Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận của nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật quốc tế; Thứ hai, phân tích nguyên tắc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
🙡🙡🙡🙡🙡
TIỂU LUẬN HẾT MÔN “LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ”
ĐỀ TÀI:
NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ, BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN VÀ SỰ THỂ HIỆN CỦA NGUYÊN TẮC TRONG QUY ĐỊNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NĂM 2015
HỌ VÀ TÊN:
MÃ SINH VIÊN:
LỚP:
GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY:
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu 3 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 4 1.1 Khái niệm suy đoán vô tội 4 1.2 Nội dung của suy đoán vô tội 4 CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 6 2.1 Quy định về suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 6 2.2 Thực trạng đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội tại Việt Nam 8 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG THỰC TIỄN TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM 10 KẾT LUẬN 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tố tụng Hình sự là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền tự do, dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là đối với người bị bắt giữ do vi phạm pháp luật Do đó, pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân cho người bị bắt giữ, chống lạm quyền trong Tố tụng Hình sự Năm 1982, khi gia nhập Công ước quốc tế 1966, Việt Nam đã cam kết thực hiện các nguyên tắc của Công ước này, trong đó có nguyên tắc suy đoán
vô tội Nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện quyền con người, quyền cơ bản của mỗi cá nhân, được pháp luật quốc tế công nhận Đến nay, sau những lần sửa đổi, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã ngày càng hoàn thiện hơn các quy định về suy đoán vô tội Tuy nhiên về mặt lý luận, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về suy đoán vô tội,
do đó, việc nghiên cứu về nguyên tắc này là rất cấp thiết
2 Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận của nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật quốc tế;
Thứ hai, phân tích nguyên tắc suy đoán vô tội và các quy định liên quan trong
Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
Thứ ba, nêu một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tiễn
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,… cùng với các nguồn tham khảo như tài liệu chuyên ngành, sách báo, internet…
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ
TỘI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm suy đoán vô tội
Trong lịch sử tư pháp hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội ra đời rất sớm và được coi là bước tiến quan trọng trong nhận thức của con người đối với vấn đề tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình Nguyên tắc suy đoán vô tội lần đầu tiên được thừa nhận và tuyên bố như quyền cơ bản của con người tại Điều 9 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hoà Pháp năm 1789 Tuyên ngôn nêu
rõ: “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội, nếu xét thấy
cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho việc bắt giữ đều bị luật pháp xử phạt nghiêm khắc”1 Trước yêu cầu bảo vệ quyền con người và xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, suy đoán vô tội - một trong những nguyên tắc cơ bản trong luật Tố tụng Hình sự đã được ghi nhận và áp dụng rộng rãi trong nền
tư pháp của nhiều quốc gia văn minh, trong đó có Việt Nam Bộ luật Tố tụng Hình sự
2015, Điều 13 đã quy định suy đoán vô tội là “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”2
1.2 Nội dung của suy đoán vô tội
Qua nghiên cứu, tổng hợp, học viên nhận thấy nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, khi một người bị buộc tội, cần phải đảm bảo người đó
được suy đoán vô tội cho đến khi người đó được chứng minh là có tội theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực
pháp luật Suy đoán vô tội là quyền của người bị buộc tội, dẫn đến trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan buộc tội Tuy nhiên, suy đoán ở đây không biểu hiện ở góc độ tư duy đơn thuần
1Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hoà Pháp năm 1789, Điều 9
2Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Điều 13
Trang 5mà còn phải biểu hiện bằng những hành vi, ứng xử khách quan trong suốt quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố xét xử
Thứ hai, bảo đảm trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc
hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội và đảm bảo bản án kết tội không dựa trên những giả định Một người có thể đã thực hiện tội phạm, nhưng nếu không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi được Luật Hình sự coi là tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người
đó Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền chủ động trong việc khai báo, những gì bất lợi họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Trách nhiệm chứng minh tội phạm lúc này thuộc về các cơ quan điều tra và Tòa án Bản án kết tội được tuyên đối với bị cáo cũng phải bảo đảm tính khách quan, có căn cứ, hợp lý và không thể dựa trên những giả định Bản án kết tội phải dựa trên cơ sở các chứng cứ có trong vụ án làm căn cứ, những chứng cứ này phải được kiểm tra, đánh giá một cách tổng thể và công khai trong quá trình xét xử, dựa trên những thông tin có thật, đã được kiểm chứng mà không dựa trên những thông tin có tính giả định
1.3 Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật quốc tế
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã quy định “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có
đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ”3 Nguyên tắc suy đoán vô tội
còn được ghi nhận trong các công ước quốc tế khác như Công ước châu Âu về nhân quyền 1950, Công ước châu Mỹ về nhân quyền 1969… Có thể thấy, pháp luật các quốc gia trên thế giới đều nhận thức được rằng trong quá trình tố tụng Hình sự luôn có sự bất bình
3 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc, khoản 1, Điều 11
Trang 6đẳng mà ở đó ưu thế thường nghiêng về các cơ quan tố tụng Do đó, suy đoán vô tội có thể coi như là lá chắn bảo vệ cho những người bị buộc tội, tránh việc họ bị các cơ quan tố tụng, điều tra xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Tố tụng Hình sự Liên bang Nga 2006 Theo Điều 14 của Bộ luật
này thì “(1) Người bị buộc tội được coi là không có tội khi tội của
người đó vẫn chưa được chứng minh theo trình tự được quy định bởi
Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga và chưa bị tuyên là có tội bởi một bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; (2) Nghi phạm hoặc bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội Nghĩa vụ chứng minh cho bản luận tội và bác bỏ những lập luận được đưa ra để bào chữa cho nghi phạm, bị can hoặc bị cáo thuộc về bên buộc tội; (3) Tất cả nghi ngờ về việc phạm tội của bị cáo nếu không thể loại bỏ theo thủ tục được thiết lập bởi Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga thì đều được giải thích có lợi cho bị cáo; (4) Một bản án kết tội không thể dựa trên các giả định”4.
Suy đoán vô tội cũng thể hiện trong các quy định của Bộ luật
Tố tụng Hình sự năm 1957, sửa đổi bổ sung năm 2000 của Cộng hòa
Pháp, cụ thể tại Điều 1-P: “Bất kỳ ai bị nghi ngờ hoặc truy tố được suy đoán
vô tội chừng nào chưa chứng minh được tội của họ Việc vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội bị cấm, và phải bị bồi thường, trừng phạt trong các trường hợp luật định”5.
Có thể nhận thấy, tại các quốc gia có nền luật pháp tân tiến, có lịch sử đấu tranh cho nhân quyền lâu đời thì nguyên tắc suy đoán vô tội đều là một trong những nguyên tắc cơ bản, thể hiện tinh thần dân chủ và công bằng trong tố tụng hình sự.
4 Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga 2006, Điều 14
5 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa Pháp năm 1957, sửa đổi bổ sung năm 2000, Điều 1-P
Trang 7CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC
SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015
2.1 Quy định về suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 đã quy định riêng nguyên tắc suy đoán vô tội Điều 13 với tên gọi “Suy đoán vô tội” Theo Bộ luật
tố tụng Hình sự năm 2003, nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 9 với nội hàm là: Không ai bị coi là có tội khi chưa
có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Nên Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 là bộ luật đầu tiên quy định nguyên tắc suy đoán vô tội theo đúng tên gọi của nguyên tắc mà không phải là một nội dung của nguyên tắc được đưa lên thành tên của một điều luật Điều này thể hiện nguyên tắc suy đoán vô tội đã được nhìn nhận đúng với tầm quan trọng của nó
Điều 13 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “Người bị
được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự,
luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền
tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” 6 Như vậy, Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015 đã cụ thể hoá tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định trong Hiến pháp năm 2013
Suy đoán vô tội là một nguyên tắc mang tính xuyên suốt, chi phối các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, cụ thể ở:
6 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Điều 13
Trang 8+ Thời hạn xét xử, được quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, thể hiện tinh thần bảo vệ quyền con người Việc một người bị buộc tội được xét xử đúng thời hạn theo luật định sẽ tránh những áp lực về mặt tâm lý trong quá trình tạm giữ, tạm giam, sớm đưa ra bản án đích đáng để người bị buộc tội sớm chấp hành án phạt, nhanh chóng cải tạo hoặc sớm tuyên vô tội để người bị buộc tội được trắng án, quay lại cuộc sống bình thường
+ Đảm bảo tranh tụng bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, quy định tại Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Kiểm sát viên phải
đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”7 Bên buộc tội phải trình ra các bằng chứng, lý lẽ xác thực mới
có quyền buộc tội bên còn lại, ngược lại bên bào chữa được phép phản bác lại các luận điểm của bên buộc tội và đưa ra các chứng cứ chứng minh vô tội Tất cả quá trình tranh tụng diễn ra bình đẳng và minh bạch, công khai trên cơ sở pháp luật
+ Về trình tự xét hỏi tại phiên tòa, trước đây Bộ luật Tố tụng
Hình sự 2003, Điều 207 quy định “Hội đồng xét xử phải xác định đầy
đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự”8 Tuy nhiên đến Bộ luật năm 2015 thì
quy định trên đã được sửa đổi tại Điều 307 như sau: “Hội đồng xét
xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý”9 Điều này thể
hiện tính công bằng trong quá trình xét hỏi, bên bào chữa hoàn toàn
có thể được hỏi trước, tạo điều kiện đưa ra chứng cứ, lý lẽ gỡ tội, xóa
bỏ đi hình ảnh pháp đình quan liêu nơi người bị buộc tội bị định kiến
là tội nhân, việc tra khảo chỉ nhằm luận tội và đưa ra hình phạt
7 Bộ luật Tố tụng Hình sư 2015, Điều 322
8 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Điều 207
9 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Điều 307
Trang 9Ngoài ra, Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định những hành vi của những người có thẩm quyền trong việc xâm phạm những quyền của người bị buộc tội là tội phạm, trong đó có những hành vi xâm phạm đến nguyên tắc suy đoán vô tội được coi là tội phạm như: Điều
368 “Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội”; Điều 373
“Tội dùng nhục hình”; Điều 374 “Tội bức cung”; Điều 377 “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật”; Điều 375
“Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc”; Điều 370 “Tội ra bản án trái pháp luật”… Đây là những quy định có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc buộc những người tiến hành tố tụng phải tôn trọng
và thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, mọi hành vi vi phạm quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội đều sẽ bị xử lý
2.2 Thực trạng đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội tại Việt Nam
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày
Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, các cơ quan tố tụng đã ngày càng hoàn thiện các chế định luật sư và bổ trợ
tư pháp và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Theo số liệu thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng thì từ khi có Nghị quyết
số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị đến nay, tỷ lệ các vụ
án hình sự bị khởi tố, truy tố, xét xử oan hầu như rất thấp Điều này thể hiện cụ thể trong báo cáo của viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành kiểm sát và báo cáo của chánh án Tòa án nhân dân tối cao trước Quốc hội (kỳ họp thứ 11) về công tác của ngành tòa án nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-2021)
Cụ thể, theo Báo cáo về công tác của ngành kiểm sát thì nhiệm
kỳ qua, “Viện Kiểm sát đã ra quyết định hủy hơn 700 quyết định
không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố vụ án thiếu căn cứ pháp luật Viện kiểm sát cũng đã quyết định không phê chuẩn hàng nghìn lệnh,
Trang 10quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật của cơ quan điều tra.
Cụ thể gồm: 600 lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (tăng gần 20% so với nhiệm kỳ trước); 800 quyết định gia hạn tạm giữ, tăng gần 70%; 1.300 lệnh tạm giam, tăng gần 40%; 1.100 lệnh bắt bị can để tạm giam, tăng gần 50% Mặt khác, viện kiểm sát đã trực tiếp ra quyết định hủy bỏ gần 3.000 quyết định tạm giữ và yêu cầu cơ quan điều tra bắt tạm giam hơn 300 bị can theo đúng các quy định”10
Trong kỳ họp Quốc hội thứ 11, theo báo cáo của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình “Các Tòa án đã làm tốt và đẩy
mạnh tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, thực hiện nghiêm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Tòa án nhân dân tối cao đã biên soạn giáo trình và tổ chức nhiều khóa bồi dưỡng, tập huấn, hội thảo về kỹ năng tổ chức tranh tụng tại phiên tòa Nhiều Tòa án địa phương đã chủ động xây dựng quy chế, chương trình phối hợp với Viện kiểm sát cùng cấp tổ chức các “Phiên tòa mẫu”, “Phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm” Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 02 Thông tư quy định về phòng xử án và Quy chế tổ chức phiên tòa Việc tổ chức phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp đã thể hiện sự trang nghiêm, bình đẳng giữa các bên, tạo tâm lý thuận lợi cho luật sư khi tranh tụng” 11
“Các Tòa án đã thụ lý 2.433.631 vụ việc, đã giải quyết được 2.375.983 vụ việc, đạt tỷ lệ 97,6% (so với nhiệm kỳ trước, thụ lý tăng 624.551 vụ việc, đã giải quyết tăng 594.573 vụ việc) Chất lượng xét xử tiếp tục được bảo đảm và có nhiều tiến bộ Tỷ lệ bản
10 Bài đăng trên báo Tuổi trẻ 25/3/2021, tác giả Tiến Long - Ngọc Hiển https://tuoitre.vn/bao-cao-cua-toa-an-vien-kiem-sat-an-oan-giam-dan-theo-tung-nam-20210325101324694.htm
11 Bài đăng trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam 06/11/2020 https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=49691