Chương 3 HỆ THỐNG CHỈ SỐ TÀI CHÍNH • Mục tiêu chương 3 • Nhận diện bản chất và vai trò, mục tiêu của tài chính DN • Hiêu rô nội dung các nguyên tắc huy động và đầu tư tài chỉnh • Hiểu biết chỉ số tài.
Trang 1Chương 3
HỆ • THỐNG CHỈ SỐ TÀI CHÍNH
Mục tiêu chương 3
• Nhận diện bản chất và vai trò, mục tiêu của tài chính DN.
• Hiêu rô nội dung các nguyên tắc huy động và đầu tư tài chỉnh.
• Hiểu biết chỉ số tài chính từ cách thức thiết lập chỉ sổ đến vai trò, ỷ nghĩa của chỉ so tài chỉnh.
• Nắm vững các chỉ sổ tài chính chủ yếu từ tên gọi, nội dung phản ánh, công thức tính,
ý nghĩa kinh tế, trường hợp vận dụng cùng những hạn chế của việc sử dụng các chỉ
số tài chỉnh trong phân tích BCTC.
• Phân loại hệ thống chỉ số tài chính sử dụng phổ biến trong DN.
• Xác định, tỉnh toán và giải thích các chỉ sổ phản ánh cấu trúc tài chính, thanh khoản,
hiệu suất hoạt động, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán, giả trị thị trường, toe
độ tăng trưởng và dòng tiền.
3.1 Tổng quan về tài chính và chỉ số tài chính
3.ỉ ỉ Tài chỉnh doanh nghiệp
Tài chính DN92 là thuật ngữ phản ánh các hoạt động liên quan đến việc huy động và sử dụng vốn của DN để đầu tư tài sản nhằm phục vụ cho mục đích tạo ra lợi nhuận và tối đa hóa giá trị của cổ đông (Welch, 2009; McLaney, 2009; Vemimmen, 2014; Damodaran,2015) Nói cách khác, tài chính DN liên quan đến việc đưa ra quyết định đầu tư mà DN nên thực hiện và cách tài trợ tốt nhất cho những khoản đầu tư đó (McLaney, 2014) Theo đó, tài chính DN chính là những quan hệ kinh tế biếu hiệndưới hình thái giá trị, phát sinh trong quátrình kinh doanh, gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng vốn của DN Thuộc về tàichính DN bao gồm các mối quan hệ giữa DN với cơ quan QLNN, giữa DN với thị trường tài chính, giữa DN với các thị trường khác và quan hệ trong nội bộ DN
92 Corporate Finance.
Tài chính DN có vai trò quan trọng trong các hoạt động của DN Trên thực tế, các DN giữ vai trò huy động tiền từ các to chức, cá nhân và tiến hành đầu tư số tiền đà huy độngđược Nguồn tiền mà DN huy động và sử dụng có nguồn gốc từ các chủ sở hữu (cổ đông,người góp vốn) và từ người cho vay (ngắn hạn, dài hạn), từ người bán, người mua và từ các
tổ chức tài chính khác, số tiền huy động được DN đầu tư vào các tài sản khác nhau như đấtđai, máy móc, thiết bị, nhà cửa, hàng tồn kho, chứng khoán và DN tiến hành quản lý, sử dụng các khoản đầu tư vào HĐKD để tạo ra và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, thu về lợi nhuận
DN phải xây dựng chính sách phân chia lợi nhuậnphù hợp để đảm bảo trung hòa lợi ích cho các nhà đầu tư và hiệu quả hoạt động Điều đó cho thấy tài chính DN có vai trò hết sức quan
Trang 2trọng trong việc quyết định về nguồn vốn và mức độ tài chính cần huy động, về quyết địnhlựa chọn đầu tư và phân phối lợi nhuận.
Suy cho cùng, mục tiêu của DN là tối đa hóa giá trị của DN cho các chủ sở hữu Do vậy, tài chính DN khi đưa ra bất kỳ quyết định nào (quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợinhuận) cũng đặt ramục tiêu làm tăng giátrị DN Nhữngquyết định không làm tăng hay tăngkhôngđáng kể giá trị DN thường ít được lựa chọn và những quyết định làm giảm giá trị DN
sẽ bị loại bỏ Sựthành công hay thất bại của một DN phụ thuộc nhiều vào các quyết định tàichính Chính vì thế, khi ra các quyết định tài chính, nhà quản lý cần nắm vững các nguyên tắc đầu tư, nguyên tắc tài trợ và nguyên tắc phân phối Nguyên tắc đầu tư đòi hỏi DN phảixác định địa điểm, lĩnh vực đầu tư, ưu tiên đầu tư vào các dự án mang lại lợi nhuận cao trên
cơ sởdòng tiền được tạo ra và thời gian của các dòng tiền thu hồi cùng với các tác dụng mà
dự án mang lại Nguyên tắc tài trợ đòi hỏi phải điều chỉnh hợp lý nguồn vốn tài trợ cho các khoản đầu tư nhằm tối đa hóa giá trị của các khoản đầu tư được thực hiện và phù hợp vớibản chất của tài sản được tài trợ Việc kết hợp hợp lý giữa nguồn vốn vay, nợ với VCSHnhằm bảo đảm cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu với lợi ích của chủ nợ (chi phí đi vay) Nguyêntắc phân phối lợi nhuận đòi hỏi phải giải đáp được câu hởi dành bao nhiêu lợi nhuận
để tái đầu tư và bao nhiêu để hoàn trả cho các chủ sở hữu Trường họp các khoản đầu tư không đạt được hiệu quả tối thiếu, lợi nhuận nên trả cho các chủ sởhữu và ngược lại
Chức năng của tài chính DN thể hiện qua hoạt động tạo vốn và luân chuyến vốn, phân phối lại thu nhập và kiểm tra, giám sát quá trình luân chuyển vốn Chức năng tạo vốn giúp
DN tìm được các nguồn cung cấpvốn nhằm bảo đảm đủ vốn cho hoạt động của DN diễn ra
ổn định, đáp ứng mọi nhu cầu về vốn phát sinh trongquá trình kinh doanh Chức năng phân phối lại thu nhập nhằm tái cấu trúc nguồn vốn hợp lý, sử dụng lợi nhuận một cách có hiệuquả Chức năng kiểm tra, giám sát quá trình luân chuyển vốn giúp các nhà quản lý có các giải pháp thích họp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát đồng vốn
3.1.2 Chỉ số tài chính
Chỉ số tài chính là thuật ngữ dùng trong lĩnh vực tài chính chỉ những chỉ tiêu sử dụng
để đo lường và đánh giá các mặt hoạtđộng củamột DN, nhóm DN, ngành, nhóm ngành trên
cơsở các mối quan hệ được xác định từ các thông tin tài chính phản ánh trên BCTC (Mostyn,2008; Gibson, 2013; Subramanyam, 2014; Wahlen, 2015; Sherman, 2015; Robinson, 2015,Lessambo, 2018; Nguyễn Văn Công, 2019) Như vậy, chỉ số tài chính là một bộ phận củachỉ tiêu tài chính Chỉ tiêu tài chính phản ánh nội dung và phạm vi của đối tượng tài chínhnghiên cứu và được biếu hiện bằng số tuyệt đối (thông qua thước đo giá trị) hoặc sổ tươngđối (số lần, số %) Mỗi chỉ tiêu tài chính lại có nhiều giá trị khác nhau, phụ thuộc vào thời gian và không gian cụ thể vàđược gọi là trị số củachỉ tiêu Tùy thuộc vào góc độ xem xét, chỉ tiêu tài chính có thể chia thành chỉ tiêu thời điểm và chỉ tiêu thời kì (theo tính chất thời gian); chỉ tiêu chấtlượng và chỉ tiêu sổ lượng(theo tính chất và nội dung phản ánh); chỉ tiêu tài sản ngắn hạn, chỉ tiêu tài sản dài hạn (theo hình thái biểu hiện của tài sản); chỉ tiêu nợphải trả và chỉ tiêu VCSH (theo nguồn hình thành tài sản); chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu chiphí, chỉ tiêu kết quả (theo kết quả kinh doanh) Khác với chỉ tiêu tài chính, chỉ số tài chính lại được biểu hiện bằng số tương đối và được tạo thành từ sự kết họp ít nhất giữa hai khoản mục tài chính với nhau một cách có ý nghĩa Chỉ số tài chính được coi là phương tiện hay
Trang 3công cụ phản ánh nội dung tài chính Một nội dung tài chính có thể được phản ánh bởi một hay nhiều chỉ số tài chính khác nhau và ngược lại, một chỉ số tài chính có thểđược sử dụng
đế phản ánh một hay nhiều nội dung tài chính khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh và mụcđích sử dụng Nội dung phản ánh chính và phổ biến của chỉ số tài chính thường gắn liền với tên gọi của chỉ số; chẳng hạn, chỉ số “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” dùng để phảnánh khả năng thanh toán chung của DN Ngoài ra, chỉ số này còn được sử dụng để đánh giá chính sách sử dụng vốn, để phân tích cấu trúc tài chính hay phân tích rủi ro tài chính
Sử dụng các chỉ số tài chính trong phân tích BCTC sẽ góp phần giúp các nhàphân tíchchẩn đoán chính xác tình trạng tài chính, nắm bắt được những khó khăn, thuận lợi, thách thức hiện tại và tương lai của DN Tác dụng nổi bật của các chỉ số tài chính thể hiện thôngqua việc so sánh và đánh giá trị số các chỉ số tài chính của DN ở kỳ hiện tại với quá khứ, sovới kế hoạch, so với định mức hay so sánh và đánh giá trị số các chỉ số tài chính của DN ở
kỳ hiện tại với các trị số tương ứng đại diện cho nền kinh tế, cho ngành, nhóm ngành, so sánh với các đối thủ cạnh tranh
Chỉ số tài chính có thể được gọi bàng các tên gọi khác nhau, phụ thuộc vào đơn vị đolường, vào thói quen sử dụng và nội dung phản ánh hay cách thức tính toán, về cơ bản, têngọi các chỉ số tài chính sẽ bao gồm 2 phần kết hợp giữa đon vị đo lường với nội dung phản ánh (với những chỉ số tài chính thông dụng, sử dụng phổ biến) hoặc với cách thức tính toán(với những chỉ số tài chính không thông dụng) Cụ thể, nếu chỉ số tài chính sử dụng đơn vị tính là “%” sè có tên gọi tương ứng là “Tỷ suất” (dùng đối với các chỉ số tài chính phản ánhkhả năng sinh lợi), “Tỷ lệ” (dùng để so sánhhai đối tượng có quan hệ gần gũi với nhaumang
ý nghĩa nhất định như quan hệ nợ phải thu so với nợ phải trả hoặc ngược lại, quan hệ giữachi phí với doanh thu, quan hệ chi phí với kết quả ) hoặc “Tỷ trọng” (dùng khi xác địnhmức độ phô biến của bộ phận so với tổng thể như tỷ trọng từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng tài sản, tỷtrọng từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng nguồn vốn) Trường hợp chỉ
số tài chính sử dụng đơn vị tính là “lần”, tên gọi phổ biến tương ứng sẽ là “Hệ số” Riêng các chỉ số tài chính sử dụng đế đo lường khả năng sinh lợi, với đơn vị tính là “lần”, ngoàitên gọi “Hệ số” còn được gọi là “Sức sinh lợi” Tương tự, nếu chỉ số tài chính sử dụng đơn
vị tính là“vòng” (thường dùng đối với các chỉ số đo lường hiệu suất hoạtđộng hay hiệu suất thanh toán), tên gọi tương ứng của chỉ số sẽ là “Số vòng”; nếu chỉ số tài chính sử dụng đơn
vị tính là thời gian (ngày), tên gọi tương ứng sẽ là “Số ngày” hoặc “Thời gian”
Tuỳ thuộc vào góc độ nhìn nhận, hệ thống chỉ số tài chính có thế được chia làm các nhóm khác nhau Chẳng hạn, Mostyn (2008) chia hệ thống các chỉ số tài chính làm 5 nhóm(thanh khoản93 9495; khả năng thanh toán9'; khả năng sinh lợi95; lợi tức đầu tư96 và năng suất hoạt động97); Bragg (2012) chia hệ thống chỉ số tài chính thành nhóm (hiệu suất sử dụng tài
Trang 4sản95, hiệu quả hoạt động", dòngtiền700, thanh khoản, cấutrúc vốn và khả năng thanh toán'07,lợi tức đầu tư, hiệu quả thị trường702); Gibson (2013) chia thành 4 nhóm (thanh khoản, khảnăng đi vay705, khả năng sinh lợi, dòng tiền); Schmidlin (2014) chiathành 8 nhóm (khả năng sinh lợi, ổn định tài chính704, quản lý vốn hoạt động thuần705, mô hình kinh doanh700, chính sách phân phối lợi nhuận707, dành cho nhà đầu tư, định giá công ty705 và giá trị đầu tư709);Robinson (2015) chia các chỉ số tài chính thành 5 nhóm (chỉ số hoạt động770, thanh khoản, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi và chỉ số tài chính tích hợp777) Samonas (2015) chia thành 4 nhóm(khả năng sinh lợi, thanh khoản, khả năngthanh toán và hiệu suấthoạt động772); Sherman (2015) chia các chỉ số tài chính làm 4 nhóm (khả năng sinh lợi, thanh khoản, hiệusuất hoạtđộng, nợvà VCSH772); Lessambo (2018) lại chia thành 10 nhóm (thanh khoản, khảnăng thanh toán, khả năng sinh lợi, năng lực hoạt động, nợ phải trả774, hiệu quả hoạt động,dòng tiền, giá trị đầu tư775, chiến lược tài chính77*5 và phá sản777); Nguyễn Văn Công (2019)chia các chỉ số tài chính làm 6 nhóm (cẩu trúc tài chính, khả năng thanh toán, năng lực hoạtđộng, khả năng sinh lợi, giá trị thị trường775, tốc độ tăng trưởng779)
Do hoạt động của DNđa dạng với sự tham gia củanhiều yếutố, nhiềubộ phận và diễn
ra trong từng khoảng thời gian khác nhau nên các chỉ số cũng được xâydựng hết sức đa dạng nhằm đánh giá và phân tích sâu, rộng mọi mặt hoạt động của DN Các chỉ số tài chính nàytạo nên hệ thống chỉ số tài chính DN Tuỳ thuộc vào nội dung, nhiệm vụ phân tích cụ thể, các nhà phân tíchsẽ tập trung vào mộtsố chỉ sốtài chính nhấtđịnh Tuy nhiên, về phía ngườiquản lývà sử dụng thông tin nhất thiết phải thực sự nhận thức được tất cả các loại chỉ số tài
Trang 5chính Cũng cần lưu ý rằng các chỉ số tài chính cần phải được xem xét riêng biệt, gắn vớiđiều kiện và đặcđiểm hoạt động kinh doanh của DN và do đó, một chỉ số tài chính có thể có
ý nghĩa đối với DN này nhưng cũng có thể hoàn toàn vô nghTa đối với một DN khác Hơnnữa, trị số của các chỉ số tài chính được tínhtoánrakhông phải là đáp án của vấn đềtài chínhquan tâm bởi vì nó chỉ phản ánh một số khía cạnh trong hoạt động của DN, cho biếtđiều gì
đã xảy ratrong hoạt động của DN chứ không phải tại sao nó lại xảy ra Vì thế, chỉ sử dụng các chỉ số tài chính trong phân tích BCTC là không đủ để giải thích các BCTC của DN màcác nhà phân tích còn cần thiết phải xem xét các mục thông tin liên quan khác Mặt khác,việc sử dụng các chỉ số tài chính phải hết sức thận trọng vì chúng có thể không được so sánh chặt chẽ giữa các DN, giữa các thời kỳ bởi nhiều yếu tố như thông lệ, chuẩn mực kế toán;chính sách và chế độ kế toán khác nhau; tính chất và ngành nghề hoạt động khác nhau Hơnnữa, các chỉ số tài chính được tính toán dựa vào số liệu phản ánh quá khứ trên BCTC chứ không phải số liệu tương lai nên rất khó để có thể đưa ra các dự báo hợplý về các xu hướng trong tương lai trừ khi các chỉ số tài chính có tính ổn định
Việc sử dụng các chỉ số tài chính trong phântích BCTC cùng gặp phải mộtsố giới hạnnhất định Chỉ số tài chính chỉ cung cấp thông tin đơn giản về tình hình tài chính của DN sovới các kỳ trước và mỗi chỉ số tài chính chỉ đánh giá mối quan hệ tỷ lệ giữa hai khoản mụctài chính cụ thê mà không có một chỉ số tài chính nào có thể đưa ra kết luận chung về tình trạng hoạt động của DN Tính chính xác của chỉ số tài chính phụ thuộc vào tính chính xác,trung thực, khách quan của BCTC do các chỉ số tài chính được tính toán trên cơ sở dữ liệuBCTC Với những DN mới bước vào hoạt động, do trong năm đầu chưa có dữ liệu so sánh(dữ liệu gốc) nên không thể đánh giá được mức độ cải thiện trên từng chỉ sổ Việc so sánh
DN với trị số bình quân ngành của các chỉ số tài chính nhiều lúc không phản ánh được bảnchất sự việc do đặc điểm hoạt động của DN có thê khác xa đặc điểm chung củangành Hơn nừa, những chỉ số tài chính mà việc tính toán trị số liên quan đến tài sản, chi phí (các khoảnmục tính theogiá gốc) sẽ phải chịu những sai lệch vốn có trong kế toán giá gốc và do vậy sẽ làm sai lệch khả năng sinh lợi và các nội dung liên quan Mặt khác, các chỉ số tài chính cònchịu ảnh hưởng của việc lựa chọn chính sách kế toán, của các sai sót kế toán, của các ướctính kế toán, của việc thay đổi tỷ giá hối đoái và của các nhân tố khách quan như lạm phát,lãi suất Cuối cùng, để có thể đánh giámột cách toàn diện thực trạng tài chính của DN, nhà phân tích cần phải sửdụng một loạt các chỉ số tài chính khác nhau và những đánh giá đó có thể dẫn đến những kết luận sai lầm vì cácchỉ số tài chính này được tính toán đơn lẻ dựa trênmối quan hệ giữa hai khoản mục tài chính trở lên
Tóm lại, tuỳthuộc vào góc độ nhìn nhận, có thể có nhiều cách phân loại khác nhau đối với chỉ số tài chính, dẫn đến sự khác nhau về số lượng, tên gọi, cách tính cũng như ý nghĩa phản ánh của các chỉ sổ trongtừng nhóm Tuy nhiên, về cơ bản, các cách phân loại hệ thống chỉ số tài chính của các tác giả nói trên vẫn thống nhất, phục vụ cho mục đích biểu đạt các nội dung tài chính DN Theo chúng tôi, hệ thống chỉ số tài chính có thể phân thành 8 nhóm
cơ bản dùng đế phản ánh cấutrúc tài chính, thanh khoản, khảnăng thanh toán, hiệu suấthoạtđộng, khả năng sinh lợi, giá trị thị trường, tốc độ tăng trưởngvà phản ánh dòng tiền
Trang 63.2 Hệ thống chỉ số tài chính chủ yếu
3.2.1 Chỉ so tài chính phản ánh cấu trúc tài chính
Cấu trúc tài chính của DN thể hiện cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn mà qua đó, người sửdụng thông tin có thể nhận biếtđược chínhsách huy động và sử dụng vốn, mức độ độc lập tài chính, sựphù hợp của cơ cấu tài sản đầu
tư của DN Thuộc nhóm này thường bao gồm các chỉ số tài chính chủ yếu sau:
Tỷ trọng nợ phải trả chiếm trong
tổng nguồn vốn
Nợ phải trả Tổng nguồn vốn X 100
[3.4]
“Tỷ trọng VCSH chiếm trong tổng nguồn vốn” và “Tỷ trọng nợ phải trả chiếm trongtổng nguồn vốn”cho biết VCSH (hoặc nợ phải trả) chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn tàitrợ tài sản của DN Nói cách khác, cứ 100 đồng nguồn tài trợ tài sản của DN hiện có, cóbaonhiêu đồng VCSH và bao nhiêu đồng nợ phải trả Chỉ số này có trị số càng cao, VCSH (hoặc
nợ phải trả) càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn tài trợ tài sản của DN và ngược lại Mức độ phù hợp về trị số của chỉ số nàyphụ thuộc chủ yếu vào chính sách huy động vốn và lĩnh vực kinh doanh của DN
120 Equity Ratio (ER): Hệ sổ VCSH Chỉ sổ này còn được gọi bằng các tên khác như: hệ sổ tự tài trợ, tỳ suất tài trợ ”, tỷ suất
Trang 7chủ sở hữu Trị số của chỉ số này càng lớn, mức độ tài trợ tài sản bằng VCSH của DN càngcao và ngược lại.
Dưới một góc độ khác, chỉ số “Hệ số tài trợ” còn được sử dụngđể đánh giá mức độ tự chủ về mặt tài chính, đo lường khả năng thanh toán của DN Chỉ số này có quan hệ thuậnchiều với mức độ tự chủ tài chính và khả năng thanh toán của DN
“Hệsố khả năng thanh toán tổng quát” còn được sử dụng để đo lường và đánh giá khả năng thanh toán của DN Chỉ số này có quan hệ cùng chiều với khả năng thanh toán
3.2.2 Chỉ số tài chính phản ánh thanh khoản
Thanh khoản thể hiện khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản một cách nhanhchóng mà ít ảnh hưởng đến giá thị trường (giá bán) của tài sản Khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản càng cao, tính thanh khoản của tài sản càng cao và tất yếu sẽ làm tăng khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và các nghĩa vụ ngắn hạn đột xuất của DN Ngượclại, khi tính thanh khoản của tài sản giảm, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của DN sẽ giảm
Vì thế, tính thanh khoản thường gắn liền với khả năng thanh toán ngắn hạn Một DN nếu không thể thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn ắt sẽ phải ngừng hoạt động hoặc phá sản Thực
tế cho thấy: Các DN phá sản nhiều khi không phải vì DN kinh doanh không hiệu quả mà DNphá sản vì không có đủ lượng tiền và tương đương tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn Thực tế cũng cho thấy: Các DN đang kinh doanh có hiệu quả, khả năng sinh lợi cao vẫn có thể phá sản do cạn kiệt tiền vì lượng tiền của họ đã sử dụng để đầu tưvào hàng tồn kho hay bị chiếm dụng trong quá trình hoạt động (các khoản phải thu)
Tính thanh khoản của DN thường được đo lường qua các chỉ số tài chính sau:
Hệ sô khả năng thanh toán
toán tổng quát, hệ sổ tài sản trên nợ phái trả (TG).
Trang 8thanh khoản càng cao, dẫn đến khả năng thanh toán các khoản nọ ngắn hạn càng cao vàngược lại.
Hệ sô khả năng thanh toán nhanh'24
Với cách tính này, “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” chỉ quan tâm đến việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN khi chúng đến hạn chỉ bằng các tài sản có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền (là những TSNH có thể chuyến thành tiền trong vòng 90 ngày hoặc trong ngắn hạn như: tiền, các khoản tương đươngtiền, các khoản đầu tư ngắn hạn hoặcchứng khoán thị trường và các khoản phải thu ngắn hạn được coi là tài sản nhanh)
Hệ sô tiên và tương đương tiền'26
Tiền và tương đương tiền
Nợ ngăn hạn
[3.10]
“Hệ số tiền và tương đương tiền” (còn được gọi bằng các tên như: “Hệ số khả năngthanh toán tức thời”, “Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền” hay “Hệ số giữa tiền và tươngđương tiền so với nợ ngắn hạn”) là một chỉ số thanh khoản dùng để đo lường khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn của DN bằng tiền và các khoản tương đương tiền Trị số của chỉ
số này càng cao, tính thanh khoản của DN càng cao, dẫn đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng cao và ngược lại Chỉ số này nhận được sự quan tâm của các chủ nợ do chỉ có các khoản tiền và tương đương tiền được sử dụngđể trả nợngắn hạn Khi tính chỉ số này, giá trịhàng tồn kho, các khoản phải thu và giá trị các tài sản ngắn hạn khác bị loại khỏi phương trình bởi vì những tài sản này thực chất không được đảm bảo sẵn sàng để trả nợ vì DN cần phải mất một khoảng thời gian nhất định đế bán, để thu hồi chúng
Hệ số giữa tiền và tương đương _ Tiên và tương đương tiên
125 Acid Test Ratio.
126 Cash Ratio.
Trang 9“Hệ số giữa tiền và tương đương tiền so với TSNH” còn được gọi là “Hệ số khả năng chuyển đổi thành tiền của TSNH” cho biết tiền và tương đương tiền chiếm bao nhiêu phầntrong tổng TSNH Trị số của chỉ số này càng tiến gần đến 1, tiền và tương đương tiền chiếm trong tong TSNH càng cao, dẫn đến khả năng chuyến đổi thành tiền của TSNH càng cao,tính thanh khoản càng cao và ngược lại Khi trị số của chỉ số này bằng một (=1), TSNH chỉ
có mỗi tiền và tương đương tiền
Thời gian thu hồi
tiền hàng'27
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch
vụ
[3.12]
“Thời gian thu hồi tiền hàng” cho biết số ngày cần thiết để DN thu hồi tiền hàng bán
ra trong kỳ Thời gian thu hồi tiền hàng bán ra càng dài, tính thanh khoản càng thấp, tốc độthu hồi tiền hàng bán ra càng chậm, DN càng bị chiếm dụng vốn và ngược lại
Thời gian thanh toán
tiền hàng 127 128 129
127 Collection Period (days) or Days Sales Outstanding (DSO); Average Collection Period (ACP); Days Sales in Receivables;
nhau như: kỳ thu tiền bình quân, thời gian thu tiền, thời gian quay vòng các khoản phải thu, thời gian luân chuyển các khoản phải thu, thời gian thu hồi nợ, thời gian một vòng quay các khoản phải thu, (TG).
trả tiền bình quân, thời guan trả tiền bình quân, thời gian trà nợ, thời gian thanh toán nợ, sổ ngày trả nợ, , (TG).
chuyên HTK, thời gian quay vòng HTK, thời gian ỉ vòng quay HTK, (TG).
Thời gian kỳ Nợ phải trả người
nghiên cứu bán bình quân
[3.13] Giá vôn hàng bán
“Thời gian thanh toán tiền hàng”cho biết số ngày cần thiết đế DN thanh toán hếtlượngtiền hàng mua vào trong kỳ Thời gian thanh toán tiền hàng mua vào càng dài, tốc độ thanh toán tiền hàng mua vào càng chậm, tính thanh khoản càngcaodo DN chiếm dụng được càng nhiều vốn của người bán và ngược lại
Thời gian tôn kho' 29
[3.14] Giả vôn hàng bán trong kỳ
“Thời gian tồn kho” cho biết số ngày trung bình cần thiết để DN tiêu thụ hết lượng hàng tồn kho Cũng như thời gian thu hồi tiền hàng, thời gian tồn kho càng dài, HTK tiêu thụ càng chậm, hiệu quả kinh doanh sẽ càng giảm và ngược lại Trị giá HTK trong công thức[3.14] thường được tính theo giá trị bình quân Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng tính theo
Trang 10giá trị bình quân có thể dẫn đến sự sai lệch lớn hơn so với việc sửdụng số dư hàng tồn kho cuối kỳ (Sherman, 2015).
Chu kỳ chuyên _ Thời gian thu + Thời gian Thời gian thanh
đổi tiền 130 131 hồi tiền hàng tồn kho toán tiền hàng
131 Debt to Equity Ratio (D/E).
132 Debt Ratio hay Total Debt to Total Assets Ratio hoặc Liabilities to Assets Ratio (L/A).
“Chu kỳ chuyển đổi tiền” (hay “Chu kỳ chuyển đổi thành tiền”, hoặc “Thời gian chuyển đổi thành tiền”) cho biết lượng thời gian cần thiết để DN chuyển đổi các khoản đầu
tư và các nguồn lực khác vào kinh doanh thành tiền Thời gian chuyển đổi càng dài, tính thanh khoản càng thấp và ngược lại
3.2.3 Chỉ so tài chỉnh phản ánh khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán đề cập đến khả năng của DN trong việc hoàn thành, đáp ứng tất
cả các khoản nợ (bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) khi chúng đến hạn Có thể nói, khảnăng thanh toán là thước đo khả năng tài chính dài hạn và là yếu tố mang tính quyết địnhđến sựtồn tại lâu dài của DN (Mostyn, 2008; Robinson, 2015; Samonas, 2015; Lessambo, 2018) Nói đến khả năng thanh toán là nói đến khả năng đáp ứng tấtcả các nghĩa vụ của DN(bao gồm cả gốc và lãi); tức là nói đến các thành phần trong cấu trúc tài chính của DN (nợ phải trả, VCSH) Khác với thanh khoản chỉ đề cập đến khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ ngắn hạn, khả năng thanh toán hướng tới việc xác định các vấn đề trong dài hạn, tập trung nhiều hơn vào tính bền vững lâu dài của DN mà không chỉ đề cập đến các khoản thanh toán nợ ngắn hạn Một DN có các chỉ số đo lường khả năng thanh toán tốt là một DN
có uy tín và tài chính tốt hơn trong dài hạn Để đo lường khả năng thanh toán, các nhà phântích thường sử dụng các chỉ số tài chính phổ biến sau:
VCSH'3' = VCSH
“Hệ số nợ trên VCSH” phản ánh mức độ tài trợ tài sản của DN đến từ các chủ nợ vàchủ sởhữu Trị số của chỉ số này cho biết, ứng với 1 đồng tài trợ tài sản từ VCSH sẽ tương ứng với mấy đồng tài trợ từ nợphải trả Trị số của chỉ sổ này càng cao, mức độ tài trợtài sản
từ của chủ nợcàng cao, khả năng thanh toán càng thấp, DN phải đối mặtvới rủi ro càng lớn
và ngược lại Mức nợ quá nhiều có thể khiến DN gặp rủi ro cao nhưng nếu mức nợ quá ít lại
có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận chung DN
Trang 11giúp các nhà đầu tư và chủ nợ phân tích gánh nặng nợ tổng thể của DN và khả năng trả nợcủa DN trong những thời điếm kinh tế không chắc chắn trong tương lai.
Hệ số khả năng thanh toán Dòng tiên thu ân từ HĐKD
, í' - [3.I0J
nợ của dòng tiên 1” Nợ phải trả bình quân
“Hệ số khả năng thanh toán nợ của dòng tiền” (còn được gọi là “Hệ số giữa dòng tiềnthuần so với nợ phải trả”) cho thấy khả năngtrang trải tổng số nợ phải trả của DN bằng dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh hàng năm Trị số của chỉ số càng cao, khả năng thanh toán nợ của DN càng cao và ngược lại
Bên cạnh các chỉ số chủ yếu trên, khả năng thanh toán còn được đo lường qua các chỉ
số tài chính khác như “Hệ số tài trợ” (xem công thức [3.5]) và “Hệ số khả năng thanh toán tống quát” (xem công thức [3.6]) “Hệ số tài trợ” dùng để đo lường lượng tài sản được tàitrợbởi các chủ sở hữu Trị sổ của chỉ số này càng cao, mức độ tài trợ tài sản từ VCSH càngcao, dẫn đến khả năng thanh toán của DN càng cao, mức độ rủi ro càng thấp và ngược lại Tương tự, “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” cho biết chính sách sử dụng nợ phải trả trong tài trợtài sản của DN Chỉ số này có trị số càng lớn hơn 1, mức độ tham giatài trợtàisản củanợ phải trả càng thấp và do vậy, khả năng thanh toán của DN càng cao và ngược lại, khi “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” càng thấp, mức độ tham gia tài trợ tài sản từnợphải trả càng cao, khả năng thanh toán của DN càng thấp
3.2.4 Chỉ sổ tài chỉnh phản ánh hiệu suất hoạt động
Hiệu suất hoạt động hay năng lực hoạt động thể hiện chất lượng quản lý và sử dụngtài sản, nguồn vốn, công nợ, chi phí của DN để tạo ra thu nhập và lợi ích cho các thành viên.Năng lực hoạt động của DN cao là một trong nhữngđiều kiện cần thiết đế nâng cao khảnăngsinh lợi của DN Neu DN quản lývà sử dụng tài sản, nguồn vốn, công nợ không thành công,tất yếu chi phí sẽ vượt quá lợi nhuận, hiệu suất hoạt động sẽ thấp và ngược lại, nếu quản lýtốt, DN sẽ cần lượng vốn ít hơn, chi phí sẽ được kiêm soát tôt hơn, hiệu suất và hiệu quả hoạt động sẽ được cải thiện theo thời gian
Để đo lường hiệu suất hoạt động (năng lực hoạt động) của DN, các nhà phân tíchthường sử dụng các chỉ số tài chính phổ biến sau:
tien hang Nợ phái Ịhu người mua bình quân
“Số lần thu hồi tiền hàng” cho biết trong kỳ kinh doanh, DN có thể thu hồi các khoảntiền hàng bán ra (các khoản phải thu về tiền hàng bán ra) được mấy lần Nói cách khác, chỉ
số này cho biết số lần DN có thể chuyển các khoản nợ phải thu người mua thành tiền trong
kỳ kinh doanh Chỉ số này có giá trị càng cao càng cho thấy mức độ hiệu quả của DN trong việc thu hồi tiền hàng bán chịu từ khách hàng và ngược lại Xét ở một góc độ khác, chỉ số
133 Cash Flow to Debt Ratio or Cash Debt Coverage Ratio.
134 Accounts Receivable Turnover Ratio or Receivables Turnover Ratio- Chi so này còn có các tên gọi khác như: số lần thu
Trang 12này cũng có thể được dùng để đánh giá tính thanh khoản của DN Những DN có chỉ số nàycao, tính thanh khoản sẽ cao và khả năng chuyến các khoản nợ phải thu người mua thànhtiềnsẽ nhanh hơn cần lưu ý rằng, khi không có thông tin về tổng số tiền hàng bán chịu chongười mua trong kỳ, tử số của công thức [3.19] có thể thay bằng tổng số doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ trongkỳ.
Số lần thanh toán Tổng sổ tiền hàng mua chịu người bán trong kỳ
tien hang Nợ phải (rả người bán bình quân
“Số lần thanh toán tiền hàng” dùng đo lường hiệu suất quản lý nợ phải trả của DN, chobiết trong kỳ kinh doanh, bình quân DN trả hết nợ cho người bán bao nhiêu lần Chỉ số này
có giá trị cao tức là số ngày thanh toán tiền hàng thấp (so với bình quân ngành hay so vớiyêu cầu của người bán) cho thấy DN không tận dụng hết các khoản tín dụng hiện có hoặc
DN chủ trương thanh toán sớm đế hưởng chiết khấu thanh toán Ngược lại, chỉ số này thấp,tức là số ngày thanh toán tiền hàng kéo dài có thể phản ánh những khó khăn của DN trongviệc thanh toán đúng hạn, hoặc DN đang khai thác triệt để các điều khoản ưu đãi của nhà cung cấp về thời gian thanh toán Khi tính toán chỉ số này, nếu không thu thập được thông tin liên quan đến tổng số tiền hàng mua chịu của người bán trongkỳ, tử số củachỉ số [3.20]
có thể thay bàng giá vốn hàng bán trong kỳ
số lần luân Doanh thu thuần
“Số lần luân chuyển tài sản” được dùng để đo lường hiệu suất sử dụng tài sản của DN trong việc tạo ra doanh thu thuần Chỉ số này cho biết cứ mỗi đồng tài sản của DN sè tạo ramấy đồng doanh thu thuần Nói cách khác, chỉ số này cho biết trong kỳ kinh doanh, tài sảncủa DN luân chuyển được mấy lần Trị số của nó càng cao, hiệu suất sử dụng tài sản của DNcàngcao, DN càng có điều kiện để nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngược lại
SỔ lần luân chuyển Giá vốn hàng bản
HTK bình quân
“Số lần luân chuyển HTK” dùng để đo lường hiệu suất quản lý HTK của DN, cho biếttrong kỳ kinh doanh, HTK luân chuyển được mấy lần; tức là số lần bình quân DN chuyểnHTK thành tiền trong kỳ Trị số của chỉ số này càng lớn, hiệu suất quản lý HTK càng cao, hiệu quả bán HTK càng cao và ngược lại Cũng như chỉ số “Số lần thu hồi tiền hàng”, chỉ số
“Số lần luân chuyển HTK” cũng có thể dùng để đánh giá tính thanh khoản của DN Những
135 Accounts Payable Turnover Ratio or Payables Turnover Ratio- Chỉ số này còn có các tên gọi khác như: sổ vòng quay các khoản phải trả, số vòng luân chuyển các khoản phải trá, sổ lần trà tiền, hệ số quay vòng các khoản phải trả, hệ sô quay’ vòng
nợ phải trả, (TG).
137 inventory Turnover Ratio - Chi số này còn có các tên gọi khác như: số vòng quay cùa HTK, số vòng luân chuyên của
Trang 13DN có số lần luân chuyển HTK cao, khả năng chuyển đổi từ HTK sang tiền sẽ cao, tínhthanh khoản sẽ cao.
Doanh thu thuần
3.2.5 Chỉ số tài chính phản ánh khả năng sinh lợi
Tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng giá trị DN là một trong những mục tiêuquan trọnghàng đầu của DN và khả năng sinh lợi chính là thước đo sự thành công của DN trong kinh doanh Khả năng sinh lợi phản ánh khả năng tạo lợi nhuận từ các nguồn lực cũng như khả năng kiểm soát chi phí và chuyển doanh thu thành lợi nhuận của DN (Gibson, 2013;Subramanyam, 2014; Wahlen, 2015; Nguyễn Văn Công, 2019) Khả năng sinh lợi phản ánhchất lượng quản lý và vị thế cạnh tranh củaDN trên thị trường Vì thế, khả năng sinh lợi thu hút được sự quan tâm từnhiều phía, đặcbiệt là từ các nhà đầu tư, bởi vì mối quan tâm chínhcủa họ là khả năng kiếm được lợi nhuận của DN Khả năng sinh lợi của DN thường đượcbiểu hiện qua một sốchỉ số pho biến sau:
- Sức sinh lợi của VCSH 138 139 :
138 Working Capital Turnover Ratio - Chi sổ này còn có các tên gọi khúc như: sổ vòng quay cùa vốn hoạt động thuần, số vòng
luân chuyển cùa vốn hoạt động thuần, hệ số quay vòng của vốn hoạt động thuôn, (TG).
139 Xem công thức [2.8], mục 2.2.2, Chương 2.
140 Xem công thức [2.11a], mục 2.2.2, Chương 2.
ROE là một chỉ số tài chính dùng để đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận từ các khoản đầu tưcủa chủ sở hữu vào DN Nó cho biết cứ mỗi đồng VCSH tạo ra bao nhiêu lợi nhuận.ROE là một thước đo quan trọng đối với các nhà đầu tư tiềm năng vì họ muốn biết mức độhiệu quả trong việc DN sử dụng tiền củahọ đểtạo ra lợi nhuận thuần cũng như mứcđộ hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu của bộ phận quản lý dể tài trợ cho hoạt động
và pháttriển DN ROEcàng cao, khả năng sinh lợi củaVCSH càng cao, hiệu quả kinh doanhcủa DN càng cao và ngược lại
- Sức sinh lợi của tài sản 140 :
ROA là chỉ số đo lường mức lợi nhuận sau thuế được tạo ra bởi tổng số tài sản của
DN trong một thời kỳ bằng cách so sánh thu nhập ròng với tổng tài sản bình quân Nói cách khác, ROA đo lường mức độ hiệu quả của DN trong việc quản lý tài sản để tạo ra lợi nhuận trong kỳ ROA có trị số càng lớn, mức doanh thu và lợi nhuận được tạo ra bởi tài sản của
DN càng cao, hiệu quả chuyển các khoản đầu tư vào tài sản thành lợi nhuận của DN càng cao và ngược lại
Trang 14- Sức sinh lợi của doanh thu thuần'4':
ROS làchỉ số tài chính được sửdụngđểđánh giá hiệu quả hoạt động của DN Nó cungcấp thông tin chi tiết về DN việc tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trên mỗi đồng doanh thu Nói cách khác, nó đo lường hiệu suất của một công ty bằng cách phân tích tỷ lệ doanh thu của công ty thực sựđược chuyển thành lợi nhuận của công ty
- Sức sinh lợi của vốn đầu tư : 141 142
141 Xem công thúc [2.9], mục 2.2.2, Chương 2.
tư, tỳ suất sinh lợi của vẻn đầu tư, (TG).
144 “Nguồn tài trợ thường xuyên ” còn được gọi với các tên khác như: nguồn vốn dài hạn, nguồn tài trợ dài hạn, vôn dài hạn, von sử dụng và được xác định bằng tông của VCSH và nợ dài hạn (TG).
143 Basic Earning Power Ratio (BEP or BEPR) - Chi so này còn được gọi với các tên khác như: hệ số sinh lợi cơ bân cùa tài
sản, tỳ suất sinh lợi cơ bủn của tài sàn, sức sinh lợi kinh tế cùa tài sản (Return On Total Assets - ROTA) (TG).
“Sứcsinh lợi của vốnđầu tư” (RO1C) là chỉ số cho biết một đồng vốn đầu tư bình quân (bao gồm VCSH và vốn vay) đem lại cho nhà đầu tư (chủ sở hữu và nhà cung cấp tín dụng) mấy đồng lợi nhuận sau thuế Khác với chỉ so ROE, ROIC cho biết mức lợi nhuận mang lạicho cả chủ sởhữu và chủ nợ
Lợi nhuận sau thuế của chủ sở hữu
Sức sinh lợi cùa n hà cung cấp tín dụng /-O n 7
vốn dầu tư = - í3- 24 ]
Vôn đâu tư bình quan
- Sức sinh lợi của vốn dài hạn 143 :
Việc đánh giá khả năng sinh lợi của DN không thể chính xác nếu khi đánh giá khôngliên hệ với số vốn đã đầu tưdài hạn vào DN đểtạo ra lợi nhuận, vốn dài hạn (hay nguồn tàitrợ thường xuyên144) là nguồn vốn mà DN được phép sửdụng cho mục đích đầu tư lâu dàivào các hoạt động Vì thế, khả năng sinh lợi của vốn dài hạn và việc không ngừng nâng caokhả năng sinh lợi của vốn dài hạn luôn chiếm được sự quan tâm của nhiều đối tượng
Sức sinh lợi Lợi nhuận trước thuế và lãi vay ]32 5J của vôn dài hạn yẬn dài hạn bình quân
ROCE cho biết một đồng vốn dài hạn bình quân sửdụng vào kinh doanh đem lại mấy đồng lợi nhuận trước thuếvà lãi vay Trị số của chỉ số càng lớn, sức sinh lợi của vốn dài hạncàng cao và ngược lại Có thể nói, ROCE phản ánh khả năng sinh lợi tính trên tổng nguồnlực (vốn dài hạn) của DN
- Sức sinh lợi cơ bản của tài sản 145 :
Sức sinh lợi cơ bản
của tài sản
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
[3.26] Tông tài sản bình quân
“Sức sinh lợi cơ bản của tài sản” cho biết một đồng tài sản bình quân đưa vào kinh