1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 4 Đánh giá khái quát tình hình tài chính giáo trình phân tích báo cáo tài chính

27 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 4 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH Mục tiêu chưong 4 • Phân biệt tình hình tài chính với HĐTC và với tài chỉnh DN • Xác định mục đích đánh giá khải quát tình hình tài chính • Nắm vững yêu.

Trang 1

Chương 4 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

Mục tiêu chưong 4

• Phân biệt tình hình tài chính với HĐTC và với tài chỉnh DN.

• Xác định mục đích đánh giá khải quát tình hình tài chính.

• Nắm vững yêu cầu và quy trình đánh giả.

• Nhận diện nội dung đánh giả khái quát tình hình tài chính.

• Xác định chỉ số và cách thức đánh giá khái quát tình hình tài chỉnh.

• Vận dụng các công cụ và kỹ thuật thích hợp để đánh giả chỉnh xác tình hình tài chính

Khác với HĐTC - những hoạt động có liên quan đen việc thay đổi cấu trúc tài chính của DN tình hình tài chính giống như một bức tranh tổng the phản ánh kết quả của các hoạt động mà DN tiến hành, bao gồm cả HĐKD, HĐTC và HĐĐT Kết quả và hiệu quả hoạt động của DN càng cao, tình hình tài chính của DN càng khả quan Khi đó, DN không những bảo đảm được mức độ độc lập tài chính, an ninh tài chính vững vàng mà còn bảo đảm một khả năng thanh toán cao, tình hình thanh toán lành mạnh, cấu trúc tài chính phù hợp Ngược lại, một khi kết quả và hiệu quả hoạt động của DN thấp, không đạt kỳ vọng đặt ra, tình hình tài chính của DN sẽ tồi tệ, DN không chỉ không bảo đảm mức độ tự chủ tài chính và an ninh tài chính mà còn không bảo đảm cả khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi

4.1.2 Yêu cầu và mục đích đánh giá

Đánh giá khái quát tình hình tài chính phải đáp ứng yêu cầu chính xác và toàn diện Chính xác là việc đánh giá đúng thực trạng tình hình tài chính của DN, không bóp méo hay

tô hồng vì bất cứ mục đích gì Đánh giá chính xác thực trạng tài chính của DN là căn cứ quan trọng giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định hiệu quả, phù hợp với tình trạng hiện tại của DN và định hướng phát triển trong tưcmg lai Các quyết định quản lý không thể phù hợp và hữu ích nếu dựa trên những thông tin thiếu chính xác, không trung thực về tình hình tài chính của DN Đánh giá tình hình tài chính còn đòi hởi phải tiến hành toàn diện,

Trang 2

trên các mặt chủ yéu, phản ánh khái quát nhất tình hình tài chính DN như: tình hình huy động vốn, mức độ độc lập tài chính, thanh khoản và khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi

và tốc độ tăng trưởng Việc đánh giá khái quát một cách toàn diện sẽ giúp cho người sử dụng thông tin tránh được hoặc hạn chế được sự phiến diện, máy móc, một chiều trong nhìn nhận tình hình tài chính Vì thế, có thể nói, để đánh giá chính xác buộc phải đánh giá toàn diện; ngược lại, có đánh giá toàn diện mới bảo đảm được độ chính xác

Mục đích của đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm nêu lên những nhận xét sơ

bộ, ban đầu về thực trạng và sức mạnh tài chính của DN, biết được mức độ tự chủ tài chính

và an ninh tài chính, khả năng sinh lợi, tốc độ tăng trưởng bền vững cũng như những khó khăn về tài chính mà DN đang phải đương đầu, nhất là lĩnh vực thanh toán Dựa trên cơ sở thông tin do đánh giá khái quát tình hình tài chính cung cấp, người sử dụng thông tin mới có căn cứ tin cậy để đề ra các kế sách thích hợp và các quyết định hữu ích, có hiệu quả, phù hợp tình hình thực tế và môi trường kinh doanh liên quan đến đầu tư, hợp tác, liên doanh, liên kết, mua bán, cho vay góp phần nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh và năng lực cạnh tranh của DN Vì thế, thông tin về đánh giá khái quát tình hình tài chính của

DN rất quan trọng đối với các nhà quản lý, các chủ DN, các nhà đầu tư cũng như các đối tượng quan tâm khác

Với mục đích trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính, các nhà phân tích chỉ dừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánh những nét chung nhất

về tình hình tài chính; trong đó, chỉ rõ cả tình hình biến động về quy mô và tốc độ cũng như chỉ rõ cả về xu hướng và nhịp điệu biến động

4.1.3 Công cụ và kỹ thuật đánh giả

Để đáp ứng mục đích và yêu cầu của việc đánh giá khái quát tình hình tài chính, trên

cơ sở nội dung và chỉ số đánh giá, các nhà phân tích sử dụng các công cụ so sánh và công

cụ biểu đồ (đồ thị) cùng các kỹ thuật thích hợp tương ứng để đánh giá Công cụ so sánh được

sử dụng thông qua các kỹ thuật như: kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối (để đánh giá quy mô biến động), kỹ thuật so sánh bàng sổ tương đối giản đơn (để đánh giá tốc độ biến động), kỹ thuật so sánh bằng số tương đối động thái định gốc (để đánh giá xu hướng tăng trưởng) và

kỹ thuật so sánh bằng số tương đối động thái liên hoàn (để đánh giá nhịp điệu tăng trưởng) Công cụ biểu đồ được sử dụng thông qua kỹ thuật đồ thị đường gấp khúc thể hiện xu hướng

và nhịp điệu tăng trưởng của các chỉ số tài chính

Kỳ gốc (hoặc điểm gốc) được lựa chọn thường là kỳ (hoặc điểm) có trị số của các chỉ

số phản ánh khái quát tình hình tài chính DN theo thời gian (các kỳ trước) hoặc không gian (trị số bình quân ngành, bình quân khu vực hay trị số của đối thủ cạnh tranh) Thông thường, khi xem xét mức độ biến động về quy mô và tốc độ tăng trưởng của các chỉ số, kỳ phân tích thường được chọn là cuối năm, cuối kỳ (với đánh giá tình hình huy động vốn, đánh giá mức

độ độc lập tài chính và đánh giá khả năng thanh toán) hay năm nay, kỳ này (với đánh giá khả năng sinh lợi), còn kỳ gốc tương ứng sẽ là đầu năm, đầu kỳ hay năm trước, kỳ trước

Đối với việc dánh giá xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng, dữ liệu thu thập phục vụ cho việc đánh giá đòi hỏi phải nhiều hơn, không chỉ đơn thuần là cuối năm với đầu năm (hoặc năm nay với năm trước) mà dữ liệu thu thập càng nhiều kỳ, độ chính xác càng cao (tối thiểu

Trang 3

phải có dữ liệu của ba kỳ) Kỳ gốc được chọn là kỳ đánh dấu sự ra đời hay năm gắn với bước ngoặt kinh doanh, thay đổi chiến lược kinh doanh của DN.

Đe đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN được chính xác, khắc phục được nhược điểm của từng chỉ số đcm lẻ (nếu có), các nhà phân tích cần xem xét đồng thời sự biến động của các chỉ số và liên kết sự biến động của chúng với nhau Từ đó, rút ra nhận xét khái quát về thực trạng và sức mạnh tài chính cũng như an ninh tài chính của DN

Công cụ

so sánh 'ĩ

Công cụ biểu đồ

Kỹ thuật so sánh bằng số tương đối đông thai định gốc (để đánh giá xu hướng tăng trưởng)

Kỹ thuật

sọ sánh bằng số tương đối gian đơn (đẻ đánh giá tốc đọ biến động)

Kỹ thuật đồ thị đường^gấp khúc the hiện

xu hướng và nhịp điệu tăng trương

Hình 4.1- Công cụ và kỹ thuật đánh giá khái quát tình hình tài chính

4.1.4 Quy trình đánh giá

Đánh giá khái quát tình hình tài chính được tiến hành qua 3 bước sau đây:

- Tỉnh toán trị số các chỉ số phản ánh tình hình tài chinh theo từng mặt:

Tuỳ thuộc nội dung đánh giá khái quát, nhà phân tích sẽ tiến hành tính toán trị số của các chỉ số phản ánh nội dung ở các kỳ tương ứng (kỳ gốc, kỳ phân tích) để phục vụ cho việc đánh giá thực trạng, tình hình biến động về quy mô và tốc độ Bên cạnh đó, để phục vụ cho việc đánh giá xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng, các nhà phân tích phải tính ra trị số của các chỉ số phản ánh tôc độ tăng trưởng định gốc và tốc độ tăng trưởng liên hoàn của chỉ số phản ánh tương ứng

- So sánh tình hình biến động của các chỉ sổ giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (để đánh

giả tình hĩnh biến động về quy mô và tốc độ) hoặc sử dụng đồ thị (để thể hiện xu hướng và nhịp điệu tảng trưởng của chỉ số tài chính):

Trong bước này, nhà phân tích sử dụng công cụ so sánh với các kỳ thuật thích hợp (kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối, kỹ thuật so sánh bằng số tương đối giản đơn) nhằm xác định mức độ biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của các chỉ số đánh giá khái quát tình hình tài chính theo từng mặt giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc Đổi với xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng của tình hình tài chính theo từng mặt, nhà phân tích sử dụng công cụ biểu đồ với

Trang 4

kỹ thuật đồ thị đường gấp khúc để thể hiện kết quả tính toán các chỉ số phản ánh tốc độ tăng trưởng định gốc và tốc độ tăng trưởng liên hoàn của các chỉ số tương ứng.

- Nhận xét, đánh giả thực trạng tài chính theo từng mặt và xu hướng, nhịp điệu tăng trưởng tương ứng:

Trên cơ sở trị số các chỉ số và kết quả so sánh tình hình biến động của các chỉ số giữa

kỳ phân tích với kỳ gốc, nhà phân tích sẽ rút ra nhận xét, đánh giá về thực trạng tài chính và tình hình biến động theo từng nội dung cả về quy mô và tốc độ Đối với xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng, nhà phân tích dựa vào đường đi của đồ thị phản ánh để rút ra nhận xét, đánh giá phù hợp

Có thể khái quát quy trình đánh giá khái quát tình hình tài chính qua hình 4-2 sau đây:

QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT

TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

Đánh giá khái quát thực trạng và mức độ biến động về quy mô và

1 giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (điểm gốc)

Ị cả về qui

mô và tốc

độ biến động

Nhận xét, đánh giá thực trạng tài chính, mức độ biến đông cả

* về quy

mô va XU hướng

Đánh giá khái quát xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng

Tính toán trị số các chỉ số phản ánh tốc độ

1 tăng trưởnp định goc

vả tốc độ tăng trưởng liên hoàn

Sử dụng đồ thị để thể hiền trị số củà các chỉ

số phản ánh tốc độ tăng trưởng định gốc, tốc độ tăng trưởng liên hoàn

Nhận xét, đánh giá xu hướng

và nhịp điệu tăng trưởng theo từng mặt

Hình 4.2- Quỵ trình đánh giá khái quát tình hình tài chính 4.2 Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn

4.2.1 Vốn của doanh nghiệp và nội dung đảnh giả

Tình hình biến động (tăng hay giảm) của tổng số vốn theo thời gian (giữa cuối kỳ so với đầu năm, giữa năm này so với các năm khác ) vừa phản ánh kết quả HĐTC (kết quả tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn phục vụ cho các hoạt động của DN) vừa phản ánh tình hình tài chính của DN Sự biến động của tổng số vốn không chỉ đơn thuần thay đổi về quy mô mà còn kéo theo cả sự thay đổi về kết cấu vốn Qua việc xem xét tình hình biến động vốn về quy mô, cơ cấu, tốc độ, xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng, người sử dụng thông tin

Trang 5

có thể đánh giá sơ bộ mức độ thành công của DN trong kinh doanh, nắm được chính sách huy động vốn, mức độ độc lập tài chính cũng như triển vọng tương lai của DN.

Tổng số vốn của DN bao gồm 2 bộ phận chính: nợ phải trả và VCSH Sự thay đổi về

tỷ trọng của từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn và xu hướng biến động về cơ cấu vốn cho thấy chính sách huy động vốn của DN Do vậy, khi đánh giá, bên cạnh xem xét tình hình biến động của tổng số vốn, cần xem xét tình hình biến động và xu hướng biến động của

cơ cấu nguồn vốn Qua đó, các nhà phân tích sẽ đánh giá được kết quả tạo lập và huy động vốn về quy mô, về tốc độ tăng trưởng vổn; đánh giá được tính hợp lý trong cơ cấu huy động, chính sách huy động và tổ chức nguồn vốn cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động

Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn của DN phải trả lời được các câu hỏi sau:

1 Mức độ chú trọng khai thác các nguồn vốn trong kỳ để đầu tư vào kinh doanh của DN?

2 Chính sách huy động vốn kinh doanh trong kỳ của DN?

3 Các nhân tố (nguyên nhân) ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn trong kỳ của DN?

4 Xu hướng và nhịp điệu huy động vốn theo thời gian của DN?

4.2.2 Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn về quy mô, tốc độ và chính sách huy động

Đe đánh giá tình hình huy động vốn trong kỳ của DN cả về quy mô, về tốc độ và chính sách huy động, các nhà phân tích sử dụng công cụ so sánh: So sánh trị số của các chỉ số (tổng

số vốn, VCSH, nợ phải trả, tỷ trọng từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số vốn) giữa

kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tuyệt đối (phản ánh quy mô biến động) và số tương đối (phản ánh tốc độ biến động) Thông thường, khi đánh giá khái quát tình hình biến động huy động vốn, kỳ phân tích được lựa chọn thường là cuối năm, còn kỳ gốc thường là đầu năm

Để thuận lợi cho việc đánh giá khái quát tình hình huy động vốn, các nhà phân tích có thể lập bảng sau:

Bảng 4.1- Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn về qui mô, tốc độ tăng trưởng và

chính sách huy động

Bảng đánh giá khái quát tình hình huy động vốn sẽ cung cấp cho người sử dụng các thông tin chủ yếu cụ thể sau đây:

Chỉ số

Đầu năm Cuối năm Chênh lệch cuối năm

so với đầu năm (±)

Số tiền (VND)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (VND)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (VND)

Tỷ lệ (%)

Tỷ trọng (%)

Trang 6

- Quy mô của từng chỉ số (tổng nguồn vốn, VCSH, nợ phải trả) tại thời điểm đầu năm, cuối năm: phản ánh tại cột “Số tiền” (Cột 1 và Cột 3).

- Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn (nợ phải trả, VCSH) chiếm trong tổng số nguồn vốn tại thời điểm đầu năm, cuối năm: phản ánh tại cột “Tỷ trọng” (cột 2 và Cột 4)

- Mức độ biến động về quy mô và tốc độ của tổng nguồn vốn giữa kỳ phân tích (cuối năm) so với kỳ gốc (đầu năm): phản ánh tại cột 5 “Số tiền” (biến động về quy mô) và cột 6

“Tỷ lệ” (bién động về tốc độ tăng trưởng), tương ứng với dòng phản ánh chỉ số “Tổng nguồn vốn” (Cột “Chênh lệch cuối năm so với đầu năm”)

- Mức độ ảnh hưởng của nhân tố “Nợ phải trả” và “VCSH” đến sự biến động của chỉ

số “Tổng nguồn vốn” giữa kỳ phân tích (cuối năm) so với kỳ gốc (đầu năm): phản ánh tại cột 6 “Tỷ lệ”, tương ứng với dòng phản ánh chỉ số “Nợ phải trả” và “VCSH” (Cột “Chênh lệch cuối năm so với đầu năm")

- Tốc độ tăng trưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến tổng nguồn vốn: phản ánh tại cột

6 “Tỷ lệ”, tương ứng với dòng phản ánh chỉ số “Nợ phải trả” và “VCSH” (Cột “Chênh lệch cuối năm so với đầu năm")

- Chính sách huy động vốn: phản ánh tại cột 7 “Tỷ trọng”, tương ứng với dòng phản ánh chỉ sổ “Nợ phải trả” và “VCSH” (Cột “Chênh lệch cuối năm so với đầu năm")

Thông qua đánh giá khái quát tình hình huy động vốn, các nhà phân tích nắm được nồ lực huy động vốn trong kỳ của DN (qua sự biến động của chỉ số “Tổng nguồn vốn” cả về quy mô và tốc độ) và các nhân tố ảnh hưởng (dựa trên sự biến động của các chỉ số “VCSH”

và “Nợ phải trả”) cũng như đánh giá được chính sách huy động vốn (qua sự biến động của

cơ cấu nguồn vốn) Sự thay đổi về tỷ trọng của các chỉ số “VCSH” và “Nợ phải trả” chiếm trong tổng nguồn vốn cung cấp cho người sử dụng thông tin nắm được sơ bộ chính sách huy động vốn của DN (tăng cường huy động từ bên ngoài hay huy động từ bên trong nội bộ, huy động các chủ sở hữu đóng góp hay tăng cường kết quả kinh doanh ) Qua đó, có thể nêu lên nhận định về sự phù hợp hay không phù hợp trong chính sách huy động von của DN

4.2.3 Đánh giá khái quát tình hình huy động von về xu hưởng và nhịp điệu tăng trưởng

Căn cứ vào cơ sở dữ liệu theo thời gian về tổng số vốn của DN (tối thiểu 03 kỳ), sử dụng công cụ so sánh với kỹ thuật so sánh bằng số tương đối, các nhà phân tích tiến hành tính ra chuỗi trị số của chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng định gốc của vốn” và chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng liên hoàn của vốn” Trên cơ sở đó, dùng đồ thị để phản ánh kết quả tính toán

Đồ thị thể hiện chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng định gốc của vốn” sẽ giúp người sử dụng thông tin đánh giá được xu hướng tăng trưởng vốn theo thời gian của DN (xu hướng tăng, xu hướng giảm hay không đổi) và đồ thị thể hiện chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng liên hoàn của vổn” sẽ cung cấp thông tin về nhịp điệu tăng trưởng vốn của DN theo thời gian (đều đặn, ổn định hay bấp bênh, không đều đặn)

Trang 7

Dữ liệu thu thập phục vụ cho việc đánh giá khái quát tình hình huy động vốn được thu thập trực tiếp từ BCĐKT Cụ thể, với DN áp dụng Thông tư 200/200/TT - BTC:

- Tong nguồn vốn: Chỉ tiêu có mã số 440 “Tổng cộng nguồn vốn”

- Nợ phải trả: Chỉ tiêu có mã số 300 “Nợ phải trả”

Bảng 4.2- Đánh giá khái quát xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng vốn theo thời gian (%)

Chi số Cuối năm N Cuối năm (N+l) Cuối năm (N+2)

4.3 Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính

4.3.1 Độc lập tài chỉnh và nội dung đảnh giá

Độc lập tài chính của một DN thể hiện qua mức độ tự chủ tài chính và mức độ bảo đảm an ninh tài chính Mức độ tự chủ tài chính phản ánh mức độ bị lệ thuộc hay bị chi phối bởi các tổ chức hay cá nhân bên ngoài trong quá trình quản lý, điều hành và đề ra các quyết định tài chính; còn mức độ an ninh tài chính phản ánh mức độ an toàn, ổn định về mặt tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh Một DN có mức độ tự chủ tài chính và mức độ

an ninh tài chính càng cao, DN đó có mức độ độc lập về mặt tài chính càng cao và ngược lại

Độc lập tài chính có vai trò quan trọng đối với DN DN không thể tiến hành các hoạt động một cách bình thường hoặc không thể tự mình đưa ra các quyết sách quan trọng được nếu mức độ tự chủ tài chính hoặc mức độ an ninh tài chính bị ảnh hưởng Một khi mức độ

tự chủ tài chính thấp, các quyết sách tài chính mà DN đưa ra sẽ bị chi phối bởi các tổ chức hay cá nhân bên ngoài Tương tự, khi an ninh tài chính không bảo đảm, DN không chỉ gặp khó khăn tài chính, rủi ro tài chính cao, thiếu vốn cho mọi hoạt động mà DN còn phải thường xuyên đối đầu với tình trạng mất khả năng thanh toán, nguy cơ phá sản cao Tự chủ tài chính

Trang 8

cao chưa đủ, DN muốn thực sự độc lập về mặt tài chính còn phải bảo đảm an ninh tài chính Điều này dễ dàng nhận thấy tại những DN cho dù có mức độ tự chủ tài chính cao (VCSH chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn và tài trợ phần lớn tài sản của DN) nhưng do sai lầm trong sử dụng vốn, phần lớn vốn được đầu tư vào TSDH - kể cả sử dụng cả nợ ngắn hạn để đầu tư dài hạn - nên khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả, DN sẽ mất khả năng thanh toán và do vậy, rơi vào tình trạng an ninh tài chính không bảo đảm Ngược lại, tại những DN cho dù mức độ tự chủ tài chính có thể không cao (tỷ trọng VCSH thấp trong tổng nguồn vốn) nhưng nhờ chính sách đầu tư vốn thận trọng, đúng đắn, DN vẫn vừa có thể đầu

tư dài hạn cả chiều rộng lẫn chiều sâu để mở rộng kinh doanh, tăng tính cạnh tranh lại vừa bảo đảm được an ninh tài chính cho hoạt động tiến triển thuận lợi Dĩ nhiên, do sử dụng các nguồn vốn chiếm dụng để đầu tư dài hạn, DN phải chịu những ràng buộc nhất định nên phần nào làm giảm tính tự chủ tài chính và do vậy, ảnh hưởng đến mức độ độc lập tài chính

Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính của DN phải trả lừi được các câu hỏi sau:

1 Mức độ độc lập tài chính của DN cao hay thấp? Có bảo đảm cho HĐKD tiến hành được thuận lợi không?

2 Tình hình biến động (tăng, giảm) trong kỳ về tự chủ tài chính và an ninh tài chính của DN?

3 So với bình quân ngành, so với bình quân khu vực, so với đối thủ cạnh tranh hay so với các DN tiên tiến, điển hình, mức độ độc lập tài chính của DN cao hay thấp?

4 Xu hướng và nhịp điệu biến động (tăng trưởng) về mức độ tự chủ và an ninh tài chính của DN theo thời gian như thế nào?

4.3.2 Đánh giá khái quát thực trạng mức độ tự chủ và an ninh tài chỉnh

Để xác định mức độ độc lập tài chính của DN, cần thiết phải xem xét cả về mức độ tự chủ tài chính và mức độ an ninh tài chính Mức độ tự chủ tài chính của DN được thế hiện qua chỉ số “Hệ số tài trợ”174 Chỉ số này phản ánh mức độ tài trợ tài sản (hay sở hữu tài sản) của bởi các chủ sở hữu Thông qua “Hệ số tài trợ”, người sử dụng thông tin biết được cứ một đồng tài sản hiện có của DN được tài trợ bởi mấy đồng VCSH Trị số của chỉ số này càng lớn, mức độ tự chủ về mặt tài chính của DN càng cao và ngược lại; khi trị số của chỉ số này càng nhỏ, mức độ tự chủ về mặt tài chính của DN càng thấp, dẫn đến mức độ độc lập về tài chính của DN càng thấp

' 74 Xem công thức [3.5] trong mục 3.2.1 Chi sổ tài chinh phản ánh cấu trúc tài chính, Chương 3.

' 75 Chì so này còn được gọi là ‘‘Tỳ suất tự tài trợ TSDH ” (%), cho biết trong 100 đồng TSDH được tài trợ bởi may đồng từ nguồn tài trợ thường xuyên (TG).

176 Chi so này còn được gọi là “Tỳ suất tự tài trựTSCĐ" (%), cho biết trong 100 đồng TSCĐđược tài trợ bởi mấy đồng từ

nguồn tài trợ thường xuyên (TG).

Mức độ an ninh tài chính của DN được thể hiện qua các chỉ số “Hệ số tự tài trợ TSDH”175 và “Hệ số tự tài trợ TSCĐ”176 Chỉ số “Hệ số tự tài trợ TSDH” cho biết khả năng trang trải (tự tài trợ) TSDH bằng nguồn tài trợ thường xuyên Khi trị số của chỉ số này lớn hơn hoặc bằng một (>1), nguồn tài trợ thường xuyên của DN có đủ và thừa để trang trải TSDH Trong trường hợp này, do nguồn tài trợ vẫn bảo đảm trang trải đủ và thừa TSDH nên

Trang 9

DN sẽ ít gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn và do vậy, an ninh tài chính vẫn bảo đảm cho DN tiến hành HĐKD bình thường Ngược lại, trường hợp nguồn tài trợ thường xuyên không đủ tài trợ TSDH, DN buộc phải sử dụng nguồn tài trợ tạm thời177 để bù đắp TSDH Vì vậy, khi các khoản nợ ngắn hạn đáo hạn, DN sẽ gặp khó khăn trong thanh toán Điều này sẽ làm giảm an ninh tài chính và do đó, ảnh hưởng đến mức độ độc lập tài chính của DN.

177 Chì tiêu này còn được gọi với các tên khác như: nguồn vốn ngắn hạn, nguồn tài trợ ngan hạn, nguồn tài trợ tạm thời, vốn ngan hạn, nợ ngan hạn và được xác định bang toàn bộ số nợ ngan hạn (TG).

Hệ số tự tài trợ Nguồn tài trợ thường xuyên

Tọn „ ' = - NNNTr - í 4 -3 !

Tương tự, “Hệ số tự tài trợ TSCĐ” là chỉ số phản ánh khả năng trang trải (tự tài trợ)

bộ phận TSCĐ (đã và đang đầu tư) bằng nguồn tài trợ thường xuyên Do TSCĐ là bộ phận TSDH chủ yếu, phản ánh toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật của DN, bảo đảm cho mọi hoạt động của DN tiến hành được bình thường nên DN không thể dễ dàng và không the đem bán, thanh lý bộ phận TSCĐ được

Hệ số tự tài trợ _ Nguồn tài trợ thường xuyên 4] TSCĐ TSCĐ đã và đang đầu tư

Chỉ số [4.4] được sử dụng bổ sung để xem xét mức độ bảo đảm an ninh tài chính của

DN trong trường hợp chỉ số "Hệ số tự tài trợ TSDH" có trị số nhỏ hơn một (<1) Khi trị số cùa chỉ số “Hệ số tự tài trợ TSCĐ” lớn hơn hoặc bằng một (>1), nguồn tài trợ thường xuyên của DN có đủ và thừa khả năng để trang trải TSCĐ Do vậy, khi gặp khó khăn trong thanh toán nợ đáo hạn, DN có thế nhượng bán các TSDH khác (trừ TSCĐ) để thanh toán mà HĐKD vẫn có thể tiến hành bình thường Trong trường hợp này, mặc dầu rủi ro tài chính có thể cao nhưng DN vẫn có khả năng thoát khỏi những khó khăn tài chính tạm thời, trước mắt

để phát triển Ngược lại, nếu trị số của chỉ số “Hệ số tự tài trợ TSCĐ” của DN nhỏ hơn một (<1), chứng tỏ DN đã sử dụng nguồn tài trợ tạm thời để đầu tư vào một bộ phận TSCĐ và các TSDH khác Chắc chắn, khi nợ ngắn hạn đáo hạn, DN sẽ khó có khả năng thanh toán được nợ, an ninh tài chính sẽ không bảo đảm cho DN hoạt động bình thường

Khi đánh giá mức độ độc lập về mặt tài chính của DN, trước hết các nhà phân tích cần tính ra trị số của các chỉ số tài chính “Hệ số tài trợ”, “Hệ số tự tài trợ TSDH” và “Hệ số tự tài trợ TSCĐ” ở kỳ phân tích (cuối năm, cuối kỳ) và kỳ gốc (đầu năm, đầu kỳ) Từ đó, tiến hành so sánh sự biến động của các chỉ số cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng Đồng thời, so sánh trị số của các chỉ số trên ở kỳ phân tích với trị số bình quân ngành, bình quân khu vực hay với DN khác (nếu có)

Bằng việc so sánh trị số của các chỉ số theo thời gian, các nhà phân tích sẽ có nhận định chính xác về xu hướng biến động của mức độ độc lập tài chính cả về tự chủ tài chính

và an ninh tài chính; còn khi so sánh với số bình quân của ngành, bình quân khu vực, các nhà phân tích sẽ xác định chính xác vị trí hay mức độ độc lập tài chính của DN hiện tại là ở mức nào (cao, trung bình, thấp)

Trang 10

Để thuận tiện cho việc đánh giá khái quát tình hình biến động của mức độ độc lập tài chính về quy mô và tốc độ tăng trưởng, các nhà phân tích thường lập bảng đánh giá theo mẫu sau:

Bảng 4.3- Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính về quy mô và tốc độ tăng trưởng

Chỉ số

Đầu năm (lần)

Cuối năm (lân)

Chênh lệch • cuối năm

so với đầu năm (±)

4.3.3 Đánh giá khái quát xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng về tự chủ và an ninh tài chính

Để đánh giá xu hướng tăng trưởng về mức độ tự chủ tài chính và an ninh tài chính, căn

cứ vào trị số các chỉ số “Hệ số tài trợ” và “Hệ số tự tài trợ TSDH”, các nhà phân tích tiến hành tính ra chuỗi giá trị của chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng định gốc về tự chủ tài chính” và chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng định gốc về an ninh tài chính” Trên cơ sở kết quả tính toán, dùng đồ thị để phản ánh kết quả tính toán và căn cứ vào đồ thị để nêu lên nhận xét về xu hướng tăng trưởng tự chủ tài chính (hay an ninh tài chính) của DN theo thời gian trong suốt

cả kỳ nghiên cứu là tăng (đi lên) hay giảm (đi xuống) hoặc không đổi

gốc về an ninh tài chinh = - X 100 I OJ

(/o) Hệ sổ tự tài trợ TSDHo

Cũng trên cơ sở trị số của các chỉ số “Hệ số tài trợ” và “Hệ số tự tài trợ TSDH” theo thời gian, để đánh giá nhịp điệu tăng trưởng mức độ tự chủ tài chính và an ninh tài chính, các nhà phân tích tiến hành tính ra chuồi trị số của chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng liên hoàn về

tự chủ tài chính” và chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng liên hoàn về an ninh tài chính” Trên cơ sở kết quả tính toán, bằng cách sử dụng đồ thị để phản ánh, các nhà phân tích sẽ đánh giá được nhịp điệu tăng trưởng về tự chủ tài chính và về an ninh tài chính qua thời gian là đều đặn, ổn định hay bấp bênh, thiếu ổn định

Tốc độ tăng trưởng liên hoàn về tự Hệ sổ tài trợ (i+1) - Hệ số tài trơi

— -7— - X Ị QQ [4.7]

chủ tài chỉnh (%) Hệ sổ tài trơi

Trang 11

Tốc độ tảng trưởng Hê s ° *tài tr(? Hê sổ * tài tr<?

liên hoàn về an ninh TSDH(i+i) TSDHi X IQQ

tài chính (%) Hệ S Ặ tàị trợ ygg)Hi

Dữ liệu thu thập phục vụ cho việc đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính của DN được thu thập từ BCĐKT; trong đó, các chỉ tiêu về VCSH và nợ phải trả đã giới thiệu ở trên (mục 4.2 “Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn”) Các chỉ tiêu còn lại đối với DN áp dụng Thông tư 200/2014/TT - BTC thu thập như sau:

- Tổng tài sản: Chỉ tiêu có mã số 270 “Tổng cộng tài sản”

- Nợ dài hạn: Chỉ tiêu có mã số 330 “Nợ dài hạn”

- TSDH: Chỉ tiêu có mã số 200 “Tài sản dài hạn”

- TSCĐ đã và đang đầu tư: Bao gồm TSCĐ đà đầu tư và TSCĐ đang đầu tư; trong

đó, TSCĐ đã đầu tư thu thập từ chỉ tiêu “Tài sản cố định” có mã số 220 và TSCĐ đang đầu

tư thu thập từ chỉ số “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” có mã số 242

- Nguồn tài trợ thường xuyên: Bao gồm VCSH với nợ dài hạn

Với các DN áp dụng Thông tư 133/2016/TT BTC, dữ liệu phục vụ việc đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính thu thập như sau:

- Tổng tài sản: Chỉ tiêu có mẫ số 200 (mẫu BOla - DNN) hoặc mã số 300 (mẫu số B01b-DNN)

- Nợ dài hạn: Chỉ tiêu có mã số 420 (mẫu số BOI b - DNN)

- TSDH: Chỉ tiêu có mã số 200 “Tài sản dài hạn” (mẫu số BOlb - DNN)

- TSCĐ đã và đang đầu tư: Bao gồm TSCĐ đã đầu tư và TSCĐ đang đầu tư; trong

đó, TSCĐ đà đầu tư thu thập từ chỉ số “Tài sản cố định” có mà số 150 (mẫu BOla - DNN) hay mã số 220 (mẫu số BO 1 b - DNN) và TSCĐ đang đầu tư thu thập từ chỉ tiêu “Xây dựng

cơ bản dở dang” có mã số 170 (mẫu BOla - DNN) hay mã số 240 (mẫu số BOlb - DNN)

- Tài sản dài hạn' Chỉ tiêu có mã số 200 (mẫu số BOlb - DNN)

- Nợ dài hạn' Chỉ tiêu có mã số 420 (mẫu số BO 1 b - DNN)

Đế thuận tiện cho việc đánh giá khái quát xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng về độc lập tài chính theo thời gian, có thể lập bảng sau:

Bảng 4.4- Đánh giá khái quát xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng độc lập tài chính

theo thời gian (%) Chỉ số Cuối năm N Cuối năm (N+l) Cuối năm (N+2)

Trang 12

4.4 Đánh giá khái quát thanh khoản và khả năng thanh toán

4.4.1 Thanh khoản, khả năng thanh toán và nội dung đảnh giá

Nói đến thanh khoản là nói đến khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền đổ đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn mà ít chịu tác động của giá bán (giá thị trường) của tài sản (Gibson, 2013; Subramanyam, 2014) Khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản càng cao, tính thanh khoản càng cao và ngược lại, khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản càng thấp, tính thanh khoản càng thấp Khi tiền và tương đương tiền cùng với các tài sản ngắn hạn khác chiếm tỷ trọng càng thấp trong tổng số tài sản của DN, khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản càng thấp dẫn đến tính thanh khoản của DN càng giảm Khi đó, khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tài trợ cho các hoạt động hiện tại cũng như khả năng ứng phó với các điều kiện kinh doanh thay đổi của DN càng thấp Ngược lại, khi tiền và tương đương tiền cùng với các tài sản ngắn hạn khác chiếm tỷ trọng càng cao trong tổng số tài sản của DN, khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản càng cao dẫn dến tính thanh khoản của DN càng cao, kéo theo khả năng ứng phó với các khoản nợ ngắn hạn và tài trợ cho các hoạt động hiện tại cũng như khả năng ứng phó với các điều kiện kinh doanh thay đổi của DN càng cao Chính vì vậy, thanh khoản có quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán ngắn hạn Nói cách khác, mức độ thanh khoản của DN được thể hiện và đo lường thông qua đo lường khả năng thanh toán ngắn hạn Mức độ thanh khoản của DN cao đồng nghĩa với khả năng thanh toán ngan hạn cao và ngược lại Việc đánh giá thanh khoản rất quan trọng và cần thiết đối với hầu hết các đối tượng quan tâm tới DN; bởi vì nếu DN không bảo đảm tính thanh khoản, DN sẽ không thể bảo đảm khả năng thanh toán ngắn hạn, và do vậy, DN rất dễ rơi vào tình trạng phá sản (Gibson, 2013)

Khả năng thanh toán nói chung phản ánh năng lực đáp ứng tất cả các khoản nợ phải trả của DN khi chúng đến hạn (bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, nợ gốc và nợ lãi) Khả năng thanh toán thường được đo lường bằng lượng giá trị tài sản hiện có của DN so với tông sô nợ mà DN đang gánh chịu Tuy nhiên, do khả năng thanh toán hướng tới việc đáp ứng các nghĩa vụ dài hạn, tập trung vào tính bền vững lâu dài của DN nên khi nói đến khả năng thanh toán, các nhà phân tích không chỉ chú trọng đến mối quan hệ trực tiếp giữa tài sản với nợ phải trả mà còn tập trung vào các thành phần trong cấu trúc nguồn vốn của DN (Mostyn, 2008; Robinson, 2015; Samonas, 2015; Lessambo, 2018)

Đánh giá khái quát thanh khoản và khả năng thanh toán của DN không chỉ nhằm mục đích cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được về mặt tổng thể, DN có bảo đảm khả năng đáp ứng tất cả các khoản nợ hay không mà còn cung cấp cho họ biết được cấu trúc nguồn vốn của DN cùng những thông tin liên quan đến mức độ biến động, xu hướng biến động và nhịp điệu biến động thanh khoản và khả năng thanh toán theo thời gian của DN Đánh giá khái quát thanh khoản và khả năng thanh toán của DN phải trả lời được các câu hỏi chù yếu sau:

1 DN có bảo đảm được tính thanh khoản và khả năng thanh toán nợ không? So với bình quân ngành, bình quân khu vực hay so với đối thủ cạnh tranh và so với các DN tiên tiến, điển hình, mức độ thanh khoản và khả năng thanh toán của DN là cao hay thấp?

Trang 13

2 Mối quan hệ giữa cấu trúc nguồn tài trợ tài sản của DN với khả năng thanh toán của

DN như the nào?

3 Tình hình biến động (tăng, giảm) thanh khoản và khả năng thanh toán trong kỳ của DN?

4 Xu hướng và nhịp điệu biến động (tăng trưởng) thanh khoản và khả năng thanh toán của DN theo thời gian?

4.4.2 Đánh giá khái quát thực trạng thanh khoản và khả năng thanh toán

Đế đánh giá khái quát thực trạng thanh khoản của DN, các nhà phân tích có thế sử dụng các chỉ số đo lường khác nhau như “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn”'7*, “Hệ

số khả năng thanh toán nhanh”'79

“Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” là một chỉ số thanh khoản đo lường khả năng của DN trong việc thanh toán các khoản nợ ngan hạn bằng TSNH Nói cách khác, chỉ số này phản ánh năng lực (khả năng) đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn của DN bằng tài sản ngắn hạn Qua chỉ số, người sử dụng thông tin biết được một đồng nợ ngắn hạn phải trả của

DN được bảo đảm bởi mấy đồng tài sản ngắn hạn về mặt lý thuyết, khi chỉ số này có trị số bằng một (=1), số tài sản ngắn hạn hiện có của DN đủ bù đắp số nợ ngắn hạn phải trả Trường hợp trị số của “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” nhỏ hơn một (<1), lượng tài sản ngắn hạn hiện có của DN không đủ để trả nợ ngắn hạn do DN sử dụng một phần nợ ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn Khi trị số của chỉ số này lớn hơn một (>1), số tài sản ngắn hạn hiện có của DN có thừa để trang trải số nợ ngắn

Tương tự, “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” cũng là một chỉ số thanh khoản đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của DN Qua đó, người sử dụng thông tin biết được năng lực (khả năng) đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn của DN bàng tài sản ngắn hạn hiện

có mà không tính đến sự hiện diện của HTK Trị số của chỉ số này càng cao, tính thanh khoản càng cao, dẫn đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng cao và ngược lại về mặt lý thuyết, khi “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” có trị số bằng một (=1), số tài sản ngắn hạn hiện có của DN (đã loại trừ giá trị HTK) có đủ để bù đắp số nợ ngắn hạn phải trả và ngược lại; nếu trị số của nó nhỏ hơn một (<1), lượng tài sản ngắn hạn hiện có của DN sau khi đã loại trừ bộ phận HTK không đủ để trả nợ ngắn hạn

Đối với việc đánh giá khả năng thanh toán chung (tổng thể) của DN, các nhà phân tích

sử dụng chỉ số “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát”178 179180 Chỉ số này phản ánh năng lực (khả năng) đáp ứng toàn bộ các khoản nợ của DN bằng tài sản Thông qua “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát”, người sử dụng thông tin biết được một đồng nợ phải trả của DN được bảo đảm bởi mấy đồng tài sản về mặt lý thuyết, khi chỉ số "Hệ số khả năng thanh toán tổng quát" có trị số bằng một (=1), toàn bộ tài sản hiện có của DN được tài trợ bàng nợ phải trả Lúc này, mặc dầu DN bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát nhưng tỷ lệ đòn bẩy tài chính và rủi ro tài chính ở mức cao Trường hợp trị số của “Hệ số khả năng thanh toán tống

178 Xem công thức [3.7] mục 3.2.2, Chương 3.

179 Xem công thức [3.8/ mục 3.2.2, Chương 3.

lỉi0 Xem công thức [3.6] mục 3.2.1, Chương 3.

Ngày đăng: 18/09/2022, 06:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w