Chương 7 PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH Mục tiêu chương 7 • Thảo luận về rủi ro tài chính và phân loại rủi ro tài chính • Nhận diện mục đích, ỷ nghĩa và nội dung phân tích rủi ro tài chỉnh • Xác định nội.
Trang 1Chương 7
Mục tiêu chương 7
• Thảo luận về rủi ro tài chính và phân loại rủi ro tài chính.
• Nhận diện mục đích, ỷ nghĩa và nội dung phân tích rủi ro tài chỉnh.
• Xác định nội dung và cách thức phân tích rủi ro tài chỉnh.
• Nắm vừng cách thức vận dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích thích hợp trong phân tích rủi ro tài chính.
7.1 Tổng quan về rủi ro tài chính và ý nghĩa, nội dung phân tích
7.1.1 Rủi ro tài chính
Rủi ro là sự không chắc chắn mà trong đó xác suất xảy ra các chênh lệch thực tế so với
kỳ vọng được lượng hóa nhờ vào khoa học thống kê Rủi ro tài chính257 là mộthình thức rất phổ biến của rủi ro và luôn luôn thường trực trong mỗi hoạt động của bất kỳ một DN nàokinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Theo Li (2003), rủi ro tài chính gắn liền với tính bất ổntrong tình hình tài chính của DN gây ra bởi sự biến động của các yếu tố khách quan trên thịtrườngnhư tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa và chứng khoán Omộtcách tiếp cận khác, nhiều nhà nghiên cứuđịnh nghĩa rủi ro tài chính như là khả năng mà dòng tiền của DN không đủ
chi trả các khoản nợ đến hạn và các nghĩa vụ tài chính khác (Lưu Thị Hương; Vũ Duy Hào,
2007; Zhe, 2012) Nói cách khác, mức độ rủi ro tài chính gắn liền với các quyết định bên
trong DN liên quan đến cơ cấu tài trợ, theo đó nợ càng nhiều, rủi ro tài chính càng cao
257 Financial Risk.
258 Financial Distress Thuật ngữ này còn được gọi là kiệt giá tài chính, khánh kiệt tài chỉnh hay kiệt quệ tài chinh (TG).
Một cách tổng quát, rủi ro tài chính có thể chiathành 2 loại:
- Rủi ro giảm giá tài chính 258 '.
Rủi ro giảm giá tài chính phản ánh những tình huống không chắc chắc về mặt tổn thất
có thể xảy ra với dòng tiền và lợi nhuận của DN, gây nên bởi sự biến động của các yếu tố
giá thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán, Nhà phân tích thông
qua việc tính toán sự khác biệt giữa giá trị thực tế so với kỳ vọng của các đối tượng bị ảnh
hưởng bởi rủi ro, kết hợp với phân tích độ nhạy củacác chênh lệch này so với độ biến thiêncủa các yếu tố giá thị trường để đo mức độ tác động củacác rủi ro kiệt giá tài chính
- Rủi ro từ các quyết định tài chỉnh bên trong DN:
Rủi ro từ các quyết định tài chính bên trong DN phản ánh sự không chắc chắc về mặt
tổn thất xảy đến với lợi nhuận DN do chịu sự tác động trực tiếp từ các quyết định tài chính
bao gồm quyết định đầu tư (sử dụng ngân sách vốn để đầutư tài sản nào, lựa chọn cơ cấu tài
sản ngắn hạn và dài hạn), quyết định tài trợ (huy động vốn từ nguồn nào để cung cấp chođầu tư, lựa chọn cơ cấu nợ và VCSH), và quyết định phân phối lợi nhuận (lợi nhuận được phân chia như thế nào, lựa chọn cơ cấu chi cổ tức và giữ lại để tái đầu tư)
Trang 2Xét theo góc độ tác động, do nằmngoài tầm kiểm soátcủa DN nên rủi ro giảm giá tài chính được xem như là rủi ro hệ thống vì tự bản thân nó bị ảnh hưởng bởi các điều kiện thịtrường tác động gần như giống nhau đến tất cả các DN trong cùng một ngành, hoặc đến nhiều ngành, hoặc thậm chí đến toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù chịu
chung ảnh hưởng biến động của các yếu tố thị trường, một sổ DN vẫn có tình hình tài chính
ỉành mạnh, thậm chí vượt trội, trong khi số khác trong cùng ngành lại có tình hình tài chính đáng báo động, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng phá sản Sự khác biệt về thành quả này đến từ sự khác biệt về hiệu quả của các quyết định tài chính bên trong mỗi DN Ví dụ như
vào năm 2011, khi mà mặt bằng lãi suất chung tăng khá cao, trong khi các DN thuộc ngành
vận tải vẫn duy trì hoạtđộng khá ổn định, Tập đoàn Mai Linh lại chịu ảnh hưởng rất lớn từ yếu tố lãi suất Nguyên nhân là vì cơ cấu nợ của Tập đoàn khá lớn - tổng nợ lên tới 4.703 tỷ đồng, gấp khoảng hơn 10 lần so với VCSH (xấp xỉ 505 tỷ đồng) tại thời điểm 31/12/2011
(Vietstock, 2012) - dẫn đến việc Mai Linh phải bán bớttài sản và bất động sản để giải quyếtcơn khủng hoảngnợ vay xảyđến trong năm 2012 Có thể khẳng định, chính cơ cấu nợ khôngphù hợp trong quyết định tài trợ của Mai Linh đã làm khuếch đại rủi ro từ yếu tố thị trường
là lãi suất, từ đó dẫn đến các rủi ro lớn hơn liên quan đến tính thanh khoản, khả năng thanh
toán và nguy cơ phá sản
Như vậy, rủi ro tài chính là những rủi ro liên quan đến tình trạng tài chính của DN dotác động của các yếu tố bên ngoài (kiệt giá tài chính) lẫn các yếu tố bên trong (các quyết định tài chính của DN) Sự biến động của các yếu tố rủi ro kể trên đã tác động tạo nên sự
không chắcchắn trong việc đạt được các mục tiêu tài chính, tạo nên sự khác biệt giữa dòng tiền thực tế so với kỳ vọng, từ đó gây ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi, mức độ an ninh tàichính, và sau cùng là giá trị của DN
7.1.2 Ỷ nghĩa và nội dung phân tích
Trong quá trình HĐKD, DN thường xuyên phải đối đầu với rủi ro nói chung và rủi rotài chính nói riêng Rủi ro tài chính là điều không thể tránh khỏi và DN dám chấp nhận rủi
ro tài chính mới có thể nhận được sự tưởng thưởng xứng đáng về lợi nhuận Do đó, mục tiêu
của phân tích rủi ro tài chính không phải là để né tránh rủi ro mà để giúp người sử dụng
thông tin nhận diện, đánh giá và được cảnh báo về các rủi ro tiềm tàng gây ảnh hưởng đến
tình hình tài chính của DN, từ đó có quyết định chính xác trong việc đánh đổi giữa rủi ro và
tỷ suấtsinh lợi, có sựkiểm soát và quản trị rủi romộtcách hợp lý và hiệu quả Chính vì vậy,
phân tích rủi ro tài chính là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với các bên sửdụng thông tin, tiêu biểu trong đó bao gồm:
- Đoi với DN: Phân tích rủi ro tài chính giúp DN có một cái nhìn chính xác và đầy đủ
về tình hình tài chính, nhận diện được các rủi ro tiềm tàng từ đó đưa ra được các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp nhằm tránh rơi vào tình trạng đầu tư lệch lạc, đồng thời cũng tránh
bỏ sót các cơ hội tăng trưởng và đầu tư vào các dự án hấp dẫn mà những dự án nàytính trên
tổng thể sẽ tốt hơn cho chính DN, cho xã hội và cho cả nền kinh tế
- Đoi với nhà đầu tư\ Nhà đầu tư là người giao vốn của mình cho DN sử dụng, được
hưởng lợi cũng như chịu rủi ro cùng với DN nên phân tích rủi ro tài chính giúp nhà đầu tư
xác định được đâu là môi trường đầu tư hấp dẫn, mang lại lợi ích lớn nhất với mức rủi ro
Trang 3chấp nhận được Theo đó, nhà đầu tư sẽ yên tâm về khả năng bảo toàn vốn cũng như sinh
lợi từ nguồn vốn đầu tư của mình
- Đổi với chủ nợ- Khác với nhà đầu tư, chủ nợ được cam kết sẽ nhận về các khoản
hoàn trả vốn gốc và các khoản thanh toán lãi vay cố định cho dù DN kinh doanh hiệu quả
hay không Vì vậy, rủi ro lớn nhất mà chủ nợ gặp phải là DN không thể thanh toán các khoản
nợđầy đủ và đúng hạn Thông qua việc phân tích rủi ro tài chính của DN, các chủ nợ sẽ biếtđược DN có đang vay nhiều quá hay không, có đang duy trì tỷ lệ nợ vay trong hạn mức cho
phép hay không, có mức độ an toàn tài chính hay mức độ thanh khoản như thế nào để đưa
ra quyết định cho vay hay không, cho vay bao nhiêu, và ấn định mức lãi suất như thế nào để
tương ứng với mức độ rủi ro của khoản vay, đồng thời đảm bảo được khả năng thu hồi vốn
Do rủi ro tài chính là những rủi ro có liên quan đến sự giảmgiá tài chính vànhùng rủi
ro từviệc thực hiện các quyếtđịnh tài chính của DN dẫn đến sựkhác biệt giữa doanh thu và
lợi nhuận thực tế so với kỳ vọng của DN nên đòi hỏi các nhà quản trị DN phải thường xuyên
xem xét, đánh giá nguy cơ và khả năng xuất hiện cùng với mức độ nguy hại của các rủi ro
nhằm kiểm soát và quản trị rủi ro để sao cho DN không bị lâm vào tình trạng suy thoái, mất khả năng thanh toán mà có thể chủ động ứng phó với các tình huống xảy ra Vì thế, phântích rủi ro tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin những dấu hiệu cảnh báo đối
với một số rủi ro tài chính cả ở nhóm kiệt giá tài chính và nhóm liên quan đến các quyết địnhtài chính của DN, các nhân tổ tác độngđến từng loại rủi ro cũng như xu hướng và nhịp điệu biến động của rủi ro theo thời gian Trên cơ sở đó, DN có thể tiến hành dự báo và có biệnpháp quản trị rủi ro cho phù hợp
Cụ thể các nội dung phân tích rủi ro tài chính bao gồm:
Phân tích rủi ro tỷ giá
Phân tích rủi ro sử dụng đòn bẩy tài chính
Phân tích rủi ro khả năng sinh lợi
Phân tích rủi ro thu hồi nợ
Phân tích rủi ro thanh toán nợ
Phân tích rủi ro dòng tiền
Phân tích rủi ro phá sản
Các công cụ cơ bản được sử dụng là biểu đồ và so sánh, kết hợp với các kỹ thuật sosánh bằng số tuyệt đối (để đánh giá quy mô biến động rủi ro), so sánh bằng số tương đối giản đơn (để đánh giá tốc độ biến độngrủi ro), sosánh bằngsổ tương đối độngthái (để đánhgiá xu hướng tăng trưởng của rủi ro) và so sánh bằng số tương đối liên hoàn (để đánh giánhịp điệu tăng trưởng rủi ro) Các công cụ và kỹ thuật phân tích được áp dụng linh hoạtdựa
trên đặc trưng của từng nội dung rủi ro
Trang 47.2 Phân tích rủi ro tài chính
7.2.1 Phân tích rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá thuộc về rủi ro kiệt giá tài chính, xảy ra khi các biến động về tỷ giá gây ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến thu nhập kỳ vọng, cũng như tạo nên sự bất ổn trong các kết quả tài chính của DN Rủi ro tỷ giá có nguồn gốc từ việc DN phát sinh các hoạt động mua bán, trao đổi, thanh toán các giao dịch kinh tế bằng ngoại tệ trong kỳ hay do đánh giá
lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập BCTC hoặc chuyển đổi BCTCđược lập bàng ngoại tệ sang VND Đến thời điểm thanh toán các khoản nợ phải thu, nợ phải trả bằng ngoại tệ hay thời điểm đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, nếu tỷ
giá ngoại tệ/VND giảm, DN sẽ ghi nhận một khoản chênh lệch có lợi từ các khoản phải trả
bàng ngoại tệ và một khoản chênh lệch bất lợi từcác khoản phải thu hay tiền bàng ngoại tệ.Ngược lại, nếu đến thời điểm thanh toán các khoản nợ phải thu, nợ phải trả bằng ngoại tệ
hay thời điểm đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, nếu tỷ giá ngoại tệ/VNDtăng, DN sẽ ghi nhận một khoản chênh lệch bất lợi từ các khoản phải trả bằng ngoại tệ và một khoản chênh lệch có lợi từ các khoản phải thu hay tiền bàng ngoại tệ Khoản chênh lệch bất lợi/có lợi giữa các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ sẽ giải thích cho khả năng xảy rarủi ro tỷ giá trong tương lai và phản ánh bản chất của trạng thái ngoại tệ ròng259 (NEP) củaDN
Tổngtrạng thái ngoại tệ ròngcủa ngoại tệ là khoản chênh lệch giữa các khoản mục tài
sản với các khoản mục nợ phải trả có gốc ngoại tệ tại một thời điểm và được tính theo công
NEPi = Tống tài sản bằng ngoại tệ i Tổng nợ phải trả bằng ngoại tệ i [7.2]
Các dữ liệu dùng để tính NEP được thu thập trên BTMBCTC, mục “Quản lýrủi ro tàichính” (nếu có) hoặc từ các sổ kế toán chi tiết liên quan
- Nếu NEPi = 0, giữa tổng tài sản và nợ phải trả bàng ngoại tệ i có sự cân bằng Trong
trường hợp này sự biến độngcủa ngoại tệ i không gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của
DN, và dođó không có khả năng xuất hiện rủi rotỷgiá liên quan đến ngoại tệ i tại thời điểmphân tích
- NếuNEPi ì 0: DN có khả năng đối diện với rủi ro khi giá ngoại tệ i thay đổi, cụ thểlà:
- Nếu NEPi > 0: DN ở trạng thái bán ròng trên thị trường ngoại hối Do đó, khi ngoại
tệ i tăng giá, DN sẽ ghi nhận một khoản lãi tỷ giá hối đoái Ngược lại, khi ngoại tệ i giảm
giá, DN sẽ ghi nhận một khoản lỗ tỷ giá hối đoái
Trang 5- Neu NEPi < 0: DN ở trạng thái muaròng trên thị trườngngoại hối Do đó, khi ngoại
tệ i tăng giá, DN sẽ ghi nhận một khoản lỗ tỷ giá hối đoái Ngược lại, khi ngoại tệ i giảm giá,
DN sẽ ghi nhận một khoản lãi tỷ giá hối đoái
Trị tuyệt đối của chỉ tiêu NEPi càng lớn, khả năng DN chịu ton thấttừ biến động tỷ giá
liên quan đến ngoại tệ i càng cao Trên cơ sở tính toán trị tuyệt đối chỉ tiêu NEP cho từng
ngoại tệvà so sánh trị số này giữa kỳ phân tích và kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối
giản đơn, nhà phân tích có thể đánh giá quy mô và tốc độ biển động trong khả năng chịu tốn
thất từ rủi ro tỷ giá ứng với từng ngoại tệ, từ đó đưa ra các cảnh báo giúp nhà quản trị có những điều chỉnh kịp thời và thích hợp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tỷ giá
Biến động tỷ giá có thể gây ảnh hưởng đến cả những DN không phát sinh bất cứdòng
tiền bằng ngoại tệ nào thông qua việc tác động gián tiếp đến lợi thế cạnh tranh của DN ở
khía cạnh chi phí hoặc doanh thu, hoặc cả hai (đây được gọi là rủi ro kinh tế của biến động
tỷ giá) Ví dụ như một DN chỉ kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng trong nước và không phát
sinh thu, chi ngoại tệ nhưng khi tỷ giá JYP/VND giảm, tương đương với việc đồng JYP sẽ
rẻ hơn trong mắt người Việt Nam và họ sẽ có xu hướng chuyển sang du lịch Nhật Bản vớichi phí rẻ hơn Lúc này, DN đứng trước rủi ro mất đi lượng khách hàng nội địa, dẫn đến sụt
giảm doanh thu do sự giảm giá của đồng JYP Tổn thất gây ra bởi rủi ro kinh tế không được thể hiện trực tiếp trong các BCTC của DN mà thường nằm trong các báo cáo quản trị đặc
thù dành cho nhà quản lý Do đó rủi ro gián tiếp từ biến động tỷ giá không nằm trong phạm
vi phân tích của giáo trình này
Với những DN có phát sinh các dòng tiền bằng ngoại tệ, tác động của rủi ro tỷ giá sẽđược phản ánh trên các BCTC của DN Khi các nền kinh tế tăng cường mở cửa và hội nhập, hoạt động sản xuất kinh doanh cũng ngày càng được mở rộng xuyên biên giới thì ảnh hưởng
của biến động tỷ giá ngày càng trở nên khó lường Một khi rủi ro tỷ giá xảy ra, mức độ tácđộng có thể rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến các kết quả tài chính của DN Chính vì vậy, việc nhận diện, phân tích và đánh giá rủi ro tỷ giá trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Nó làbước đầu tiên và là nền tảng để phát triển các chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá như một
phần thiết yếu trong hệ thốngquản trị rủi ro chung của DN Việc phân tích hướng đến trả lời các câu hỏi sau:
1 Mức độ tác động của rủi ro tỷ giá đến lợi nhuận của DN trong kỳ phân tích? Mức
độ tácđộng này biến động như thế nào theo thời gian?
2 Cảnh báo về khả năng chịu tổn thấttừ rủi ro tỷ giá trong tương lai? Tình hình biến
động trong khả năng chịu tổn thất từ rủi ro tỷ giá?
Phân tích rủi ro tỷ giá bao gồm các bước sau:
- Đảnh giá khái quát mức độ rủi ro tỷ giá:
Ảnh hưởng của biếnđộng tỷ giá hối đoái đến kết quả HĐKD của DN được phản ánh
trên BCKQHĐKD thông qua chỉ tiêu “Doanh thu hoạt động tài chính” nếu trong kỳ ghi nhận
một khoản lãi do chênh lệch tỷ giá và qua chỉ tiêu “Chi phí tài chính” nếu trongkỳ ghi nhậnmột khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá Chi tiết các khoản lãi hoặc lỗ này được đề cập trong BTMBCTC, mục “Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong BCKQHĐKD”
Khi đánh giá khái quát mức độ rủi ro tỷ giá, nhà phân tích tiến hành tính ra và so sánh chỉ
Trang 6tiêu “Lãi/Lỗ thuần về chênh lệch tỷ giá” giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và
sổ tương đối đe thấy được mức độ biến động của rủi ro tỷ giá cả về quy mô và tốc độ Qua
đó, đưa ra nhận định về mức độ rủi ro tỷ giá của DN số lỗ từ chênh lệch tỷ giá hối đoái và
tốc độ biến động càng cao, mức độ rủi ro tỷ giá hối đoái càng cao và ngược lại
Trongđó, lãi/lỗ do chênh lệchtỷgiá hối đoái đã thực hiện phát sinhtừ thực tế trao đổi,
mua bán, thanh toán bằng ngoại tệ trong kỳ, còn lãi/lỗ do chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa
thực hiện phát sinh từ việc đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập BCTC
Trị số và tình hình biến động của các chỉ tiêu [7.3], [7.4], [7.5] sẽ cung cấp thông tin
về mức độ rủi ro tỷ giá đối với DN là cao hay thấp, theo hướng tích cực (giảm rủi ro) hay tiêu cực (tăng mức rủi ro) Ngoài ra, khi đánh giá khái quát mức độ rủi ro, nhà phân tích
cũng có thể sử dụng kết hợp với chỉ tiêu “Tổng trạng thái ngoại tệ ròng” để đánh giá
- Xem xét nguyên nhân tác động đến rủi ro tỷ giá:
Căn cứ vào cách xác định các chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro tỷ giá, các nhà phân tích
sẽ tiến hành xem xét nhân tố và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của
từng chỉ tiêu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc Chỉ tiêu “Lãi/Lỗ thuần do chênh lệch tỷ giá”
chịu ảnhhưởng củacác nhân to cấu thành sau:
+ Lãi/Lỗ thuần do chênh lệch tỷ giá đã thực hiện: Bộ phận này chịu tác động của sốlãi chênh lệch tỷ giá so với số lỗ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện
+ Lãi/Lỗ thuần do chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện: Bộ phận này chịu tác động của
số lãi chênh lệch tỷ giá so với số lồ chênh lệchtỷ giá chưa thực hiện
Số lãi thuần do chênh lệch tỷ giá đã thực hiện và chưa thực hiện có quan hệ cùng chiều
với số lãi thuần do chênh lệch tỷ giá, còn số lồ thuần do chênh lệch tỷ giá đã thực hiện và chưa thực hiệncó quan hệ cùng chiều với số lỗ thuần do chênh lệch tỷ giá Mức chênh lệch
giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của từng nhân tố chính là ảnh hưởng của từng nhân tố đến
chỉ tiêu “Lãi/Lỗ thuần do chênh lệch tỷ giá”
Chỉ tiêu “Tổng trạng thái ngoại tệ ròng” lại chịu ảnh hưởng của trạng thái ngoại tệ ròng theo từng loại ngoại tệ; trongđó, trạng thái ngoại tệròng của từng loại ngoại tệ chịu tácđộng của 2 nhân tổ: tổng tài sản theo từng loại ngoại tệ và tổng nợ phải trả theo từng loạingoại tệ Nhân tố “Tổng tài sản theo từng loại ngoại tệ” có quan hệ cùng chiều với “Tổng trạng thái ngoại tệ ròng”, còn “Tổng nợ phải trả theo từng loại ngoại tệ” lại có quan hệ ngược
chiều với “Tổng trạng thái ngoại tệ ròng” Mức chênh lệch giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc
Trang 7của từng nhân tố chính là ảnh hưởng củatừng nhân tố đến chỉ tiêu “Tổng trạng thái ngoại tệròng”.
Trên cơsởtrị số của từng chỉ tiêu vàkết quả so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc theo
từng chỉ tiêu, các nhà phân tích sẽ rút ra nhận xét về mức độ rủi ro và xu hướng rủi ro tỷ giá
của DN Từ đó, sẽ đề xuất các kiến nghị và giải pháp phù hợp đế hạn chế tác động của rủi
ro do tỷ giá có thể gây ra cho DN
Để thuận tiện cho việc phân tích rủi ro tỷ giá, khi phân tích có thể lập bảng sau:
Bảng 7.1- Phân tích rủi ro tỷ giá
Chỉ tiêu
Năm trước (VND)
Năm nay (VND)
Chênh lệch năm nay so vói
năm trước
Số tiền (VND) Tỷ lệ (%)
1 Lãi/Lỗ thuần do chênh lệch tỷ giá
1.1- Lãi/Lỗ thuần do chênh lệch tỷ giá
đã thực hiện
- Lài chênh lệch tỷ giá đã thực hiện
- Lỗ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện
1.2- Lãi/LỖ thuần do chênh lệch tỷ giá
chưa thực hiện
- Lãi chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện
- Lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện
2 Trạng thái ngoại tệ ròng
2.1- Ngoại tệ X
2.2- Ngoại tệ Y
7.2.2 Phăn tích rủi ro sử dụng đòn bẩy tài chỉnh
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để có thể tăng trưởng và phát triển,
DN cần phải không ngừng đầu tư mới vào các tài sản của mình Và để đảm bảo nguồn tàitrợ cho các khoản đầu tư này, bôn cạnh VCSH, DN sẽ sử dụng đến nợ phải trả: ví dụ như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu DN, thuê tài chính, phát hành cổ phiếu ưu đài260, Dù
có hình thứcbiểu hiện khác nhau nhưng các nguồn nợ vay này đều làm phát sinh các chi phí tài chính cố định bất kể tình hình hoạt động của DN tốt hay xấu Việc sử dụng các khoản nợ vay kể trên trongcấutrúc vốn được xem là DN đang sử dụng đòn bấy tàichính, về bản chất,
đòn bẩy tài chính phản ánh mối quan hệ giữa nợ phải trả với VCSH, thể hiện chính sách sử
260 Cổ phiếu ưu đãi (PD - preferred dividend) vừa có thể là VCSH lại vừa cỏ thể là nợ phái trà Neu DNphát hành không có
nghía vụ phải mua lại cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu ưu đãi thuộc VCSH; còn nếu DN phát hành bắt buộc phải mua lại cổ phiếu
ưu đãi tại một thời điểm xác định trong tương lai (đã ghi rõ trong hồ sơ phát hành cổ phiếu), cổ phiếu ưu đãi thuộc nợ phải trả Do vậy, trong trường hợp này cổ phiếu ưu đãi là một bộ phận của đòn bây tài chính cùa DN.
Trang 8dụng nợ phải trả củaDN và có quan hệ cùng chiều với nợ phải trả Đònbẩy tài chính sẽ tăng
khi nợ phải trả tăng và ngược lại, đòn bẩy tài chính sẽ giảm khi nợ phải trả giảm
Trên thực tế, bên cạnh mục đích bù đắp sự thiếu hụt về vốn kinh doanh, nhiều DN ưa chuộng sử dụng đòn bẩy tài chính vì hai nguyên nhân quan trọng khác, đó là: (1) lãi vay là
một khoản chi phí hợp lý và được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế của DN, từ đó làm giảm
tiền thuế TNDN phải nộp và gia tăng giá trị cho chủ sở hữu DN; (2) nợ vay nếu được sử
dụng một cách hiệu quả sẽ có tác dụng gia tăng tỷsuất sinh lợi trênVCSH và khuếchđại thu nhập cho cổ đông Như vậy, chỉ với việc sử dụng cấu trúc vốn có nợ vay, DN có thể tạo ra được nhiều giá trị horn cho cổ đông, và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính càng lớn, khả năng
khuếch đại lợi nhuận càng cao
Tuy nhiên, bất kỳ lợi ích nào cũng đều đi kèm với rủi ro, và việc sử dụng đòn bẩy tài
chính cũng không ngoại lệ Khi hoạt động sản xuất kinh doanh không tạo ra được mức lợi
nhuận trước thuế và lãi vay đủ bù đắp chi phí lãi vay, việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ trở thành gánh nặng cho DN Lúc này, không những không tạo ra được thu nhập tăng thêm cho
chủ sởhữu, đòn bẩy tài chính còn khiến DN có thể phải sử dụng đến VCSH để thanh toán
cho các khoản nợ vay Thậm chí trong trường hợp thua lỗ nặng nề, VCSH không đủ thanh
toán cho các khoản nợ, DN có thể phải đi vay nợ mới để thanh toán nợ cũ dẫn đếntình trạng
nợ chồng nợ, và dễ dàng đẩy DN vào tình trạng mất khả năng thanh toán và đi đến phá sản
Sử dụng đòn bẩy tài chính chính là “con dao hai lưỡi” đối với các DN Đòn bẩy tài
chính càng cao, càng khuếch đại lợi nhuận (một sự gia tăng nhỏ trong lợi nhuận trước thuế
và lãi vay có thể tạo nên một gia tăng lớn trong thu nhập dành cho cổ đông) và cả những tổn
thất (một sự giảm sút nhỏ trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay có thể tạo nên một sự giảm sút lớn trong thu nhập dành cho cổ đông)
Như vậy có thể thấy, các quyết định tài trợ có sử dụng nợ phải trả liên quan trực tiếp đến lợi nhuận sau cùng dành cho chủ sởhữu cũng như mức độ an ninh tài chính và khả năng
hoạt động liên tục của DN Chính vì vậy, các bên sửdụng thông tin sẽ cần đến phân tích rủi
ro về sử dụng đòn bấy tài chính để trả lời cho các câu hỏi sau:
1 Có hay không rủi ro khi DN sử dụng đòn bẩy tài chính? Khả năng xuất hiện rủi ro
là cao hay thấp, biến động với quy mô và tốc độ như thế nào?
2 Xu hướng và nhịp điệubiến động trong khả năng xuất hiện rủi rođòn bẩy tài chính?
3 Mức độ tác động đến lợi nhuận của DN khi xảy ra rủi ro là lớn hay nhỏ? Mức độtác động này thay đổi như thế nào theothời gian?
4 DN có đang sử dụng nợ phải trả của mình một cách hiệu quả để gia tăng lợi nhuận
DN hayđang khuếch đại các tổn thất?
Phân tích rủi ro về sử dụng đòn bẩy tài chính được tiến hành qua các bước sau:
- Đánh giá khải quát mức độ rủi ro do sử dụng đòn bẩy tài chinh:
Chỉ cần có sử dụng nợ trong trong cấu trúc vốn là DN đã có tồn tại rủi ro đòn bẩy tài
chính Như vậy, chỉ tiêu “Đùn bẩy tài chính” thường được các nhà phân tích sử dụng để đánh
giá khái quát mức độ rủi ro về sử dụngđòn bẩy tài chính nhằm làm rõ có tồn tại hay không
Trang 9rủi ro dosử dụng đòn bẩy tài chính và xu hướng củarủi ro do sử dụngđòn bẩy tài chínhtheothời gian.
Đòn bẩy tài chính của DN có thể được xác định theo một trong các mối quan hệ sau đây:
+ Theo mối quan hệ giữa nợvà tổng nguồn vốn, đòn bẩy tài chính được xác định theo
công thức sau:
Đòn bẩy tài chinh
Nợ phải trả Tổng nguồn vốn
Dữ liệu phục vụ cho việc tính toán chỉ tiêu “Đòn bẩy tài chính” được thu thập từ các
BCTC liên quan, trong đó các chỉ tiêu “VCSH”, “Nợ phải trả”, “Tổng nguồn vốn” đã đượcgiới thiệu từ các chương trước Khi phân tích rủi ro đòn bẩy tài chính, các nhà phân tích có thể sử dụng bất kỳ cách tính nào trong ba cách tính đòn bẩy tài chính nói trên
Neu áp dụng công thức [7.7], đòn bẩy tài chính có thể có các trị số sau:
+ Khi đòn bẩy tài chính = 0: DN tài trợhoàn toàn bằng VCSH và không có khả năng
xuất hiện rủi ro đòn bẩytài chính
+ Khi đòn bẩy tài chính > 0: DN bắt đầu sử dụng nợ phải trả bên cạnh VCSH để tài
trợ cho tài sản của mình Trị sổ này càng lớn hơn không (0), tỷtrọng nợ phải trả ngày càng tăng so với VCSH và khả năng xuất hiện rủi ro đòn bẩy tài chính cũng ngày càng cao Tuy nhiên để đánh giá mức độ cảnh báo rủi ro trong trường hợp này, cũng cần xem xét trong tương quan với trung bình ngành hoặc với đối thủ cạnh tranh để có nhận xét chính xác hombởi vì việc sử dụng đòn bẩy tài chính chịu ảnh hưởng rất lớn từ đặc trưng của ngành nghề
hoạt động
+ Khi đòn bẩy tài chính < 0: Tương đương với việc VCSH của DN bị “âm” Trường
hợp này xảy ra khi các khoản lồ lũy ke lớn hơn tổng VCSH và DN phải sử dụng nợ vayđể
bù lồ Đây là mức cảnh báo đặc biệt nghiêm trọng về khả năng xuất hiện rủi ro đòn bẩy tàichính
Nếu áp dụng công thức [7.6], đòn bẩy tài chính có thể có các trị số sau:
+ Khi đòn bẩytài chính = 0: Tương đương với việc DN tài trợ hoàn toàn bằng VCSH
và không có rủi ro trong việc sửdụng đòn bẩy tài chính
Trang 10+ Khi 0 <đòn bẩytài chính < 1: DN bắt đầu sử dụng nợ vayđể tài trợ cho tài sản củamình Trị số này càng tiến về một (1), tỷ trọng nợ vay ngày càng tăng so với VCSH và khả năng xuất hiệnrủi ro đòn bẩy tài chính cũng ngày càng cao Tuy nhiên để đánh giá mức độ
cảnh báo rủi ro trong trường hợp này, cũng cần xem xét trong tương quan với trung bìnhngành hoặc với đối thủ cạnh tranh để có nhận xét chính xác hơn
+ Khi đòn bẩy tài chính = 1: Tương đương với việc tài sản của DN được tài trợ hoàn toàn bằng nợ phải trả Thực tế trường họp này xảy ra khi DN có số lỗ lũy kế đúng bằng tổng
sốVCSH khác khiến cho tổng số VCSH bằng không (0) Đây là mức cảnh báo nghiêm trọng
về khả năng xuất hiện rủi ro đòn bẩy tài chính
+ Khi đòn bẩy tài chính> 1: Tương đươngvới trường hợp nợ phải trả không chỉ được
sử dụng để tài trợ cho tài sản mà còn được dùng vào việc bù đắp cho số VCSH bị “âm” do
DN kinh doanh thua lỗ tạo nên các khoản lỗ lũy kế lớn hơn tổng VCSH Đây là mức cảnhbáo đặc biệt nghiêm trọng về khả năng xuất hiện rủi ro đòn bấy tài chính
Tươngtự, trị số của đòn bẩy tài chính áp dụng công thức [7.8] nếu bằng một (=1) thìkhông có rủi ro đòn bẩy tài chính vì toàn bộ tài sản của DN được tài trợ bằng VCSH Nếu trị số này lớn hơn một (>1), DN bắt đầu sử dụng đến nợ phải trả Trị số này càng lớn hơn
một (>1), mức độ sử dụng nợ phải trả càng tăng và rủi ro do sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ
ngày càng cao Trị số của đòn bẩy tài chính nhỏ hơn không (<0) cho thấy VCSH củaDN bị
“âm” và phải huy động đén nợ phải trả để bù đắp, mức độ cảnh báo rủi ro do sử dụng đòn bẩy tài chính lúc này đặc biệt nghiêm trọng
Từ các dấu hiệu cảnh báo nêu trên, nhà phân tích sẽ tiến hành đánh giá tình hình biếnđộng trong khả năng xuất hiện rủi ro do sử dụng đòn bẩy tài chính thông qua việc so sánh chỉ tiêu đòn bẩytài chính của kỳ phân tích và kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối, kết họp so sánh với trung bình ngành và với đối thủ cạnh tranh để thấy được quy mô và tốc độtăng trưởng, cũng như mức độ cảnh báo trong khả năng xuất hiện rủi ro đòn bẩy tài chính
Để thuận tiện cho việc đánh giá khái quát rủi ro do sử dụng đòn bẩy tài chính, nhà
phân tích có thể sử dụng mẫu bảng sau:
Bảng 7.2- Đánh giá khái quát rủi ro do sử dụng đòn bây tài chính
năm
Cuối năm
Chênh lệch cuối nâm so
vói đầu năm
Mức độ cảnh báo rủi ro Mức (lần) Tỷ lệ (%)
Đòn bẩy tài chính (lần)
Căn cứ vào kết quả so sánh, nhà phân tích cũng nắm được mức độ biến động về quy
mô và tốc độ củađòn bẩy tài chính Kết hợp với trị số của đòn bẩy tài chính, nhà phân tích
sẽ nêu lên đánh giá khái quát về mức độ cảnh báo rủi ro đòn bẩy tài chính là: “Không có rủi
ro”, “Thấp”, “Bình thường”, “Cao”, “Nghiêm trọng”, “Đặc biệt nghiêm trọng”, và mức độrủi ro này “Khôngđổi”, “Tăng”, “Giảm” với tốc độ “Nhanh”, “Chậm”,
- Phân tích xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng rủi ro do sử dụng đòn bây tài chính:
Trang 11Để dự báo xu hướng rủi ro do sử dụng đòn bẩy tài chính, cần thiết phải phân tích xu
hướng và nhịp điệu tăng trưởng của đònbẩy tài chính Thông tin này kết hợp với các dữ liệu
về tình hình kinh doanh thực tế củaDN có thể hỗ trợđưa ra những dự báo chínhxác hơnvề
khả năng xuất hiện rủi ro về sử dụng đòn bẩytài chính
Xu hướng biến động của đòn bẩy tài chính sẽ được phân tích dựa trên việc tính ra
chuỗi giá trị của chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng định gốc của đòn bẩy tài chính” qua các kỳ
Kết quả tính toán sẽ được trực quan hóa bằng đồ thị hỗ trợ nhà phân tích nhận định về xuhướng tăng, giảm, hoặc không đổi trong việc sử dụng đòn bẩytài chính theo thời gian Neu kết quả cho thấy một xu hướng tăng trong giai đoạn DN đang gặp khó khăn về kinh doanh,
thì khả năng xuất hiện rủi ro đòn bẩy tài chính là rất cao và ảnh hưởng lớn đến an ninh tàichính của DN
Tốc độ tăng trưởng Đòn bây tài Đòn bây
định gốc của = chínhi _ tài chính 0 x J00 [7.9] đòn bẩy tài chính (%) Đòn bẩy tài chínho
Nhịp điệubiến động của đònbẩytàichính sẽ được phân tích dựatrên việc tính ra chuỗi giá trị của chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng liên hoàn củađòn bẩy tài chính” qua các kỳ Ket quả tính toán sẽ được trực quan hóa bằng đồ thị hồ trợ nhà phân tích nhận định về nhịp điệu biếnđộng trong khả năng xuất hiện rủi ro đòn bẩy tài chính là ổn định hay không ổn định theothời gian
Tốc độ tăng trưởng liên Đòn bây tài _ Đòn bây tài
hoàn của đòn bẩy tài - chính (i+1)chínhi x 100
chinh (%) Ị)òn bẩy tài chínhi
Đế thuận tiện cho việc phân tích, có thể lập bảng sau:
Bảng 7.3- Phân tích xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng của đòn bẩy tài chính theo thời
gian (%)
- Xem xét tác động của rủi ro do sử dụng đòn bây tài chính đến lợi nhuận sau thuế:
(N+l)
Cuối năm (N+2) • •••
1 Tốc độ tăng trưởng định
gốc của đòn bẩy tài chính
2 Tốc độ tăng trưởng liên
hoàn của đònbẩy tài chính
Bên cạnh khả năng xuất hiện và biến động của rủi ro đòn bẩy tài chính, nhà phân tích
còn quan tâm đến mức độ tác động khi rủi ro xảy ra, thể hiện qua chỉ tiêu “Độ nhạy của đòn
bẩy tài chính261” (DFL) DFL giúp đo lường tốc độ biến động (% thay đổi) của lợi nhuận sau
thuế (EAT) so với tốc độ biến động (% thay đổi) của lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
261 Degree of financial leverage Chi tiêu này còn được gọi là * 'Độ lớn của đòn hẩy tài chính ” (TG).
Trang 12Tốc độ biến động của lợi nhuận
sau thuế Tốc độ biến động của lợi nhuận trước thuế và lãi vay
EATỉ-EATo - — - * 100 EATo
EBITi-EBITo
[7.11]
[7.12]
dưới sự tác động của đòn bẩy tài chính Qua đó sẽ thấy được khi EBIT thay đổi 1 lần (hay
1%) sẽ làm cho EAT thay đổi mấy lần (hay mấy %) Độ nhạy của đòn bẩy tài chính được xác định theo công thức như sau:
Độ nhạy của đòn bẩy tài chính (DFL)
Trong đó:
Tốc độ biến động của lợi
nhuận sau thuế
và:
Tốc độ biến động của
lợi nhuận trước thuê và lãi vay EBITo
Với:
+ EATo, EAT1 : Là lợi nhuận sau thuế của kỳ gốc và kỳ phân tích
+ EBITo, EBIT1 : Là lợi nhuận trước thuế và lãi vay của kỳ gốc và kỳ phân tích
Biến đổi công thức [7.11], nhà phân tích có thể xác định đượcmức độ ảnh hưởng củarủi ro do sửdụngđòn bẩy tài chính đến tốc độbiến động lợi nhuận sau thuế củaDN như sau:
Tốc độ biến động „ lợi _ ~ Tốc độ biên ’ ì ỉ ■> 1'~- động lợi nhuận X 1 ĩ 1'1 Độ nhạy của đòn L'-14J nhuận sau thuê trước thuê và lãi vay bây tài chính
Công thức [7.14] cho thấy độ nhạy của đòn bẩytài chính tác động trực tiếp đến tốc độbiếnđộng lợi nhuận sau thuế và do vậy, tác động trực tiếp đến lợi nhuận sau thuế của DN
Ngoài ra, sau mộtsố bước biến đổi, DFL còn có thể được xác định qua công thức:
Độ nhạy của đòn bây tài chính (DFL)
EBĨT EBIT-I
[7.15]
Trong đó:
+ EBIT: Là lợi nhuận trước thuế và lãi vay
+ I: Chi phí lãi vay
Dữ liệu phục vụ cho việc tính toán DFL bao gồm chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế và lãi
vay” và “Chi phí lãi vay” đã được đề cập trước đó, dữ liệu về thu nhập sau thuế được thu thập từchỉ tiêu có mã số 60 “Lợi nhuận sau thuế TNDN” trên BCLCTT
Khi phân tích mức độ tác động của rủi ro đòn bẩy tài chính, nhà phân tích có thể sửdụngbất kỳ cách tính nào trong hai cách tính DFL nóitrên Từ công thức có thể thấy:
- DFL = 1: DN tài trợ hoàn toàn bằng VCSH (I = 0) và không chịu tác động từ rủi ro
do sử dụng đòn bẩy tài chính
Trang 13- Khi DN gia tăng nợ vay trong cấu trúc vốn của mình, trị số của DFL sẽ ngày càng
cao và mứcđộ tác động của đònbẩy tài chính sẽ càng lớn Điều này có nghía là trong trường hợp kinh doanh thuận lợi, thì một gia tăng nhỏ trong EBIT cũng có thể tạo nên một gia tăng
lớn hơn trong EAT, tương đương với việc DN đang sử dụngđòn bẩy tài chính một cách hiệu
quả để khuếch đại lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tuy nhiên, nếu DN gặp khó khăn, thì một
sụt giảm nhỏ trong EBIT cũng có thể tạo nên một sụtgiảm lớn hơn trong EAT
Trị số của DFL sẽ được tính toán và so sánh giữa kỳ gốc và kỳ phân tích cả về số tuyệt
đối và số tương đối để thấy được quy mô và tốc độ biến độngtrong mức độ tác động của rủi
ro sử dụng đòn bẩy tài chính đến lợi nhuận sau thuế của DN trước các kịch bản kinh doanh
khác nhau Trị số và mức độ biến động của DFL kết hợp với tình hình kinh doanh thực tế tại
DN cũng sẽ giúp các bên sử dụng thông tin đánh giá được hiệu quả trong việc sử dụng đòn
bấy tài chính cũng như đưa ra các kiến nghị để giảm thiểu mức độ tác động từ rủi ro sử dụng
đòn bẩy tài chính Ví dụ, khi DN gặp khó khăn trong kinh doanh và có các dự báo về sự sụtgiảm trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay, DN có thể giảm bớt tỷ lệ vay nợ trong cấu trúc vốn để giảm thiêu mức độ tác động theo hướng tiêu cực của rủi ro đến lợi nhuận sau thuế
7.2.3 Phân tích rủi ro khả năng sinh lợi
Rủi ro khả năng sinh lợi là tình huống mà lợi nhuận của DN biến động theo hướng tiêu cực, theo đó thu nhập suy giảm và không đủ để trang trải cho các khoản chi phí thường xuyên đe duy trì hoạt động và đáp ứng các nghĩa vụ nợ, không tích lũy đủ cho đầu tư mở
rộng sản xuất kinh doanh, không tạo nên giá trị gia tăng cho DN, và cuối cùng có thể ảnhhưởng nghiêm trọng đến khả năng hoạt động liên tục và phát triển trong dài hạn Suy chocùng, rủi ro về khả năng sinh lợi thể hiện ở sự suy giảm trong sức sinh lợi từ các nguồn lực khác nhau của DN, qua đó gây nên các biến động trong thu nhập của chủ nợ, chủ sở hữu,
người lao động và các bên liên quan khác Do đó, việc phân tích rủi ro về khả năng sinh lợi
sẽ giúp các bên sử dụng thông tin đưa ra những quyết định phù hợp dựa trên việc trả lời các
câu hỏi sau:
1 Nguy cơ xuất hiện rủi ro về khả năng sinh lợi là cao hay thấp? Biến động như thế
nào theo thời gian?
2 Nhữngnhân tố nào tác động đến rủi ro về khả năng sinh lợi của DN? Mức tácđộngcủa các nhân tố này thay đổi như thế nào?
Phân tích rủi ro về khả năng sinh lợi được tiến hành qua các bước sau:
- Đánh giá mức độ rủi ro về khả nảng sinh lợi:
Việc đánh giá mức độ rủi ro về khả năng sinh lợi sẽ sử dụng cácchỉ tiêu phản ánh khảnăng sinh lợi của DN ở một số góc độ cơ bản như “Sức sinh lợi của doanh thu thuần”262,
“Sức sinh lợi của tài sản”263, “Sức sinh lợi của vốn đầu tư”264, “Sức sinh lợi của VCSH”265
Neu trị số của các chỉ tiêu này nhỏ hơn không (<0), rủi ro về khả năng sinh lợi sẽ cao Còn
262 Xem công thức [2.9], mục 2.2.2, Chương 2.
263 Xem công thức [2.1 la], mục 2.2.2, Chương 2.
264 Xem công thức [4.13], mục 4.5.2, Chương 4.
265 Xem công thức [2.8], mục 2.2.2, Chương 2.
Trang 14nếu các trị số này càng lớn hơn không (>0), rủi ro sẽ càng thấp Trị số của các chỉ tiêu này được tính toán và so sánh giữa kỳ gốc và kỳ phân tích, giữa DN với đối thủ cạnh tranh và giữa DN với trung bình ngành cả về số tuyệt đối và số tương đối để thấy được quy mô vàtốc độ biến động trongrủi ro về khả năng sinh lợi của DN Neukếtquả so sánh cho thấy các chỉ tiêu này suy giảmvới quy mô lớn và tốc độ suy giảm nhanh, mức độ rủi ro về khả năng
sinh lợi sẽ gia tăng Ngược lại, một sựgia tăng cả về quy mô và tốc độ của các chỉ tiêu phản
ánh khả năng sinh lợi kể trên là dấu hiệu cho thấy nguy cơ rủi ro về khả năng sinh lợi đanggiảm
Đểthuận tiện cho việc phân tích, có thể lập bảng sau:
Bảng 7.4- Đánh giá khái quát rủi ro về khả năng sinh lợi
trước
Năm nay
Chênh lệch năm nay so vói năm trước
- Xem xét tác động của đòn bẩy kinh doanh266 đến rủi ro về khả năng sinh lợi:
Biến động trong khả năngsinh lợi và lợi nhuận của DN không chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp từtình hình kinh doanh và sự thay đổi trong doanh số tiêu thụ mà còn ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong cấu trúcchi phí (thể hiện đòn bẩy kinh doanh) và cấutrúc tài trợ (thể hiện đòn bẩy tài chính) mà DN lựa chọn
Đòn bẩy kinh doanh liên quan đến việc DN sử dụng các tài sản có chi phí hoạt động
cố định (định phí) trong nồ lực gia tăng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) Khi tỷ trọng định phí chiếm trong tổng chi phí cao, mức độ sử dụng đòn bẩy kinh doanh sẽ cao Dưới tác
động củađòn bẩy kinh doanh cao này, một sự thay đổi trong doanh thu thuần có the tạo nên
một sự thay đổi với tốc độ lớn hơn trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tốc độ biến động của lợi nhuận trước thuế và lãi vay so với tốc độ biến động trong doanh thu thuần phản ánh
mức độ tác động của của đòn bẩy kinh doanh, và được thể hiện qua chỉ tiêu “Độ nhạy củađòn bẩy kinh doanh266267” (DOL) với công thức xác định như sau:
266 Operating Leverage.
Trang 15Độ nhạy của đòn bấy kinh doanh (DOL)
Tốc độ biến động của lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tốc độ biến động của doanh thu
+ Chỉ tiêu “Tốc độ biến động của doanh thu thuần” được xác định như sau:
Tốc độ biến động của doanh _ NR ị -NR q X 100
Với NR1, NRo lần lượt là doanh thu thuần của kỳ gốc và kỳ phân tích
Ngoài ra, độ nhạy của đòn bẩy kinh doanh còn được xác định theo công thức:
Độ nhạy của đòn bây kinh doanh (DOL)
EBIT + F EBIT
[7.18]
Trong đó F là định phí của DN trong kỳ
Độ nhạy của đòn bẩy kinh doanh cho biết phần trăm thay đổi của lợi nhuận trước thuế
và lãi vay khi doanh thu thuần thay đổi 1% Neu DN đã đạt được điểm hòa vốn thì dưới tác
động của đòn bẩy kinh doanh, một gia tăng nhỏ trong doanh thu thuần cũng có thể tạo nênmột gia tăng lớn hơn trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tuy nhiên, nếu DN chưa đạt tới
điếm hòa vốn thì dưới tác động củađòn bẩy kinh doanh, một sụt giảm nhỏ trong doanh thu
thuần cũng có thể tạo nên mộtsụt giảm lớn trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay Trị số DOL
càng lớn cho thấy mức độ khả biến trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay càng cao, theo đórủi ro về khả năng sinh lợi cũng gia tăng Mối quan hệ này thể hiện qua công thức:
Tốc độ biến động của lợi _ Tốc độ biến động của Độ nhạy của đòn
nhuận trước thuế và lãi vay doanh thu thuần bấy kinh doanh
Chưa dừng lại ở đó, nếu DN có sử dụng nợ vay trong cấu trúc vốn của mình thì một
sự biến động trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay, dưới tác động của đòn bẩy tài chính, cóthể tạo ra sự biến động lớn hơn trong lợi nhuận sau thuế (EAT) của DN Mối quan hệ này
được chứngminh như sau:
Thay công thức [7.19] vào công thức [7.14], ta có:
Tốc độ biến Tốc độ biến
động của lợi = động của doanh X
nhuận sau thuế thu thuần
Độ nhạy của đòn bẩy kinh doanh
Độ nhạy
X của đòn bẩy tài chính
[7.20]
Công thức [7.20] cho thấy, dưới sự tác động của đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính, biến động trong lợi nhuận sau thuế của DN được khuếch đại như thế nào trước sự biến động trong doanh thu thuần Trị số của DOL và DFL thể hiện cho mức độ tác động củađòn bẩy kinh doanh và đòn bẩytài chính Cáctrị số này càng lớn, mức độ tác độngcủađộng