1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố

147 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Nâng Cao Sự Minh Bạch Thông Tin Tài Chính Của Các Công Ty Cổ Phần Niêm Yết Việt Nam Thông Qua Sự Tự Nguyện Công Bố Thông Tin Trên Bản Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính
Tác giả Ngô Thị Thanh Hòa
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Xuân Thạch
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 672,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGÔ THỊ THANH HÒACÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO

Trang 1

NGÔ THỊ THANH HÒA

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ MINH BẠCH

THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN

CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ XUÂN THẠCH

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2012

Trang 2

-***** -NGÔ THỊ THANH HÒA

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ XUÂN

THẠCH

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu sửdụng và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và được thu thập từnhững nguồn dữ liệu được kiểm chứng, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm vềtính độc lập và trung thực của luận văn, các kết quả của luận văn này chưa được aicông bố trong bất cứ công trình nào khác.

NGƯỜI CAM ĐOAN

Ngô Thị Thanh Hòa

Trang 4

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Hà Xuân Thạch, ngườihướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên và hỗ trợ tác giả trongsuốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.

Tác giả xin bày tỏ sự cám ơn chân thành đến các bạn bè, đồng nghiệp tại Trườngcao đẳng nghề Tp Hồ Chí Minh đã chia sẻ, giúp đỡ tác giả hoàn tất luận văn này

Tác giả luận văn

Ngô Thị Thanh Hòa

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN 3

LỜI CẢM ƠN 4

Danh mục các từ viết tắt IV Danh mục bảng biểu và biểu đồ V CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH. 6

1.1 Thông tin tài chính và sự minh bạch thông tin tài chính 6

1.1.1 Thông tin tài chính 6

1.1.2 Sự minh bạch thông tin tài chính 11

1.2 Sự tự nguyện công bố thông tin thông qua bản thuyết minh báo cáo tài chính 15 1.2.1 Khái niệm về sự tự nguyện 15

1.2.2 Vai trò của sự tự nguyện công bố thông tin 16

1.3 Mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và tự nguyện công bố thông tin 16 1.3.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 16

1.3.2 Mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và tự nguyện công bố thông tin 20 1.4 Những kinh nghiệm quốc tế giải quyết mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và tự nguyện công bố thông tin. 26

1.4.1 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng khoán Trung Quốc 26 1.4.2 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng khoán Malaysia 27

1.4.3 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng khoán New Zealand 27

1.4.4 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng khoán Hoa Kỳ 28

Trang 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ SỰ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 32

2.1 Khảo sát văn bản hướng dẫn công bố thông tin theo quy định hiện hành 32

2.1.1 Khảo sát văn bản hướng dẫn lập và trình bày báo cáo tài chính 32

2.1.2 Khảo sát các thông tư hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 33

2.2 Một số vấn đề về sự minh bạch thông tin tài chính qua các đề tài nghiên cứu trước đây 37

2.3 Khảo sát thực trạng về minh bạch thông tin tài chính thông qua sự tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính 39

2.3.1 Phương pháp khảo sát 39

2.3.2 Phạm vi khảo sát 40

2.3.3 Đối tượng khảo sát về sự minh bạch thông tin tài chính 42

2.3.4 Đối tượng khảo sát về sự tự nguyện công bố thông tin 44

2.3.5 Kết quả khảo sát về minh bạch thông tin tài chính 45

2.3.6 Kết quả khảo sát về tính tự nguyện công bố thông tin thông qua bảng phỏng vấn 58 2.4 Đánh giá mặt đạt được và mặt chưa đạt được của sự minh bạch thông tin tài chính thông qua sự tự nguyện công bố thông tin. 61

2.4.1 Đánh giá mặt đạt được về sự minh bạch thông tin tài chính qua kết quả khảo sát 62 2.4.2 Đánh giá mặt chưa đạt được về sự minh bạch thông tin tài chính 62

2.4.3 Nguyên nhân của những mặt chưa đạt được về sự minh bạch thông tin tài chính 65 2.5 Đánh giá mặt đạt được và mặt chưa đạt được của sự tự nguyện công bố thông tin 66

Trang 8

2.5.2 Đánh giá mặt chưa đạt được 67

2.5.3 Nguyên nhân của những mặt chưa đạt được về sự tự nguyện công bố thông tin 67 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO SỰ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 70

3.1 Quan điểm để đưa ra các giải pháp 70

3.1.1 Phải phù hợp với môi trường pháp lý ở Việt Nam 70

3.1.2 Phù hợp với đặc thù của thị trường chứng khoán Việt Nam 71

3.1.3 Phù hợp với xu thế chung của thế giới 71

3.2 Phương hướng hoàn thiện sự minh bạch thông tin tài chính thông qua sự tự nguyện công bố thông tin. 72

3.3 Các kiến nghị và giải pháp cụ thểđể nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính thông qua sự tự nguyện công bố thông tin. 73

3.3.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 73

3.3.2 Về phía doanh nghiệp niêm yết 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

Danh mục tài liệu tham khảo 96

Danh mục tài liệu Tiếng Việt 96

Danh mục tài liệu Tiếng nước ngoài 98

Trang 9

CIFAR : Center for Financial Analysis and Research (Trung tâm nghiên cứu

và phân tích tài chính quốc tế)CON1 : Statement of financial accounting Concept No.1 (Khái niệm số 1 -

Báo cáo kế toán tài chính)

toántài chính)IASB : International Accounting Standards Board (Hội đồng chuẩnmực Kế

toánquốc tế)IAS Framework: International Accounting Standards Framework (Khuôn mẫu lý

thuyết kế toán)IPO : Initial Public Offering (Phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu)OECD : Organization for Economic Co-operation and Development (Tổ

chức Hợp tác và Phát triển kinh tế)

Trang 10

Danh mục bảng biểu và biểu đồ

Bảng biểu:

Bảng 2.1: Tổng hợp ngành nghề, số lƣợng và vốn điều lệ

Bảng 2.2: Thống kê chính sách kế toán của 100 công ty công bố trong 2 năm

Bảng 2.3: Thống kê chính sách kế toán của 100 công ty công bố trong 2 năm – Thuyết minh thêm

Bảng 2.4: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm tài sản của 100 công ty công bố trong 2 năm

Bảng 2.5: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm tài sản của 100 công ty công bố trong 2 năm - Phần thuyết minh thêm

Bảng 2.6: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm nợ phải trả và vay của 100 công

ty công bố trong 2 năm

Bảng 2.7: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm nợ phải trả và vay của 100 công

ty công bố trong 2 năm – Phần thuyết minh thêm

Bảng 2.8: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm vốn chủ sở hữu của 100 công ty công bố trong 2 năm

Bảng 2.9: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm vốn chủ sở hữu của 100 công ty công bố trong 2 năm – Phần thuyết minh thêm

Bảng 2.10: Thống kê các đầu mục thông tin về những thông tin khác của 100 công

ty công bố trong 2 năm

Bảng 2.11: Thống kê các đầu mục thông tin về những thông tin khác của 100 công

ty công bố trong 2 năm – Phần thuyết minh thêm

Trang 11

Biểu đồ 2.4: Tình hình thuyết minh thông tin cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toán – Nhóm Tài sản – Phần thuyết minh thêm

Biểu đồ 2.5: Tình hình thuyết minh thông tin cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toán – Nhóm Nợ phải trả và vay

Biểu đồ 2.6: Tình hình thuyết minh thông tin cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toán – Nhóm Nợ phải trả và vay - Phần thuyết minh thêm

Biểu đồ 2.7: Tình hình thuyết minh thông tin cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toán – Nhóm Vốn chủ sở hữu

Biểu đồ 2.8: Tình hình thuyết minh thông tin cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toán – Nhóm Vốn chủ sở hữu – Phần thuyết minh thêm

Biểu đồ 2.9: Tình hình thuyết minh thông tin cho “Những thông tin khác”

Biểu đồ 2.10: Tình hình thuyết minh thêm thông tin cho “Những thông tin khác”- Phần thuyết minh thêm

Trang 12

Trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thươngmại thế giới (WTO), các hoạt động đầu tư, giao dịch trên thị trường vốn, thịtrường chứng khoán sẽ thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư nước ngoài Cácbáo cáo tài chính tại các công ty phải được chuẩn bị đầy đủ, chuyên nghiệp, tínhminh bạch phải được chú trọng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư,nâng cao trách nhiệm pháp lý của công ty Mặt khác, khi các công ty có báo cáotài chính chất lượng sẽ tốn ít vốn và dễ dàng để niêm yết cổ phiếu của công tymình ra thị trường chứng khoán của các nước tiên tiến, nhằm thu hút vốn quốc tế

để đầu tư phát triển

Thấy được vai trò quan trọng của sự minh bạch thông tin tài chính thông quamức độ tự nguyện công bố chi tiết và kịp thời các thông tin trên báo cáo tài chính,

tôi chọn đề tài: “Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của

các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam thông qua sự tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính” Nội dung trình bày trong luận văn

này là đánh giá sự minh bạch thông tin tài chính bằng thước đo đó là: sự tự nguyệncông bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính của các công ty niêm yếttrên Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán HàNội, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao sự minh bạch thông tin tài chínhthông qua sự tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu các thông tin được công bố trên bản thuyết minh báo cáo tàichính, nhằm đánh giá và đo lường sự minh bạch thông tin tài chính qua sự tựnguyện công bố thông tin, để đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư và người sử dụngthông tin tài chính khi đưa ra quyết định đầu tư

Nghiên cứu tiến hành khảo sát bản thuyết minh báo cáo tài chính của cáccông ty niêm yết, và thông qua phỏng vấn người làm kế toán, nhà quản lý công ty,

Trang 13

từ đó làm cơ sở đánh giá sự minh bạch và nhận định sự tự nguyện công bố thông tincủa các công ty niêm yết, đưa ra các đề xuất về việc công bố thông tin để nâng caotính tự nguyện và tính tự nguyện là một thước đo của việc minh bạch thông tin tàichính cho tất cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Kết quả khảo sát cũng giúp khẳng định thêm thước đo về sự minh bạchthông tin tài chính do chúng tôi đề xuất, đồng thời làm cơ sở cho các kiến nghị, giảipháp giúp các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, các cơ quan ban hành phápluật, các công ty niêm yết, các công ty kiểm toán …xây dựng được những nguyêntắc, khuôn mẫu và nghiệp vụ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng thông tin tàichính công bố nói chung và minh bạch hóa thông tin tài chính công bố nói riêngtrên thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này tập trung vào sự tự nguyện công bố thông tin, cụ thể đốitượng được khảo sát là các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp HồChí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Các thông tin tài chính được công

bố sẽ được khảo sát từ bản thuyết minh báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm

2010 và năm 2011 của 100 công ty

4 Phạm vi nghiên cứu

Thông tin tài chính của các công ty niêm yết được công bố dưới hình thứckhác nhau, và công bố trên các báo cáo tài chính như: bảng cân đối kế toán, báo cáokết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tàichính Ngoài ra các thông tin còn được công bố xuất phát từ yêu cầu và mục đíchkhác nhau và theo các thông tư hướng dẫn

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào các thông tinđược công bố trên bản thuyết minh báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại

Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán HàNội Mong muốn của đề tài đạt được là sự minh bạch của thông tin tài chính thểhiện qua: việc khuyến khích tự nguyện công bố những thông tin (thông tin về tàichính và thông tin có liên quan giúp cho người sử dụng có thể nhận định và đánh

giá tình hình tài chính của doanh nghiệp) Như vậy những thông tin khác sẽ không

thuộc phạm vi của đề tài này Sự tự nguyện công bố thông tin của các công ty niêm

Trang 14

yết sẽ thể hiện trên bản thuyết minh báo cáo tài chính, bởi vì những mẫu báo cáo tàichính của Việt Nam như: Báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ,bảng cân đối kế toán là ba báo cáo có mẫu biểu được quy định nhất quán, cố địnhkhông thể thay đổi của Bộ tài chính, do vậy để tuân thủ và phù hợp với đặc thù củaViệt Nam thì tác giả xin đề xuất sự tự nguyện công bố này trên bản thuyết minh báocáo tài chính.

5 Câu hỏi nghiên cứu

Xuất phát từ tình hình biến động của thị truờng chứng khoán Việt Nam trongthời gian qua và để đánh giá được hiệu quả đầu tư trên thị trường chứng khoán củacác nhà đầu tư, một trong những yếu tố chính làm cho tình hình thị trường chứngkhoán biến động và ảnh hưởng chính đến hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư là vấn

đề thông tin bất cân xứng của công ty niêm yết Ðể tập trung giải quyết vấn đề này,

đề tài đưa ra câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1) Mức độ thông tin công bố trên bản thuyết minh báo cáo tài chính đã đầy đủtheo quy định hay chưa?

(2) Những thông tin nào được các công ty công bố thêm (tự nguyện) và chấtlượng thông tin công bố thêm có ảnh hưởng như thế nào tới nhà đầu tư trênthị trường chứng khoán?

6 Sản phẩm của đề tài, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng kết quả

Về mặt khoa học: giúp chúng ta hiểu rõ thực trạng minh bạch thông tin tàichính thông qua việc trình bày thông tin tài chính trên bản thuyết minh báo cáo tàichính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh và

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

Về mặt thực tiễn: Đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện việc tự nguyện công bốthông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp định tính

Chúng tôi sử dụng phương pháp định tính để phân tích, thống kê và tổng hợp thông tin trên cơ sở đã khảo sát các văn bản, các tài liệu, sách báo và các đề tài nghiêncứu trước đây

7.2 Phương pháp định lượng

Trang 15

Chúng tôi sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát gồm: khảosát sự minh bạch thông tin tài chính thông qua bản thuyết minh báo cáo tài chính vàthiết lập bảng câu hỏi, phỏng vấn trực tiếp để đánh giá về sự tự nguyện công bốthông tin.

Các lý thuyết về thông tin bất cân xứng, minh bạch thông tin tài chính, tự nguyệncông bố thông tin, mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và tự nguyệncông bố thông tin sẽ là nền tảng cơ bản nhất để thực hiện nghiên cứu này Phươngpháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích dữ liệu thứ cấp là đầu mục thôngtin được thống kê trên bản thuyết minh báo cáo tài chính của các công ty, từ đókiểm nghiệm mức độ minh bạch và tự nguyện công bố thông tin của các công tyniêm yết

8 Tổng quan về các công trình nghiên cứu trước đây

Trong nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thông tin tài chính và minh bạchthông tin tài chính, trong đó có các luận văn thạc sĩ kinh tế như: “Minh bạch thôngtin các doanh nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng Khoán TP.Hồ Chí Minh”, tácgiả Lê Trường Vinh (2008); “Hoàn thiện minh bạch hóa thông tin tài chính công tyniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị Hồng Thủy(2010); “Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanhnghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác giả Phạm Đức Tân(2009); “Hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin báo cáo tài chính các công

ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả NguyễnThị Hồng Oanh (2008); Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hệ thống kiểm soát sự minh bạchthông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam” tác giả NguyễnĐình Hùng (2010)

Hầu hết các nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến vai trò của thông tin và nêu thựctrạng công bố, trình bày thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết.Trên thế giới, nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin tài chính và sự tự nguyệncông bố dưới góc độ là các nghiên cứu riêng lẻ

Từ những nhận định trên, điểm mới của đề tài nghiên cứu này là sẽ kết hợpcác nghiên cứu riêng lẻ trên thế giới và các nghiên cứu trong nước trước đây đồngthời dựa vào thực trạng về sự minh bạch thông tin tài chính của báo cáo tài chính tại

Trang 16

Việt Nam để đo lường và đánh giá sự minh bạch thông tin tài chính thông qua sự tựnguyện công bố thông tin của các công ty niêm yết.

9 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về sự minh bạch thông tin tài chính của các công tyniêm yết thông qua sự tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tàichính

Chương 2: Thực trạng về sự minh bạch thông tin tài chính của các công tyniêm yết thông qua sự tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tàichính

Chương 3: Các giải pháp để nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính củacác công ty niêm yết thông qua tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minhbáo cáo tài chính

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI

CHÍNH.

1.1 Thông tin tài chính và sự minh bạch thông tin tài chính

1.1.1 Thông tin tài chính

1.1.1.1 Khái niệm thông tin tài chính

Trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, vì thông tin tài chính là kết quả củaquá trình tạo lập và công bố trên các báo cáo tài chính, do vậy khi đề cập đến thôngtin tài chính thì đồng nghĩa với thông tin trên các báo cáo tài chính, do đó hai cụm

từ “thông tin tài chính” và thông tin trên các báo cáo tài chính” là tương đồng

Thông tin tài chính là thông tin có được thông qua các báo cáo tài chính(như thông tin về doanh thu, lợi nhuận, các khoản phải thu, phải trả ) do doanhnghiệp cung cấp và chủ yếu thu thập từ bộ phận kế toán thông qua các báo cáotài chính gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báocáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính

Về việc công bố thông tin tài chính phải tuân theo thông tư 09/2010/TT-BTC thì:

+ Để công bố các thông tin tài chính phải lập trang thông tin điện tử với đầy

đủ các chuyên mục về quan hệ cổ đông, trong đó phải có điều lệ công ty, quy chếquản trị nội bộ, báo cáo thường niên, báo cáo tài chính định kỳ phải công bố theoquy định và các vấn đề liên quan đến kỳ họp Đại hội đồng cổ đông

+ Việc công bố báo cáo tài chính, tổ chức niêm yết phải công bố báo cáo tàichính năm đã được kiểm toán, báo cáo tài chính bán niên (6 tháng đầu năm) đãđược soát xét bởi tổ chức kiểm toán và báo cáo tài chính quý Các tổ chức niêm yếtphải báo cáo giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 10 phiên liên tiếp; hoặctăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu thế chung của thịtrường, thay vì các tổ chức niêm yết phải giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặcgiảm sàn 5 phiên liên tiếp như trước đây

Vào ngày 5 tháng 4 năm 2012, Bộ tài chính đã ban hành thông tư 52 thay thế chothông tư 09 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2012, như vậy thì cónhững điểm khác biệt giữa hai thông tư này về việc công bố thông tin như sau:

Trang 18

 Thông tư 52 bỏ quy định khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiênliên tiếp mà không theo xu hướng chung của thị trường thì tổ chức niêm yết phảicông bố các sự kiện liên quan có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu Chỉ cócông ty niêm yết và công ty đại chúng quy mô lớn (vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷđồng trở lên, có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông) mới phải công bốthông tin bất thường khi giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ 10 phiênliên tiếp trở lên.

 Điểm mới trong thông tư 52 là các công ty đại chúng quy mô lớn (vốn điều

lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổđông) sẽ phải tuân thủ các quy định công bố thông tin như đối với doanh nghiệpniêm yết, nhằm minh bạch thông tin đối với thị trường

 Với thông tin nghiêm trọng, các doanh nghiệp phải công bố thông tin hoặcđắnh chắnh thông tin trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận đýợc thông tin hoặc theo yêucầu từ Ủy ban chứng khoán

 Đối với các báo cáo tài chắnh kiểm toán nãm, thời gian tối đa để doanhnghiệp công bố đýợc rút ngắn, từ 100 ngày kể từ khi kết thúc niên độ xuống 90ngày Đối với báo cáo tài chắnh bán niên (6 tháng), thời gian nộp báo cáo tài chắnhsoát xét là 45 ngày

1.1.1.2 Vai trò của thông tin tài chắnh

Thị trường chứng khoán ngày càng trở nên quan trọng, yêu cầu cóđượcthông tin hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp của các nhà đầu

tư, nhà tài trợ,Hội đồng quản trị, cổ đông góp vốn Ầ, thông tin tài chắnh của doanhnghiệp phảiđược cung cấp đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời, chắnh xác và trung thực

Vai trò của thông tin tài chắnh đặc biệt quan trọng, có thể nęu một vŕi vai trňphổ biến như sau:

Thứ nhất: Thông tin tài chắnh đóng một vai trò quan trọng trong quy trìnhxác định giá trị cổ phiếu Để đánh giá triển vọng của doanh nghiệp thì phải phântắch và đánh giá các thông tin tài chắnh hiện tại và quá khứ, vì vậy chất lượng thôngtin tài chắnh, phần lớn được phản ánh trong báo cáo tài chắnh có ảnh hưởng đáng kểđến kết quả định giá cổ phiếu

Trang 19

Thứ hai: Dựa vào thông tin tài chính được công bố trên báo cáo tài chính,nhất là các thông tin quan trọng mà nhà đầu tư chỉ có thể tìm thấy trong bản thuyếtminh báo cáo tài chính để đánh giá một doanh nghiệp trong môi trường kinh doanhđang có nhiều thay đổi như hiện nay, chẳng hạn đánh giá triển vọng của ngànhnghề, lợi thế cạnh tranh và chiến lược của doanh nghiệp để phát triển ngành nghề

đó Bởi vì thành phần chủ yếu của thuyết minh báo cáo tài được chia thành:

(1) Thông tin về doanh nghiệp: nhà đầu tư sẽ quan tâm tới đặc điểm hoạtđông của doanh nghiệp trong năm có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính.(2) Chuẩn mực và chế độ kế toán, kỳ kế toán và đơn vị tiền tệ sử dụng trong

kế toán

(3) Các chính sách kế toán đang áp dụng: Các số liệu kế toán bị ảnh hưởngrất nhiều bởi một phương pháp kế toán mà doanh nghiệp đang áp dụng, cácphương pháp kế toán được nêu cụ thể giúp nhà phân tích có cái nhìn đầy đủ và

rõ ràng hơn về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp

(4) Thông tin bổ sung cho các khoản mục trong báo cáo tài chính Phần nàycung cấp thêm chi tiết, các khía cạnh đặc biệt của một khoản mục mà người sửdụng thông tin cần phải biết để hiểu rõ khoản mục đó

(5) Những thông tin khác Phần này thường nằm ở cuối bản thuyết minh báocáo tài chính, nhưng nó không kém phần quan trọng Các thông tin mà nhà phântích, nhà đầu tư cần lưu ý bao gồm: các khoản nợ tiềm tàng, các cam kết có giátrị lớn, sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán, thông tin về các bênliên quan, thông tin về khả năng hoạt động liên tục, các khoản điều chỉnh sốliệu so sánh…

Thứ ba: Thông tin trên báo cáo tài chính được lập và trình bày nhằm mụcđích đáp ứng những nhu cầu thông tin thông thường của hầu hết người sử dụng.Tuy nhiên, các báo cáo tài chính không cung cấp tất cả các thông tin mà người sửdụng cần để tiến hành các quyết định kinh tế vì phần lớn chúng phản ánh các tácđộng tài chính của các sự kiện trong quá khứ và không cung cấp các thông tin phitài chính Mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tình trạng tàichính, thành quả thực hiện, dòng lưu chuyển tiền và những thay đổi trong tình trạng

Trang 20

tài chính của một tổ chức, các thông tin này hữu ích cho nhiều người sử dụng trongviệc tiến hành ra các quyết định kinh tế Để thông tin tài chính trở nên hữu ích, theoquan điểm của Tổ chức nghiên cứu kế toán Úc (AARE), thông tin tài chính trở nên

hữu ích thể hiện qua các đặc tính chất lượng, bao gồm: tính phù hợp và đáng tin cậy (đối với việc lựa chọn thông tin tài chính), tính có thể so sánh được và tính có thể hiểu được (đối với việc trình bày thông tin tài chính) Cụ thể:

- Tính phù hợp (Relevance)

Có nghĩa là chất lượng của thông tin tài chính nó tồn tại khi mà thông tin đó ảnhhưởng đến việc ra quyết định bởi người dùng về việc phân bổ các nguồn tàinguyên khan hiếm bằng cách: (1) Giúp cho họ hình thành những dự báo về kếtquả trong quá khứ hoặc những sự kiện tương lai; (2) Xác nhận hoặc hiệu chỉnhcác đánh giá trong quá khứ của họ; (3) Cho phép người sử dụng thông tin có thểđánh giá trách nhiệm của người người cung cấp thông tin

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư, tổ chức cho vay và khôngkém phần quan trọng đối với các đối tượng sự dụng báo cáo tài chính khác Đốivới thông tin tài chính mang tính phù hợp thì nó phải có giá trị về việc hỗ trợngười sử dụng thông tin đó để đưa ra và đánh giá những quyết định của mình vềviệc phân bổ các nguồn tài nguyên khan hiếm và đánh giá trách nhiệm củangười cung cấp thông tin Thực ra, bản thân thông tin không phải là một dự báo

về kết quả hay sự kiện tương lai để trở nên hữu ích, mà chính các thông tin vềtình trạng hiện tại của các nguồn lực kinh tế, các nghĩa vụ pháp lý và hiệu quảhoạt động trong quá khứ được trình bày mới là nền tảng để người sử dụng cóthể thiết lập các kỳ vọng “Các thông tin đó để giúp người sử dụng đưa ranhững quyết định của mình về việc phân bổ các nguồn tài nguyên khan hiếmthì nó phải hỗ trợ họ trong việc đưa ra các dự đoán về những tình huống trongtương lai và hình thành những kỳ vọng và phải đóng góp một vai trò khẳngđịnh trong việc tôn trọng các đánh giá trong quá khứ của họ (SAC 3, đoạn 8)

- Tính đáng tin cậy (Reliability)

Tính đáng tin cậy rất quan trọng đối với thông tin tài chính nó đòi hỏi “ thông tintài chính sẽ được xác định bởi mức độ tương ứng giữa những thông tin mà nóđược truyền tải tới người dùng” Trong thực tế, thông tin trên báo cáo tài chính

Trang 21

thường là kết quả của các quy trình phân loại, tổng hợp, phân bổ, ước tính, điềuchỉnh khá phức tạp vv… nên không phải lúc nào cũng thực sự chính xác, và mốiliên hệ giữa số liệu và bản chất của sự kiện được trình bày trên báo cáo tài chính

có thể trở nên mơ hồ Do vậy, “khả năng cho phép về việc kiểm tra khách quan,độc lập từ bên ngoài sẽ làm cho thông tin đáng tin cậy hơn” (SAC 3, đoạn 16)

- Tính có thể so sánh được (Comparability)

“So sánh” có nghĩa là chất lượng của thông tin tài chính tồn tại khi người sửdụng thông tin đó có thể nhận thức rõ và đánh giá về những điểm giống nhau vàkhác nhau giữa bản chất và những ảnh hưởng của các giao dịch và các sự kiện,tại một thời điểm và theo thời gian hoặc là khi đánh giá các khía cạnh của mộtthực thể báo cáo đơn lẻ hoặc một số thực thể báo cáo Một ý nghĩa quan trọngcủa tính có thể so sánh đó là người sử dụng thông tin cần được thông báo về cácchính sách được trình bày trong báo cáo tài chính tổng hợp, sự thay đổi củanhững chính sách và những ảnh hưởng của sự thay đổi đó (SAC 3, đoạn 31)

Do đó, thông tin tài chính của công ty sẽ mang lại sự hữu ích nhiều hơn nữa nếuđược so sánh với những thông tin tương tự của các công ty khác hoặc so sánhvới các thông tin qua các thời kỳ, thời điểm của cùng một công ty

- Tính có thể hiểu được (Understandability)

Có nghĩa là chất lượng thông tin tài chính tồn tại khi người sử dụng thông tin

đó có thể hiểu ý nghĩa của nó Tuy nhiên, khả năng của người sử dụng có thểhiểu được thông tin tài chính sẽ phụ thuộc vào một phần khả năng hiểu biết của

họ và một phần là do cách thức trình bày thông tin Báo cáo tài chính tổnghợp phải được xây dựng và có liên quan đến lợi ích của người sử dụng thôngtin (SAC 3, đoạn 36)

Như vậy, thông tin tài chính được trình bày theo cách thức sao cho những người

có trình độ nhận thức tương đối về kinh doanh, về hoạt động kinh tế có thể dễdàng hiểu được

Tóm lại: Thông tin tài chính có vai trò quan trọng trong quá trình xác định giá

cổ phiếu, giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác về hoạt động của công ty, chẳng hạnnhư triển vọng ngành nghề, lợi thế cạnh tranh thông tin chỉ xuất hiện khi có nhucầu, nếu không có nhu cầu sử dụng thì sẽ không có thông tin, do đó điều quan trọng

Trang 22

nhất là thông tin phải hữu ích cho người sử dụng Thông tin nói chung và thông tintài chính nói riêng chỉ hữu ích khi có đầy đủ các đặc tính chất lượng đáp ứng đượcnhu cầu thông tin cho hầu hết người sử dụng khi họ tiến hành các quyết định kinhtế.

1.1.2 Sự minh bạch thông tin tài chính

1.1.2.1 Khái niệm

Sự minh bạch là một thuật ngữ dùng để đánh giá chất lượng của báo cáo tàichính Chức năng cơ bản của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin cho các đốitượng bên ngoài doanh nghiệp, nhằm hỗ trợ cho các đối tượng này đưa ra cácquyết định tối ưu Ngoài ra sự minh bạch còn được đề cập đến rất nhiều trong cáclĩnh vực như sự minh bạch của thị trường tài chính hay sự minh bạch của trongviệc quản trị công ty, doanh nghiệp Việc minh bạch trong hoạt động quản trị sẽđảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động ổn định và tăng trưởng vững chắc Mộtdoanh nghiệp có hệ thống quản trị tốt và minh bạch bao giờ cũng có các chính sáchquản trị rủi ro thích hợp

Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập đến sự minh bạch thông tintài chính công bố hay là sự minh bạch của thông tin được trình bày trên các báo cáotài chính công bố bởi các công ty niêm yết

Có nhiều khái niệm về sự minh bạch được đưa ra bởi các tổ chức nghềnghiệp cũng như trong nghiên cứu, có thể nêu một vài khái niệm phổ biến như sau:

Theo tổ chức S&P (Standard & Poors), sự minh bạch là công bố kịp thời vàđầy đủ của việc điều hành, hoạt động và tài chính của công ty cũng như các thông

lệ quản trị công ty liên quan đến quyền sở hữu, hội đồng quản trị, cơ cấu quản lý

và quy trình quản lý

Theo nghiên cứu thực nghiệm của Trung Quốc, Robert W McGee, XiaoliYuan (2008), tính minh bạch là một thành phần rất quan trọng của báo cáo tàichính Các công ty phải công bố bất cứ điều gì mà có thể ảnh hưởng đến quyết địnhđầu tư của một nhà đầu tư và không có bất cứ thông tin quan trọng nào có thể đượcche dấu” Trong nghiên cứu còn đề cập tới một khía cạnh khác của tính minh bạch

chính là tính kịp thời Việc tiết lộ thông tin “sớm còn hơn muộn”cho dù một số

thông tin đó cần phải kiểm chứng Chẳng hạn như các công ty phát hành báo cáo tài

Trang 23

chính hàng năm của họ vào ngày 01 tháng 01 là rất kịp thời, nhưng có một xác suấtnhất định rằng một số các thông tin trong báo cáo đó không phải là hoàn chỉnh hoặchoàn toàn chính xác so với việc nếu công ty đã dành nhiều thời gian chuẩn bị cácbáo cáo và phát hành một vài tuần hoặc vài tháng sau đó vẫn trong thời gian quyđịnh.

Theo nghiên cứu của Robert M.Bushman, Piotroski và Smith (2001), xemxét sự minh bạch trên góc độ công ty: “Minh bạch công ty được định nghĩa như là

sự sẵn có phổ biến của các thông tin thích hợp và đáng tin cậy về công việc thựchiện định kỳ, những vị thế tài chính, các cơ hội đầu tư, quản trị, giá trị và những rủi

ro của các giao dịch công khai

Theo Barth và Schipper (2008), sự minh bạch là một đặc tính được mong đợicủa báo cáo tài chính, được định nghĩa là phạm vi mà các báo cáo tài chính chothấy các giá trị kinh tế ngầm định của tổ chức theo cách sẵn sàng cho sự hiểubiết của những người sử dụng các báo cáo này

Theo Kulzick (2004), Blanchet (2002) và Prickett (2002), nghiên cứu sựminh bạch trên quan điểm của người sử dụng thông tin, theo họ minh bạch củathông tin bao gồm:

- Sự chính xác: thông tin phản ánh chính xác dữ liệu tổng hợp từ sự kiện phátsinh

- Sự nhất quán: thông tin được trình bày có thể so sánh được và là kết quả củanhững phương pháp được áp dụng đồng nhất

- Sự thích hợp: khả năng thông tin tạo ra các quyết định khác biệt, giúp người

sử dụng dự đoán kết quả trong quá khứ, hiện tại và tương lai hoặc giúp xácnhận và hiệu chỉnh các mong đợi

- Sự đầy đủ: thông tin phản ánh đầy đủ các sự kiện phát sinh và các đối tượng

có liên quan

- Sự rõ ràng: thông tin truyền đạt được thông điệp và dễ hiểu

- Sự kịp thời: thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin giảm khảnăng ảnh hướng đến các quyết định

- Sự thuận tiện: thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng

Trang 24

Tóm tại: Từ những nghiên cứu đã đề cập ở trên, chúng tôi thấy rằng các đặcđiểm của minh bạch thông tin tài chính có thể xem là sự sẵn có của các thông tin tàichính cho người sử dụng và giữa người cung cấp thông tin và người sử dụng thôngtin không tồn tại sự bất cân xứng về thông tin.

1.1.2.2 Vai trò của sự minh bạch thông tin tài chính

Việc công bố thông tin tài chính minh bạch cho người sử dụng thông tin tàichính là các nhà đầu tư sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro do “thông tin bất cân xứng”bởi vì trong nền kinh tế mà nguồn vốn chủ yếu huy động qua thị trường vốn thì vaitrò của nhà đầu tư đặc biệt được quan tâm Khi có thông tin tài chính minh bạchcác nhà đầu tư sẵn lòng chấp nhận mức lợi tức kỳ vọng thấp hơn, qua đó làm giảmchi phí vốn cho doanh nghiệp

Sự minh bạch thông tin tài chính của doanh nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng đểphát triển bền vững, làm gia tăng giá trị của các doanh nghiệp nói chung Muốnphát triển mạnh và bền vững, doanh nghiệp cũng như các tổ chức ngân hàng đềucần phải đề cao tính minh bạch

Sự minh bạch thông tin tài chính có vai trò quan trọng khi xem xét trên nhiềugóc độ khác nhau như: các công ty công bố thông tin tài chính, người sử dụngthông tin tài chính và thị trường tài chính nhưng quan trọng hơn là thị trườngvốn Các nghiên cứu minh họa cho các lập luận trên được nêu dưới đây:

- Theo nghiên cứu của tổ chức Standard & Poor, vai trò của minh bạch thôngtin cũng là vai trò của việc công bố thông tin trong việc giảm thông tin bấtcân xứng giữa các cổ đông nội bộ và các cổ đông thiểu số, chủ nợ hay cácbên liên quan khác Minh bạch trong quản trị công ty bao gồm việc công bốthông tin có ý nghĩa và kịp thời, đầy đủ về hội đồng quản trị, quá trình quản

lý công ty

- Theo OECD (1999), công khai và minh bạch thông tin tài chính là một phầnquan trọng của khuôn mẫu quản trị công ty và được coi là một chứng chỉquan trọng của chất lượng quản trị công ty Thực tế, theo nghiên cứu củaBeeks và Brown (2005) cho rằng các công ty có chất lượng quản trị công tycao hơn thì sẽ công bố thông tin nhiều hơn Tính dễ hiểu, tính thích hợp,minh bạch, đáng tin cậy, kịp thời và công bố đầy đủ thông tin các kết quả

Trang 25

hoạt động kinh tế, cấu trúc, quy trình được sử dụng trong các tổ chứcsẽcungcấpchocác bên liên quanmột cái nhìnđúng sự thật vàcôngbằngvề côngtyvàchất lượngcủacác tiêu chuẩnquản trị doanh nghiệpđang áp dụng Cơ chếcông bố và minh bạch được thiết lập để bảo vệ quyền lợi của các cổ đôngthiểu số, các chủ nợ và những người ngoài công ty ra quyết định mà họ làngười không có biết nhiều về công ty chỉ dựa trên các thông tin mà công

ty công bố

- Theo Pankaj Madhani (2007), minh bạch là công bố kịp thời và đầy đủ thôngtin về hoạt động và tài chính của công ty và thông lệ quản trị doanh nghiệpliên quan đến vốn chủ sở hữu, cơ cấu quản lý và quy trình của nó Minh bạch

là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của công ty đối với cácnhà đầu tư và là một yếu tố quan trọng của quản trị doanh nghiệp Mức độminh bạch phụ thuộc vào sự sẵn sàng và khả năng quản lý để khắc phục bất

kỳ sự khác biệt thông tin với những người tham gia thị trường Trong thờiđại của nền kinh tế thông tin, minh bạch trong báo cáo tài chính là rất quantrọng Các công ty không đạt tiêu chuẩn về minh bạch thông tin thì sẽ cónguy cơ thiệt hại đáng kể trong sự tín nhiệm quản lý Trong trường hợp xấunhất, các công ty có thể phải đối mặt với một sự xói mòn niềm tin cổ đông,vốn hóa thị trường tín dụng bị thiệt hại và tính thanh khoản thị trường Việc

tự nguyện công bố thông tin và các báo cáo tài chính minh bạch sẽ giúp choviệc xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài của các công ty niêm yết

Như vậy: Minh bạch thông tin là một trong những nhân tố quan trọng nhất

giúp thị trường chứng khoán phát triển Với tư cách là một người chủ sở hữu củadoanh nghiệp, cổ đông của công ty hoàn toàn được quyền biết rõ tình trạng doanhnghiệp của mình Khi các doanh nghiệp này đã được niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán thì câu chuyện minh bạch thông tin doanh nghiệp không chỉ dừng lại ởnhững người chủ sở hữu mà còn là chuyện của những nhà đầu tư Doanh nghiệpniêm yết phải có trách nhiệm công bố thông tin một cách rõ ràng minh bạch theođúng pháp luật để cho các nhà đầu tư có những quyết định đúng đắn

Trang 26

1.2 Sự tự nguyện công bố thông tin thông qua bản thuyết minh báo cáo tài chính.

1.2.1 Khái niệm về sự tự nguyện

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, công bố thông tin bắt buộc của cáccông ty niêm yết không thể đáp ứng thông tin đa dạng của nhà đầu tư cần Thịtrường chứng khoán phát triển yêu cầu cao hơn đối với việc công bố thông tin củacác công ty niêm yết, các công ty niêm yết cần công bố thông tin tự nguyện, vì tựnguyện công bố thông tin có tác động tích cực về việc trao đổi thông tin của các cơquan quản trị doanh nghiệp và lợi ích của các bên liên quan, làm giảm thông tin bấtcân xứng của các nhà đầu tư và nâng cao chất lượng công bố thông tin

Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập đến sự tự nguyện công bốthông tin, việc tự nguyện công bố có thể bổ sung và mở rộng cho việc công bố bắtbuộc vì mục đích của việc thực hiện đầy đủ, đa dạng và có hệ thống của công bốthông tin

Một vài khái niệm về sự tự nguyện công bố thông tin được đưa ra thông quacác nghiên cứu trước đây:

- Theo Adina P and Ion P (2008), công bố tự nguyện có nghĩa là các thôngtin được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụngthông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân tích tài chính, các công

ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức, Hiện nay thì các công bố tựnguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của người sử dụng thông tin vì tínhảnh hưởng của nó, và các công ty cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thuđược nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin tự nguyện

- Theo nghiên cứu của Pankaj Madhani (2007), tự nguyện công bố đó là việccông bố những thông tin nằm ngoài quy định bắt buộc Tự nguyện công bố

đó là quá trình cung cấp thông tin từ công ty báo cáo tới các thị trường tàichính, mặc dù không đòi hỏi luật pháp quy định Các công ty tự nguyện công

bố thông tin không theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, họ nỗ lực đểhình thành nhận thức của người tham gia thị trường và các bên liên quankhác để để hưởng lợi từ việc công bố thông tin tự nguyện và đạt được cácđiều khoản với các bên

Trang 27

Như vậy, công bố tự nguyện (Voluntary disclosures) là sự lựa chọn củadoanh nghiệp, không bắt buộc Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phảicông bố các thông tin mà luật pháp không yêu cầu.

1.2.2 Vai trò của sự tự nguyện công bố thông tin

Theo nghiên cứu của Pankaj Madhani (2007), khi công ty tự nguyện công bốthì có nghĩa là công ty đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc và có giá trị về chính sáchquản trị công ty Theo đó, các công ty có thể tự nguyện công bố chẳng hạn như:phát hành bản báo cáo dự báo thu nhập quản lý, các cuộc họp của nhà đầu tư và nhàphân tích, các cuộc họp hội ý, thông cáo báo chí, giới thiệu nhà đầu tư hay công bốquan hệ với nhà đầu tư trên trang web của công ty

Tự nguyện công bố có thể làm tăng phí bảo hiểm thông tin nhưng giá trịdoanh nghiệp sẽ được nâng lên do cung cấp được thông tin hữu ích cho nhà đầu tưtrong việc cải thiện việc ra quyết định và cho người sử dụng thông tin khác, giúpphân bổ nguồn lực kinh tế tốt hơn

Thông tin tự nguyện công bố tốt sẽ cải thiện sự phối hợp giữa các công ty vàcác nhà đầu tư đối với quyết định đầu tư vốn

Tự nguyện công bố làm gia tăng tính thanh khoản của cổ phiếu dẫn đếnquyền sở hữu tổ chức cao hơn, góp phần giảm chi phí vốn

Theo nghiên cứu của Mark Lang và Russell Lundholm (1993 và 1997), công

bố thông tin tự nguyện để thu hút các cổ đông đầu tư vào công ty của mình thì bắt

đầu từ sáu tháng trước khi phát hành cổ phiếu, các công ty đã đột ngột tăng hoạt

động công bố thông tin của họ, đặc biệt là dạng công bố thông tin theo ý riêng của

mình được các công ty làm nhiều nhất Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: việc công bố thông tin đã làm giảm các thông tin bất cân xứng vốn có khi phát hành.

1.3 Mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và tự nguyện công

bố thông tin

1.3.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng góp phần để chứng minh mối quan hệ giữa minhbạch thông tin tài chính và tự nguyện công bố thông tin bởi vì khi đó giữa ngườicung cấp thông tin và người sử dụng không tồn tại sự bất cân xứng về thông tin, cónghĩa là thông tin tài chính đạt được sự minh bạch, khi thông tin tài chính minh

Trang 28

bạch nghĩa là công ty công bố đầy đủ và chính xác, không che dấu thông tin điều đóthể hiện sự tự nguyện công bố thông tin.

1.3.1.1 Các khái niệm về thông tin bất cân xứng

Theo G.A Akerlof (1970), thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch cónhiều thông tin hơn một bên khác Ðiển hình là người bán biết nhiều về sản phẩmhơn đối với người mua hoặc ngược lại

Theo Kyle, 1985 (trích trong Ravi, 2005) thông tin bất cân xứng trên thịtrường chứng khoán xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu được thông tinriêng hoặc theo Kim và Verrecchia, 1994 và 1997 (trích trong Ravi, 2005), có nhiềuthông tin đại chúng hơn về một công ty

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2006), thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bênđối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ởmức nào đó

Như vậy: Khái niệm về thông tin bất cân xứng đề cập đến những vấn đề:

(a) Đề cập tới mối quan hệ giữa người cung cấp và sử dụng thông tin có một mức độ hiểu biết khác nhau về thông tin đó.

(b) Do sự hiểu biết không giống nhau đó sẽ dẫn đến có một bên có nhiều thông tin hơn bên kia và dễ dàng trục lợi thông tin cho mình còn bên có ít thông tin thì không biết mức độ thật của thông tin đó như thế nào.

(c) Khái niệm về thông tin bất cân xứng cũng giải thích được hiện tượng không minh bạch về thông tin tài chính.

1.3.1.2 Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

Ở những thị trường chứng khoán mới hình thành và phát triển trên thế giới (thịtrường mới nổi), hiện tượng thông tin bất cân xứng xảy ra phổ biến trên mọi ngành

và mọi lĩnh vực

Thứ nhất, ngoài các thông tin bắt buộc theo luật định phải công bố thì cácdoanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời Đặc biệt đối vớicác công ty có cổ phiếu giao dịch trên thị trường phi chính thức (OTC), tình trạngphổ biến là nhà đầu tư hầu như không nắm rõ tình hình hoạt động kinh doanh củacông ty Các thông tin tìm được chủ yếu qua nguồn tin riêng, trên các diễn đàn

Trang 29

chứng khoán hoặc tin đồn Một thực trạng nữa là đối với các công ty chào bán lầnđầu ra công chúng thực hiện đấu giá tại cơ sở, Ban giám đốc công ty có xu hướngche giấu các thông tin để làm giảm giá cổ phiếu sao cho những người nội bộ công

ty có thể mua được cổ phiếu với giá thấp

Thứ hai, có hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép côngkhai Sự rò rỉ thông tin phổ biến trong công tác đấu giá cổ phiếu Hiện nay, khiđấu giá mua cổ phiếu lần đầu thì các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải công

bố tổng số nhà đầu tư tham gia đấu giá và tổng lượng cổ phiếu đặt mua, trongkhi những thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến việc đặt giá như: số lượng nhàđầu tư tổ chức/nhà đầu tư nước ngoài tham gia đấu giá; số lượng cổ phiếu đặtmua của các đối tượng này, lại không được công bố cụ thể Những thông tin nàykhông được bảo mật chặt chẽ mà được cung cấp một cách riêng lẻ cho những đốitượng có nhu cầu Những người nắm được cụ thể, chi tiết về tổng cầu cổ phiếu củathị trường, thì khi tham gia đấu giá sẽ tính toán được mức giá hợp lý để bỏ thầu,qua đó chiếm lợi thế so với các nhà đầu tư khác không có thông tin

Sự rò rỉ thông tin còn thể hiện ở việc công bố các thông tin có lợi của công

ty Chẳng hạn, đối với các quyết định của Hội đồng quản trị như chia cổ tức bằng

cổ phiếu, tăng quy mô vốn thông thường do các nguồn quan hệ cá nhân, một sốnhà đầu tư biết trước khi Trung tâm chứng khoán công bố vài ngày và đã tranhthủ thu mua cổ phiếu để chờ giá lên Đến khi các nhà đầu tư còn lại biết đượcthông tin thì đã muộn

Thứ ba, công ty cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư:

ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức

mà không công bố rộng rãi Đến nay, một hiện tượng phổ biến cho thấy các cuộcđấu giá, người đấu giá thành công chủ yếu là các nhà đầu tư tổ chức, loại trừ khảnăng các nhà đầu tư tổ chức có kinh nghiệm, kỹ năng phân tích hơn thì người tacũng nghi ngờ các nhà đầu tư nhận được nhiều thông tin chất lượng hơn so vớicác nhà đầu tư cá thể

Thứ tư, là hiện tượng lừa đảo Đây không phải là hiện tượng phổ biến trênthị trường chứng khoán Việt Nam nhưng rất đáng cảnh báo các nhà đầu tư nghiệpdư,

Trang 30

đặc biệt những người không có kiến thức về chứng khoán và kinh tế lại có tham vọng làm giàu bằng kinh doanh chứng khoán.

Thứ năm, là việc tung tin đồn thất thiệt Có không ít tin đồn ảnh hưởng đến

uy tín của các công ty niêm yết, các tin này thường được tung ra trên các diễn đànchứng khoán, trên các sàn giao dịch chứng khoán, hoặc được truyền miệng Do nhàđầu tư chưa có kinh nghiệm, kỹ năng để kiểm chứng nguồn thông tin, đồng thời do

cơ chế thông tin của công ty còn yếu kém, chậm chạp nên dẫn đến gây tâm lý hoangmang cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến giá cả cổ phiếu trên thị trường Trong khi đó,các quy định của Nhà nước về việc xử phạt đối với việc tung tin đồn trên thị trườngchứng khoán vẫn còn trong giai đoạn soạn thảo Cơ chế phát hiện đối với việc tungtin đồn cũng chưa rõ ràng

Thứ sáu, là các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin lệch, không đầy đủ.Đây không phải là hiện tượng phổ biến nhưng khiến cho các nhà đầu tư chuyênnghiệp không mấy tin cậy vào chất lượng thông tin của các cơ quan báo chí Mặtkhác, về nội dung thông tin do cơ quan truyền thông cung cấp, chủ yếu vẫn là tintức, diễn biến thị trường, chưa có nhiều các thông tin nhận định phân tích mangtính định hướng cho nhà đầu tư và thị trường

Ngoài ra còn nhiều hiện tượng khác về việc một số nhà đầu tư làm giá, tạocung cầu ảo trên thị trường khiến cho giá cả biến động mạnh Sự thua thiệt thuộc

về các nhà đầu tư cá nhân, không có nguồn tin nội bộ, khi muốn mua thì không thểnào tìm được nguồn mua do các nhà đầu tư lớn đã thâu tóm toàn bộ, khi muốn bánthì cũng không thể nào bán được do thị trường bão hòa

Như vậy:Trên thị trường chứng khoán, hiện tượng bất cân xứng thông tinxảy ra khi: doanh nghiệp che giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng thông tin có lợi doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư; doanhnghiệp sau khi phát hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh doanh

mà chỉ tập trung vào việc gia tăng giá giao dịch của cổ phiếu trên thị trường chứngkhoán; có sự rò rỉ thông tin nội gián; một số nhà đầu tư tạo cung cầu ảo trên thịtrường dẫn đến phản ánh sai lệch giá trị của doanh nghiệp; một số kẻ xấu tung tinđồn thất thiệt cho doanh nghiệp; các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sailệch; các trung gian tài chính cung cấp, xử lý thông tin không chính xác

Trang 31

Tình trạng bất cân xứng về thông tin sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư đưa racác quyết định đầu tư không chính xác, gây cung cầu ảo, thị trường bong bóng vàtiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trường.

Tóm lại: Việc tìm hiểu về thông tin bất cân xứng để từ đó cho thấy rằng khi

có thông tin thì bao giờ cũng có những chiều hướng khác nhau và đôi khi nó dẫnđến sự không minh bạch Mà một khi thông tin đã không minh bạch thì nó chỉ có lợicho một phía, do vậy lý thuyết về thông tin bất cân xứng nó sẽ giải thích là tại saolại có sự không minh bạch thông tin và bất cân xứng trong tiếp cận thông tin

1.3.2 Mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và tự nguyện công

bố thông tin

Minh bạch thông tin tài chính và sự tự nguyện công bố thông tin có mối quan

hệ rõ nét đó là thông tin công bố theo quy định hay tự nguyện đều phải là nhữngthông tin hữu ích thể hiện qua các đặc tính chất lượng của thông tin Trong mục1.1.1.2 chúng tôi đã trình bày về vai trò của thông tin tài chính và có đề cập tới sựminh bạch thông tin tài chính là sự sẵn có của các thông tin cho người sử dụng và

sự sẵn có được thể hiện qua các đặc tính chất lượng của thông tin như: tính phù hợp và đáng tin cậy, tính có thể so sánh được và tính có thể hiểu được.

Theo nghiên cứu của Pankaj Madhani (2007), tự nguyện công bố thông tin sẽlàm giảm thông tin bất cân xứng bằng cách cân bằng không chỉ cân bằng kiến thứcgiữa các nhà đầu tư và quản lý công ty mà còn giữa các nhóm khác nhau của cácnhà đầu tư

Đối với việc tự nguyện công bố thông tin làm giảm thông tin bất cân xứng phụthuộc vào mức độ hữu ích của thông tin công bố Tuy nhiên, để sự tự nguyện công

bố làm giảm thông tin bất cân xứng chỉ khi nó là thông tin hữu ích Theo PankajMadhani (2007), có năm đặc tính chất lượng chính làm cho thông tin công bố tự

nguyện trên báo cáo tài chính trở nên hữu ích để ra quyết định là phù hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh, kịp thời và có thể hiểu.

- Để thông tin tự nguyện trở nên hữu ích, thì thông tin đó phải phù hợp với các

nhà đầu tư bởi vì nó giúp họ đánh giá quá khứ, hiện tại và tương lai củadoanh nghiệp và môi trường xung quanh của nó vì nó ảnh hưởng tới quyếtđịnh đầu tư của họ

Trang 32

- Để thông tin tự nguyện trở nên hữu ích, thì thông tin đó phải là đáng tin cậy.

Để được coi là đáng tin cậy, nó phải chính xác, khi che giấu một sự kiện nào

đó có thể gây ra thông tin là không đúng sự thật, và làm cho thông tin khôngđáng tin cậy Nếu thông tin không khách quan, thì bằng cách lựa chọn hoặctrình bày và cách quản lý của công ty sẽ làm ảnh hưởng đến các nhà đầu tư

- Để thông tin tự nguyện trở nên hữu ích, thì thông tin cũng phải có các tính

năng của so sánh Để so sánh, nó sẽ cho phép so sánh trong nội bộ công ty

cũng như giữa các công ty

- Để thông tin tự nguyện trở nên hữu ích, thì thông tin phải có các tính năngcủa các mốc thời gian sẽ được chuyển giao cho người sử dụng cuối cùngcàng nhanh càng tốt Việc thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thông tin,

kịp thời thông tin có một giá trị nhất định trong việc làm giảm khoảng cách

thông tin

- Để thông tin tự nguyện trở nên hữu ích, thì thông tin cần được trình bày một

cách dễ hiểu để sử dụng Nói cách khác, trình bày con số là không đủ, giải

thích, phương pháp tính toán cần thiết là tốt

Trong nghiên cứu của Pankaj Madhani (2007), ông cũng chỉ ra những lợi ích quan trọng nhất của việc công bố tự nguyện là:

- Tăng cường sự tín nhiệm trong quản lý doanh nghiệp

- Có thêm nhiều nhà đầu tư dài hạn

- Tăng khối lượng giao dịch

- Tăng tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán

- Giảm sự biến động

- Cải thiện việc tiếp cận và giảm chi phí vốn

- Cải thiện mối quan hệ với các nhà đầu tư

- Giá cổ phiếu cao hơn

Như vậy, để minh bạch thông tin tài chính thì các công ty niêm yết tăngcường tự nguyện công bố thông tin Tự nguyện công bố tăng sẽ làm giảm thông tinbất cân xứng giữa nhà quản lý và nhà đầu tư, cải thiện tính thanh khoản của cổphiếu làm cho giá cổ phiếu hấp dẫn các nhà đầu tư hơn

Trang 33

Theo Coller và Yohn (1997), Verrecchia (2001), những nhà quản lý cung cấpnhững thông tin công bố tự nguyện để làm giảm thông tin bất cân xứng và chi phívốn.

Brown, Hillegeist và Lo (2004), Trueman (1986), công bố tự nguyện để báohiệu tiềm năng về công ty của họ

Hay Skinner (1994), công bố tự nguyện để giảm chi phí kiện tụng

Các giao dịch nội bộ là một khuyến khích quan trọng cho việc công bố thông

tin kịp thời và công bố tự nguyện, làm tăng tính minh bạch cho thông tin được công

bố, các nghiên cứu sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề này:

- Noe (1999) cho rằng: “Việc cung cấp thông tin kịp thời liên quan đến cácgiao dịch kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp”, cụ thể nhà quản lý sẽ:(1) Bán nhiều cổ phiếu sau khi những tin tốt được công bố kịp thời hơn là

những tiên đoán về tin xấu

(2) Và ngược lại mua nhiều cổ phiếu sau khi những tin xấu được công bốhơn là những tin tốt được đưa ra

Có nghĩa là, người quản lý chọn thời gian khi mà việc kinh doanh của họtăng lên đạt được lợi nhuận cao thì họ sẽ tiếp tục kinh doanh và sẽ công bố

tự nguyện thông tin tài chính

- Nghiên cứu của Qiang Cheng và Kin Lo (2006), cho rằng giữa việc công bốthông tin và giao dịch thương mại, khi các nhà quản lý lập kế hoạch mua cổphiếu, họ gia tăng số lượng các tiên đoán về thông tin xấu để giảm giá mua.Thêm vào đó, mối quan hệ này là đối với các giao dịch được khởi xướng bởicác chuyên gia hàng đầu thì những mối quan hệ này mạnh hơn các giao dịchthương mại được khởi xướng bởi các nhà chuyên gia khác Công bố thôngtin tự nguyện còn liên quan đến việc công ty có thể phải gánh thêm mộtkhoản chi phí kiện tụng Do vậy, hai ông đã đưa ra giả thiết nghiên cứu sau:

“những người trong nội bộ công ty lựa chọn những chính sách công bố mộtcách có chiến lược và lựa chọn thời gian giao dịch về cổ phần của họ để tối

đa hóa lợi nhuận kinh doanh, mục tiêu hướng tới là phí kiện tụng hợp lý vớigiao dịch công bố và giao dịch nội bộ” Nghiên cứu này còn chỉ ra rằngnhững người trong nội bộ khai thác các cơ hội công bố tự nguyện vì lợi ích

Trang 34

cá nhân Nhưng chỉ một cách có lựa chọn, khi các nguy cơ tranh tụng là đủ thấp.

Như vậy, nếu chi phí kiện tụng cao sẽ ngăn cản những nhà quản lý sắp đặt

hoạt động kinh doanh của họ xung quanh những dự báo về quản lý đến phạm vikinh doanh mà theo kinh nghiệm không thể phát hiện và sau đó các giao dịch nội bộ

sẽ không khuyến khích cho công bố thông tin tốt hay xấu Các giao dịch nội bộđược công bố kịp thời, chính xác sẽ làm cho thông tin tài chính công bố minh bạch.Tranh luận trong Dry (2001, p.184), "bất kỳ một tổ chức nào dự tính đưa ramột công bố thông tin thì sẽ công bố những thông tin đó là có lợi cho các tổ chức

đó, và sẽ không công bố những thông tin bất lợi đến tổ chức đó." Có nghĩa là, nhàquản lý chỉ đưa ra việc công bố thông tin khi những công bố như vậy mang lại lợicho cá nhân của họ Ở đây, ông đã đề cập tới mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân củanhà quản lý và việc công bố tự nguyện, đặt lợi ích cá nhân làm trọng tâm

Theo Ron Kaszink (1995, 1996) nghiên cứu về mối quan hệ giữa công bố tự

nguyện thông tin với việc điều tiết thu nhập (Earnings Management) ông cho rằng:

- Thứ nhất, người quản lý đưa ramộtdự báovề thu nhậptrở nênkhông chính

xácthì nó sẽ dẫn đến các bước cố ýđể điều tiết báo cáothu nhậphướng tớicon

số thu nhập dự báo trước đó, vì người quản lý sợmất uy tín đối với việc dựbáo không chính xác này và sợ gặp phải những hành động pháp lý tốn kémcủa nhà đầu tưbất mãn

- Thứ hai, là độ lớn của điều tiết thu nhập thì có liên quan đến độ lớn chi phí

đối với các sai sót trong dự báo về thu nhập Chẳng hạn chi phí kiện tụng của

cổ đông thì nó cao hơn độ lớn của điều tiết thu nhập, nếu nhà quản lý đãđánh giá quá cao về thu nhập và nó càng gia tăng độ lớn của các sai sót trong

dự báo về thu nhập

- Cũng trong nghiên cứu này, nhà quản lý đánh giá quá cao thu nhập sẽ sửdụng tích cực các khoản trích trước tùy ý để điều chỉnh báo cáo thu nhập đilên hướng tới kết quả của các con số đã dự báo trước đó, nhưng lại không

có bằng chứng nào cho thấy những nhà quản lý đánh giá thấp thu nhập đểđiều chỉnh báo cáo thu nhập đi xuống

Trang 35

Lees (1981) và Waymire (1985), kế toán nghiên cứu về việc công bố thông tincủa công ty đã tập trung vào lợi nhuận tiềm năng của các công ty có thể xuất phát từcông bố tự nguyện thông tin, bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng phần lớn củacác tập đoàn công cộng không tiết lộ thu nhập dự báo, vì sợ những hậu quả tốn kémcủa những sai sót trong dự báo thu nhập.

Skinner (1994), các chi phí kiện tụng đối với các cổ đông cáo buộc các nhàquản lý nói dối về tình trạng tài chính thực sự của công ty có thể được dùng nhưmột sản phẩm của hai yếu tố: khả năng rằng các lỗi dự báo sẽ kích hoạt một vụkiện, và các chi phí tiền tệ phát sinh nếu có tranh chấp xảy ra (thường thiệt hại traocho nguyên đơn, chi phí pháp lý vv) Sự khôn ngoan thông thường cho thấy rằngkhả năng kiện tụng của cổ đông là cao hơn khi các nhà quản lý đánh giá quá cao thunhập hơn so với khi họ đánh giá thấp

Tóm lại: Trong mục 1.1.1.2 và mục 1.3.2, chúng tôi đều đề cập tới đặc điểmchất lượng của thông tin tài chính công bố bắt buộc và tự nguyện Tuy nhiên,theoquan điểm của Tổ chức nghiên cứu kế toán Úc và quan điểm của tác giả PankajMadhani (2007), có nhiều điểm tương đồng trong khuôn mẫu lý thuyết của Hộiđồng chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASB) năm 1989 Vào tháng 9 năm 2010, dự ánhội tụ về Khuôn mẫu lý thuyết kế toán giữa IASB và FASB đã hoàn thành, trong đó

có nêu đặc tính chất lượng của báo cáo tài chính bao gồm: thích hợp, thể hiện trung thực, thiếu một trong hai đặc điểm trên tính hữu ích của thông tin bị đe dọa.

Thông tin thích hợp khi nó có thể làm thay đổi quyết định của người sử

dụng Tính thích hợp bao gồm: giá trị dự đoán, trọng yếu, giá trị khẳng định

 Giá trị dự đoán là khả năng giúp dự đoán kết quả cuối cùng của các sựkiện đã vàđang xảy ra Giá trị dự đoán không phải dự đoán tương lai (theo môhình thống kê) Thông tin có giá trị dự đoán giúp người đọc tự đưa ra dự đoáncủa mình

 Giá trị khẳng định là cung cấp phản hồi về những dự đoán trước đó

 Trọng yếu: thông tin trọng yếu khi việc trình bày sai hay bỏ sót ảnh hưởngđến quyết định của người sử dụng thông tin khi dựa trên báo cáo tài chính củamột doanh nghiệp cụ thể Trọng yếu là một khía cạnh của thích hợp

Trang 36

Thể hiện trung thực là báo cáo tài chính phải thể hiện trung thực (cả về số

tiền và diễn giải) hiện tượng kinh tế mà nó thể hiện Thể hiện trung thực bao gồmphản ánh đầy đủ, trung lập và không sai sót

 Phản ánh đầy đủ các thông tin cần thiết cho người đọc hiểu được hiện tượng kinh tế, bao gồm mô tả và giải thích

 Phản ánh trung lập hàm nghĩa không thiên lệch trong lựa chọn hay trình bày thông tin, nhằm hướng người đọc đến một phản ứng định trước

 Phản ánh không sai sót nghĩa là không có sai sót trong mô tả hiện tượng cũng như trong lựa chọn áp dụng các quy trình lập báo cáo tài chính

Ngoài hai đặc điểm chất lượng trên, để tăng cường tính hữu ích của thôngtin, thông tin phải có đặc tính chất lượng sau: có thể so sánh, có thể kiểm tra, kịpthời, có thể hiểu được Cụ thể:

- Tính có thể so sánh được (Comparability)

Báo cáo tài chính chỉ hữu ích khi có thể so sánh với năm trước, với doanh nghiệpkhác Do đó, các nghiệp vụ giống nhau phải được đánh giá và trình bày một cáchnhất quán trong toàn doanh nghiệp, giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp Việcthuyết minh là cần thiết để bảo đảm tính so sánh được

- Có thể kiểm tra (Verifiability)

Có thể kiểm tra giúp đảm bảo cho người sử dụng có được thông tin trung thực đạidiện cho hiện tượng kinh tế Kiểm chứng được có nghĩa rằng sự khác nhau giữakiến thức và quan sát độc lập có thể đạt được sự đồng thuận, mặc dù khôngnhất thiết phải hoàn thành thỏa thuận

- Kịp thời (Timeliness)

Kịp thời có nghĩa là có thông tin có sẵn cho người ra quyết định đúng thời điểm để

có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của mình Nói chung, các thông tin cũ ít hữuích Tuy nhiên, một số thông tin có thể tiếp tục được kịp thời rất lâu sau khi kếtthúc kỳ báo cáo bởi vì, ví dụ, một số người dùng có thể cần xác định và đánhgiá xu ướng

- Tính có thể hiểu được (Understandability)

Người đọc được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và

kế toán và có thiện chí, nỗ lực để đọc báo cáo tài chính Tuy nhiên, thông tin vềmột

Trang 37

vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừ khỏibáo cáo tài chính chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng.

Tổng hợp từ các quan điểm trên và theo quan điểm của chúng tôi thì đặc tính

chất lượng của thông tin tài chính là đầy đủ và kịp thời và thuận tiện của thông tin

Vì thông tin đầy đủ còn thể hiện sự tự nguyện công bố thông tin của doanh nghiệp ngoài thông tin bắt buộc công bố, tính kịp thời sẽ cung cấp thông tin sẵn có cho người sử dụng và thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng qua tính thuận tiện của thông tin

1.4 Những kinh nghiệm quốc tế giải quyết mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và tự nguyện công bố thông tin.

1.4.1 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng khoán

Để đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thịtrường chứng khoán Thượng Hải, Trung Quốc, các tác giả đã xem xét tác động củaquyền sở hữu, cơ chế quản trị doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể của công ty, nhữngnhân tố này được công bố đầy đủ và chính xác sẽ làm tăng tính minh bạch đồngthời tăng tính tự nguyện công bố thông tin.Cơ cấu vốn chủsở hữu vàcơ chế quản trịcông ty bao gồm:

(1) Tập trung quyền sở hữu;

Trang 38

(2) Quyền sở hữu nhà nước và các tổ chức liên quan đến nhà nước;

(3) Quyền sở hữu cá nhân;

(4) Giám đốc điều hànhvà Chủ tịch Hội đồng quản trị;

(5) Hội đồng quản trị độc lập;

(6) Sự tồn tại của một Ủy ban kiểm

toán Các đặc điểm cụ thể của công ty, bao

gồm:

(1) Quy mô doanh nghiệp;

(2) Đòn bẩy tài chính;

(3) Lợi nhuận;

(4) Loại hình công nghiệp

Với việc sử dụng một chỉ số công bố thông tin tương đối đo lường mức độ công bố

thông tin tự nguyện, kết quả của chúng tôi cho thấy rằng quyền sở hữu cá nhân, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, quy mô doanh nghiệp, và đòn bẩy tài chính, bao gồm cả cơ cấu hội đồng quản trị và chức năng, thông tin nhân viên, tiền thù lao của Ban giám đốc, sự hiện diện của một Ủy ban kiểm toán , giao dịch với các bên liên quan, và các bên liên quan có lợi ích đáng kể, các nhân tố trên có ảnh hưởng

đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

1.4.2 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng

1.4.3 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng khoán

New Zealand

New Zealand hiện đang trải qua một môi trường tự do và cạnh tranh kinh tế

đã dẫn đến một sự quan tâm đầu tư nhiều hơn vào chứng khoán của công ty Các

Trang 39

công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán New Zealand (NZSE) đã xây dựngchiến lược để thu hút các nhà đầu tư thông qua tự nguyện tiết lộ thông tin.Đặc điểmcông ty sẽ ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin tự nguyện, 5 đặc điểm cụ thểcông ty đó là: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tài sản tại chỗ, loại hìnhkiểm toán viên, và tình trạng niêm yết trên thị trường nước ngoài.

1.4.4 Kinh nghiệm của các công ty niêm yết trên thị trướng chứng khoán Hoa

Kỳ

Chứng khoán New York, là một trong những thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới Khi các công ty muốn huy động vốn, bán cổ phiếu được giao dịch trên sàn chứng khoán New York Để đảm bảo rằng không có nhà đầu tư có một lợi thế kinhdoanh hơn những người khác, chứng khoán New York có quy tắc, bao gồm cả những nhấn mạnh về công bố thông tin tài chính nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến

cổ phiếu của các nhà đầu tư mua và bán quyết định Ví dụ, nếu ban giám đốc của một công ty biết sắp xảy ra một lời đề nghị mua lại công ty, họ phải tiết lộ những thông tin đó trước khi mua cổ phần trong công ty với tài khoản của mình

Luật Sarbanes-Oxley 2002 được ban hành sau các vụ sụp đổ của Enron, Worldcomlàm thay đổi và cải thiện hoạt động và vai trò của các đối tượng tham gia trongchuỗi cung ứng báo cáo tài chính đồng thời gia tăng sự minh bạch thông tin qua cácquy định về công bố

Ngoài ra, việc tự nguyện công bố thông tin làm minh bạch thông tin tài chínhđược thể hiện qua báo cáo tài chính mẫu 10K, là một báo cáo tốt vì đáp ứng đượcnhu cầu thông tin cần thiết cho người sử dụng Do đó, có 4 thông tin chủ yếu màngười sử dung thông tin quan tâm:

+ Thứ nhất, thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh;

+ Thứ hai, thông tin về tình hình tài chính;

+ Thứ ba, là thông tin liên quan đến giao dịch, sở hữu cổ phiếu của công ty;+ Thứ tư, là những kế hoạch tài chính trong tương lai

Những nội dụng trong bảng báo cáo thường niên 10-K của Hoa Kỳ

Trang 40

Phần I Các thông tin công bố

Mục 1B Bình luận của thành viên không đồng ý kiến

Mục 3 Những vụ kiện pháp lý (Legal Proceedings)

Mục 4 Đệ trình các vấn đề cần biểu quyết của đại hội đồng cổ đôngMục X Giới thiệu các thành viên ban điều hành của công ty

Mục 5 Thị trường cổ phiếu phổ thông có đăng kí, những người có liên

quan của cổ đông và người phát hành mua lại vốn cổ phầnMục 6 Dữ liệu tài chính được lựa chọn

Mục 7 Thảo luận và phân tích của ban quản trị về tình hình tài chính và

kết quả hoạt động kinh doanhMục 7A Định lượng và công bố định lượng về rủi ro thị trường

Mục 8 Các bảng báo cáo tài chính và dữ liệu bổ sung

Mục 9 Những thay đổi và bất đồng với các nhân viên kế toán về việc

công bố các bảng báo cáo tài chính và vấn đề kế toánMục 9A Kiểm soát và các thủ tục

Mục 10 Giám đốc, nhân viên điều hành và thành viên quản lý doanh

nghiệpMục 11 Thưởng cho những thành viên ban quản lý điều hành công tyMục 12 Quyền sở hữu chứng khoán của chủ sở hữu là các tổ chức từ

thiện; của ban quản trị và của người có liên quan của chủ sở hữuMục 13 Những mối quan hệ nhất định và những giao dịch của người có

liên quan và tính độc lập của giám đốcMục 14 Phí và các dịch vụ kế toán

Mục 15 Các kế hoạch tài chính tương lai

Ngày đăng: 18/09/2022, 14:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo kiểm toán... - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng c ân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo kiểm toán (Trang 53)
Bảng 2.3: Thống kê chính sách kế toán của 100 công ty  – Phần Thuyết minh thêm. - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.3 Thống kê chính sách kế toán của 100 công ty – Phần Thuyết minh thêm (Trang 59)
Bảng 2.4: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm tài sản của 100 công - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.4 Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm tài sản của 100 công (Trang 60)
Bảng cân đối kế toán – Nhóm Tài sản - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng c ân đối kế toán – Nhóm Tài sản (Trang 61)
Bảng 2.5: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm tài sản của 100 công ty công bố trong 2 năm - Phần thuyết minh thêm. - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.5 Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm tài sản của 100 công ty công bố trong 2 năm - Phần thuyết minh thêm (Trang 62)
Bảng cân đối kế toán – Nhóm Tài sản – Phần thuyết minh thêm - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng c ân đối kế toán – Nhóm Tài sản – Phần thuyết minh thêm (Trang 62)
Bảng 2.6: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm nợ phải trả và vay của 100 - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.6 Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm nợ phải trả và vay của 100 (Trang 63)
Bảng 2.7: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm nợ phải trả và vay của 100 công ty công bố trong 2 năm – Phần thuyết minh thêm. - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.7 Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm nợ phải trả và vay của 100 công ty công bố trong 2 năm – Phần thuyết minh thêm (Trang 64)
Bảng 2.8: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm vốn chủ sở hữu của 100 công ty - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.8 Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm vốn chủ sở hữu của 100 công ty (Trang 65)
Bảng 2.9: Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm vốn chủ sở hữu của 100 công ty - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.9 Thống kê các đầu mục thông tin về nhóm vốn chủ sở hữu của 100 công ty (Trang 66)
Bảng 2.0: Thống kê các đầu mục thông tin về những thông tin khác của 100 - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.0 Thống kê các đầu mục thông tin về những thông tin khác của 100 (Trang 67)
Bảng 2.11: Thống kê các đầu mục thông tin về những thông tin khác của 100 công - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng 2.11 Thống kê các đầu mục thông tin về những thông tin khác của 100 công (Trang 68)
Bảng phỏng vấn. - Các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết việt nam thông qua sự tư nguyện công bố
Bảng ph ỏng vấn (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w