xuống còn 540183 ha năm 2020 Đứng trên phương diện sản xuất và phân phối lúa với mục tiêu đạt cân bằng lương thực cao nhất thì năm 2010 là thời điểm thích hợp cho tỉnh ổn định đất lúa, không để giảm thêm nữa Tuy nhiên với mục tiêu hoàn thành công nghiệp hoá vào năm 2020, với tốc độ CNH nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch thì vùng đồng bằng Sông Hồng cần

mở mang, xây dựng nhiều hơn nữa các cụm công nghiệp, khu đô thị, chuyển đất lúa kém hiệu quả cho nuôi trồng thuỷ sản Điều này làm cho sản lượng lúa không cân bằng ở mức cao nhất mà sẽ giảm Tuy nhiên, giảm ở mức nào là phù hợp sẽ được chúng tôi xem xét ở các phương án sau

3.2 Phân tích sự biến động của dân số-lao động nông nghiệp, đất canh tác lúa, sản lượng lúa khi có sự thay đổi của các yếu tố khác trong mô hình

3.2.1 Biến động sản lượng lúa khi hệ số sử dụng đất lúa tăng

Là vùng đồng bằng với cơ cấu thu nhập

từ nông nghiệp còn chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu thu nhập, song hệ số sử dụng đất lúa của vùng chỉ ở mức 1,8 lần Có thể nói, đây là hệ số

sử dụng đất tương đối thấp, đặc biệt trong điều

Trang 4

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008

4

kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm diện tích

đất trồng lúa giảm dần thì hệ số quay vòng đất

cần phải tăng cao Vì vậy trong phương án này

hcúng tôi giả định hệ số sử dụng đất lúa của

ĐBSH tăng từ 1,8 lên 1,9 lần (theo phuơng hướng phát triển vùng) Kết quả mô hình khi có

sự thay đổi gọi là phương án 1

Bảng 1: So sánh phương án gốc và phương án 1 ĐVT: Nghìn tấn

Chỉ tiêu

- Phân phối

Phương án gốc: Hệ số sử dụng đất lúa: 1,8 lần Phương án 1: Hệ số sử dụng đất lúa: 1,9 lần

Bảng 1 minh chứng sự biến động của sản lượng

lúa, diện tích gieo trồng và khả năng phân phối

cho các mục đích tiêu dùng khi có những thay

đổi kể trên Cụ thể, với diện tích gieo trồng lúa

năm 2020 cao hơn ở phương án gốc là 54,02

nghìn ha, mặc dù năng suất lúa không đổi nhưng

sản lượng lúa vẫn tăng 414,9 nghìn tấn so với

phương án gốc Với mức tiêu dùng thóc gạo cho

người không thay đổi ở mức 270 kg/người/năm

thì khi sản lượng lúa tăng lên sẽ làm tăng nhu

cầu thóc gạo cho chăn nuôi, xuất khẩu và các

mục đích tiêu dùng khác Đến năm 2020 nhu

cầu thóc dành cho chăn nuôi và xuất khẩu tăng

127,17 nghìn tấn

Như vậy, khi hệ số sử dụng đất lúa tăng

lên 1,9 lần thì diện tích gieo trồng, sản lượng

lúa, phân phối lúa gạo cho chăn nuôi và xuất

khẩu tăng lên Tuy nhiên, để đạt được hệ số sử dụng đất lúa ở mức 1,9 lần/năm, bên cạnh việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, vùng cũng cần có các biện pháp mạnh mẽ hơn thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng tăng tỷ trọng diện tích các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao

3.2.2 Biến động về đất canh tác lúa khi tốc độ công nghiệp hoá tăng lên

Theo phương hướng và quan điểm phát triển của đất nước nói chung và các tỉnh trong vùng nói riêng: "đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”, chúng tôi giả định tốc độ CNH của vùng đến năm 2020 là

5500 ha/năm Kết quả mô hình khi có sự thay đổi gọi là phương án 2

Bảng 2: So sánh kết quả của phương án gốc và phương án 2

- Sản lượng lúa Ng.tấn 6764,434 6486,066 -278,37 6673,762 6379,69 -294,072 6212,208 6021,8 -190,397

- Đất lúa Ng.ha 619,018 618,169 -0,849 601,004 597,606 -3,398 540,183 528,29 -11,893

- Dân số Ng.người 18362,667 18362,667 0 18834,906 18834,906 0 20498,52 20498,52 0 -SL lúa/người Kg 368,38 353,22 -15,16 354,33 338,71 -15,62 303,056 293,768 -9,288 -Đất lúa/người Ha 0,0337 0,0336 0,0001 0,0319 0,0317 0,0002 0,0263 0,0257 0,0006

Phương án gốc: Tốc độ CNH: 5000 ha; lao động nông nghiệp: 61%

Phương án 2: Tốc độ CNH: 5500 ha; lao động nông nghiệp: 55%,

Khi tốc độ CNH tăng lên, cơ cấu kinh tế

có sự chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH:

tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng

và dịch vụ thương mại, giảm dần tỉ trọng ngành

nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân thì một phần lao động nông nghiệp được chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp như: buôn bán,

Trang 5

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008 dịch vụ vì vậy tỉ lệ lao động nông nghiệp của

vùng giảm từ 61% xuống còn 55%

Kết quả bảng 2 là minh chứng rõ ràng

cho sự biến động sản lượng lúa, diện tích đất

canh tác lúa, dân số khi có những thay đổi kể

trên:Cụ thể, diện tích canh tác lúa và sản lượng

lúa ở phương án 2 đều thấp hơn so với phương án

gốc Khi tốc độ CNH tăng lên (5500 ha) thì diện

tích đất lúa giảm đi mạnh hơn Năm 2007 chênh

lệch giữa hai phương án là (-849 ha), năm 2010 là

(-3398 ha), đến năm 2020 chênh lệch này lên tới

(-11893 ha) Trong điều kiện năng suất lúa không

đổi, hệ số sử dụng đất không tăng thêm được nữa

thì sự giảm sút diện tích này dẫn tới sản lượng bị

giảm đi đáng kể

Bình quân thóc/ người năm 2007 giảm

so với phương án gốc là 15,16 kg; năm 2010

giảm 15,62 kg, năm 2020 giảm 9,2 kg Con số

này so với tiềm năng của vùng tuy không cao

nhưng vẫn có thể chấp nhận được khi mà chúng

ta chấp nhận đánh đổi để có một cơ cấu kinh tế

phù hợp với xu hướng chung của cả nước

3.2.3 Biến động sản lượng lúa khi năng suất lúa

tăng

Năng suất ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng lúa sản xuất ra Có rất nhiều các yếu tố khác nhau tác động đến năng suất lúa của vùng như giống, phân bón, đất đai, lao động… Theo điều tra của chúng tôi, phân bón và lao động là

2 yếu tố có tác động lớn tới năng suất lúa của vùng Do đó trong phần này chúng tôi giả định lượng phân bón tăng từ 170 kg/ha lên 180 kg/ha

và lao động cho sản xuất lúa tăng từ 60% lên 65% Vì năng suất lúa tuân theo quy luật năng suất biên giảm dần nên cần chú ý tăng đầu tư lao động cho sản xuất lúa ở một mức độ nhất định để thu được năng suất cao nhất (VMPL=W tức giá trị sản phẩm biên của lao động bằng với tiền lương) Cũng như vậy khi bón phân đạm phải chú ý kết hợp với lân, kali và các loại phân khác theo một tỉ lệ thích hợp để đạt hiệu quả nhất Như chúng ta đã biết, đầu tư lượng đầu vào có hiệu quả nhất khi: Pđầu ra *MP = Pgiá đầu vào Dựa vào đó, theo tính toán của chúng tôi lượng phân đạm bón có hiệu quả nhất sẽ ở mức

180 kg/ha Kết quả thu được trên bảng 3 và gọi

là phương án 3

Bảng 3: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 3

- Cân bằng lúa gạo Ng.tấn 7412,704 7754,56 +341085 7865,404 8882,25 +1016,8 5562,562 7192,57 1630

Phương án gốc:Lao động sản xuất lúa: 60%; Phân đạm 170 kg/ha Phương án 3: Lao động sản xuất lúa: 70%; Phân đạm 180 kg/ha

Kết quả mô hình ở phương án 3 cho

thấy, đầu tư phân bón, lao động cho sản xuất lúa

tăng lên sẽ làm cho năng suất, sản lượng lúa,

cân bằng lương thực tăng, từ đó nhu cầu cho

dân cũng như phân phối cho các mục đích sử

dụng khác tăng lên Bình quân thóc/người năm

2020 tăng 21,94 kg so với phương án gốc Điều

này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện tốc độ

công nghiệp hóa, đô thị hoá và chuyển dịch cơ

cấu kinh tế của đồng bằng Sông Hồng tăng lên,

diện tích đất canh tác lúa giảm đi

Trong mô hình này chúng tôi chỉ phân tích sự tác động của phân đạm, lao động tới năng suất cũng như sản lượng lúa cân bằng của vùng song trên thực tề còn rất nhiều yếu tố khác nữa Vì thế, tìm tòi thử nghiệm các giống lúa mới năng suất cao song song với việc áp dụng các phương thức canh tác hiện đại sẽ giúp tỉnh duy trì sản lượng lúa cần thiết khi diện tích canh tác lúa ngày một giảm

Trang 6

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008

6

3.2.4 Biến động về phân phối sản lượng khi nhu

cầu lương thực bình quân đầu người giảm

Cùng với quá trình phát triển kinh tế-xã

hội, mức sống của người dân ngày một nâng cao

và theo quy luật kinh tế của Engel thì nhu cầu

lương thực sẽ giảm xuống, thay thế vào đó là

nhu cầu về các thực phẩm cao cấp như: rau, thịt, trứng, sữa Theo xu hướng đó, chúng tôi giả định lượng thóc tiêu dùng bình quân/người/năm giảm từ 270 kg xuống mức 240 kg Kết quả mô hình gọi là phơng án 4

Bảng 4: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 4

ĐVT: Nghìn tấn

Chỉ tiêu

Phương án gốc: Bình quân lương thực: 270 kg/người Phương án 4: Bình quân lương thực: 240 kg/người

Số liệu thể hiện qua bảng 4 cho thấy:

Với mức bình quân thóc trên đầu người giảm từ

270 kg/năm xuống còn 240 kg/năm thì nhu cầu

thóc gạo cho người đến năm 2020 giảm một

lượng là 614.960 tấn Lượng thóc phân phối cho

chăn nuôi và xuất khẩu do đó tăng lên Điều này

tạo điều kiện thuận lợi cho vùng mở rộng quy

mô chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá,

đặc biệt chăn nuôi lợn và gia cầm là hai thế

mạnh của vùng Điều này còn có ý nghĩa hơn

khi mà đời sống người dân tăng lên, nhu cầu về

lương thực thực phẩm giảm đi, nhu cầu về các

sản phẩm từ chăn nuôi tăng lên

Tóm lại, cùng với sự phát triển của xã

hội, đời sống người dân tăng lên, bình quân

lương thực (chủ yếu là thóc gạo) trên đầu người

giảm xuống thì kế hoạch phân phối sản lượng

lúa có thể đặt ra cho tương lai đó là: tập trung

phát triển chăn nuôi hoặc xuất khẩu lúa gạo Xét

trên phương diện hiệu quả xã hội và điều kiện

thực tế của vùng thì chăn nuôi sẽ có thế mạnh hơn vì nó góp phần giải quyết việc làm cho lao động thiếu việc làm ở nông thôn

3.2.5 Biến động dân số - lao động khi tỷ lệ gia tăng dân số giảm

Giả sử tốc độ gia tăng dân số giảm từ 1,05% xuống còn 0,9% (theo phương hướng phát triển dân số của vùng) Kết quả mô hình khi có sự thay đổi gọi là phương án 5

Bảng 5: So sánh kết quả phương án gốc với phương án 5

3.Dân số Ng,người 18362,66 18344,46 -18,2 18834,9 18760,312 -74,58 20498,52 20215,8 -282,73

5.N.cầu cho

Phương án gốc: tỷ lệ gia tăng dân số 1,05%

Phương án 5: tỷlệ gia tăng dân số: 0,9%

Trang 7

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008 Qua số liệu thể hiện trong bảng 5 ta

thấy: với tỷ lệ gia tăng dân số giảm xuống còn

0,9% dân số của vùng đến năm 2020 giảm so

với phương án gốc 282.730 người Do tính chất

cân bằng động của mô hình, dân số giảm dẫn

đến nhu cầu đất cho nhà ở giảm đi, diện tích đất

canh tác lúa tăng lên 129 ha so với phương án

gốc (năm 2020) Mặt khác, tỉ lệ gia tăng dân số

giảm, nhu cầu lương thực thực phẩm cho người

giảm đi, trong khi cân bằng lương thực không

đổi thì phân phối cho chăn nuôi, xuất khẩu và

các mục đích khác tăng lên

Như vậy quy mô dân số ổn định sẽ đem

lại nhiều thuận lợi cho vùng trong quá trình

phát triển theo hướng CNH-HĐH và chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ngành Điều này không những giảm bớt gánh nặng, sức ép cho nền kinh tế- xã hội mà còn làm tăng GDP bình quân đầu người, cải thiện chất lượng cuộc sống

3.2.6 Biến động sản lượng lúa, diện tích đất canh tác lúa khi có sự thay đổi đồng thời của các yếu tố

Ở các phần trên chúng ta đã xem xét sự thay đổi riêng rẽ của các yếu tố dẫn đến sự thay đổi trong cân bằng lương thực, đất canh tác lúa, dân số Trong phương án này, chúng tôi sẽ xem xét sự thay đổi đồng thời của các yếu tố nói trên tác động như thế nào đến cân bằng tổng thể của

mô hình Phương án này được gọi là phương án 6

Bảng 6: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 6

Phương án gốc: Tốc độ CNH: 5000 ha; tỉ lệ lao động nồng nghiệp: 61%; LĐ SX lúa: 60%; phân bón: 170 kg; HSSDĐ:1,8 lần

Phương án 6: Tốc độ CNH:5500 ha; tỉ lệ lao động nồng nghiệp: 55%; LĐ SX lúa: 65%%; phân bón: 180 kg; HSSDĐ: 1,9 lần

Do tốc độ CNH tăng lên 5.500 ha nên

diện tích đất canh tác lúa giảm đi một lượng so

với phương án gốc là: 1349 ha năm 2007, giảm

5.398 ha năm 2010 và 18893 ha năm 2020 Mặc

dù diện tích đất canh tác lúa giảm đi do quá

trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nhưng do tăng hệ số sử dụng

đất lúa từ 1,8 lên 1,9 lần; tăng lượng phân đạm

(180kg/ha), lao động đầu tư cho sản xuất lúa

tăng nên sản lượng lúa nhìn chung vẫn tăng so

với phương án gốc: năm 2007 tăng 386,72

nghìn tấn; năm 2010 tăng 347,44 nghìn tấn; năm

2020 tăng 336,67 nghìn tấn Ta thấy rằng tốc độ

tăng của sản lượng lúa có xu hướng giảm dần là

do mức độ giảm sản lượng lúa do tăng tốc độ

công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh hơn mức

tăng năng suất lúa do các biện pháp đầu tư thâm

canh Với sự ổn định về dân số, sản lượng lúa

tăng lên làm cho bình quân thóc/đầu người tăng

lên mức 319,48kg năm 2020 Mức bình quân này tuy không cao nhưng có thể chấp nhận được Đặc biệt khi xã hội phát triển, đời sống con người được nâng lên, nhu cầu lương thực bình quân/đầu người giảm đi thì phân phối cho chăn nuôi, xuất khẩu và các mục đích khác tăng lên Điều này hết sức có ý nghĩa trong quá trình CNH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng

4 Kết luận Qua quá trình nghiên cứu tình hình và phân tích chiều hướng phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng Sông Hồng, bằng việc sử dụng

mô hình phân tích hệ thống để phân tích xu hướng phát triển và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp của vùng, kết quả cho phép kết luận như sau:

Một là: Kết quả mô hình phân tích hệ thống được tính đến năm 2020, lấy mốc thời gian là điểm đất nước ta hoàn thành công cuộc

Trang 8

Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT Số 5; từ trang 4-9; tháng 6 năm 2008

8

CNH-HĐH Tính đến thời điểm đó, dân số của

vùng ĐBSH sẽ ở mức 20.498.520 người, diện

tích đất canh tác còn 540.183 ha

Hai là: Kết quả của mô hình trong

phương án 6 là thích hợp So với các phương án

khác, sản lượng lúa ở phương án 6 không đạt

mức cao nhất Nhưng trong phương án này, với

bình quân thóc trên đầu người dao động từ

319,48 kg đến 368,38kg thì không những đảm

bảo an ninh lương thực mà còn thừa để cho nhu

cầu chăn nuôi và các mục đích sử dụng khác

Bên cạnh đó, hệ số sử dụng đất lúa, lao động

cho sản xuất lúa và mức đầu tư phân bón tăng

lên, làm cho năng suất và sản lượng tăng, chứng

tỏ sản xuất lúa được đầu tư thâm canh có hiệu

quả Ngoài ra trong phương án này, số lượng lao

động nông nghiệp của vùng giảm từ 61% xuống

55% hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển

hiện nay khi mà tốc độ CNH tăng từ 5000 ha lên

5500 ha/năm

Ba là: Mức tiêu dùng hiện tại của người

dân vùng ĐBSH trung bình là 270 kg thóc và

300 kg lương thực quy thóc/người/năm Với

mức bình quân đó, hàng năm toàn vùng dành ra

khoảng 70% sản lượng thóc sản xuất ra để ăn,

8% cho chăn nuôi, 8% con số đó dành cho xuất

khẩu

Trong phương án 4, với mức giả định

nhu cầu thóc của người dân ở mức 240

kg/người/năm chúng tôi thấy rằng lượng thóc

dành cho chăn nuôi và xuất khẩu tăng lên đáng

kể Do yêu cầu thực tế về lao động và việc làm

của vùng hiện nay thì trong những năm tới vùng cần có chiến lược đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn, gia cầm để tận dụng sản lượng thóc dư thừa

Bốn là: Giữa dân số - lao động có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời Với tỉ lệ gia tăng dân số dao động từ 0,95 – 1,1% giai đoạn 2001-2005, bình quân hàng năm vùng ĐBSH phải giải quyết việc làm cho khoảng 200.000 lao động Với khu vực diện tích nhỏ, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc như ĐBSH thì đây là một sức ép rất lớn Vì thế chiến lược dân

số của vùng trong thời gian tới là phải ổn định quy mô dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Theo tính toán của bài toán thì với việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số từ 1,05 % xuống 0,9% quy mô dân số của vùng nên duy trì ở mức 20.215.800 người vào năm 2020./

Tài liệu tham khảo

1 Bruce hannon & Matthias ruth (1994) Dynamic Modeling Springer – Verlag New York, lnc

2 Niên giám thống kê 2006, Nxb Thống kê,

2007

3 Niên giám thống kê các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng

Ngày đăng: 08/03/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh phương án gốc và phương án 1                                                                                                                                                                       ĐVT: Nghìn tấn - Báo cáo " Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020 " potx
Bảng 1 So sánh phương án gốc và phương án 1 ĐVT: Nghìn tấn (Trang 4)
Bảng 1 minh chứng sự biến động của sản lượng - Báo cáo " Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020 " potx
Bảng 1 minh chứng sự biến động của sản lượng (Trang 4)
Bảng 3: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 3 - Báo cáo " Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020 " potx
Bảng 3 So sánh kết quả phương án gốc và phương án 3 (Trang 5)
Bảng 5: So sánh kết quả phương án gốc với phương án 5 - Báo cáo " Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020 " potx
Bảng 5 So sánh kết quả phương án gốc với phương án 5 (Trang 6)
Bảng 4: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 4 - Báo cáo " Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020 " potx
Bảng 4 So sánh kết quả phương án gốc và phương án 4 (Trang 6)
Bảng 6: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 6 - Báo cáo " Phân tích xu hướng và chiến lược sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ 2007 - 2020 " potx
Bảng 6 So sánh kết quả phương án gốc và phương án 6 (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w