PAGE 80 MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Trong cuộc sống của mình, con người một mặt không ngừng khai thác tài nguyên thiên nhiên, mặt khác lại thải ra MT nhiều chất khác nhau, trong đó có những chất độc.
Trang 1đó chính là các vấn đề môi trường
Ngày nay, các vấn đề MT không dừng lại ở quy mô địa phương, mà đãphát triển đến quy mô toàn cầu Nhân loại đang đối mặt với một loạt vấn đề
MT toàn cầu như: lỗ thủng tầng ôzôn, mưa axit, hiệu ứng nhà kính, biến đổikhí hậu
Việt Nam là nước đang phát triển, vấn đề đẩy mạnh nền kinh tế theo xuhướng Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang được đặt lên hành đầu Do đó sẽkéo theo hàng loạt vấn đề MT cần được giải quyết
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã quan tâm và có nhữngchính sách đối với các vấn đề MT Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam đã ra chỉ thị 36/CT/TƯ ngày 25 tháng 6 năm 1998
về việc tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đạihóa đất nước Luật BVMT được ban hành ngày 27/12/1993 và bắt đầu có hiệulực từ ngày 10/1/1994 Luật BVMT Việt Nam năm 2005 được Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày29/11/2005; được Chủ tịch nước ký phê duyệt ngày 12/12/2005 về công bốluật và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006 (thay thế Luật BVMT năm1993) Điều 6 - Luật BVMT ghi rõ: “BVMT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn
Trang 2dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm BVMT, có quyền và trách nhiệmphát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BVMT”.
Trong quyết định số 1363/QĐ – TTg ngày 17/10/2001 Thủ tướng Chínhphủ đã chính thức phê duyệt đề án “Đưa nội dung BVMT vào hệ thống GDquốc dân” Đây là một chiến lược có tính đột phá trên con đường tiến tới xãhội hóa vấn đề giáo dục MT
Là một thị xã trẻ của tỉnh Quảng Ninh, Quảng Yên rất giàu tiềm năngphát triển kinh tế với những thế mạnh nổi bật về tài nguyên khoáng sản, tàinguyên rừng, biển… Ngoài ra Quảng Yên là địa điểm với các các di tích lịch
sử nổi tiếng, và các lễ hội Với những đặc điểm này, Quảng Yên được coi làthị xã phát triển mạnh về công nghiệp và dịch vụ du lịch Sự phát triển đó kéotheo nhiều vấn đề đáng báo động về MT như: ô nhiễm MT nước, ô nhiễm MTđất, ô nhiễm MT không khí… Những vấn đề này đã làm cho MT của thị xãxuống cấp, gây nên những hậu quả trước mắt và lâu dài cho cuộc sống củangười dân trên địa bàn thị xã nói riêng và ảnh hưởng đến vấn đề tài nguyên và
MT nói chung
Đứng trước những vấn đề đó các cấp, các ngành thị xã Quảng Yên đãtập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện các biện pháp BVMT và ngăn ngừa suythoái tài nguyên như: Thường xuyên tuyên truyền, GD và nâng cao ý thứccộng đồng về việc BVMT, bổ sung hoàn thiện các chương trình GD về việccần thiết phải bảo vệ tài nguyên và MT trong các trường học ở mọi cấp, tổchức các lớp tập huấn, đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm MT
Tuy nhiên, đối với học sinh tiểu học, việc GDBVMT trong trường THcũng vẫn chỉ được thực hiện theo phương thức chung như các vùng miền khác
Trang 3trong cả nước Đó là nội dung GDMT chung cho mọi vùng miền được tíchhợp vào các môn học và các hoạt động, chưa có những hướng dẫn từ cấp quản
lý giáo dục của thị xã về những nội dung GDMT cần thiết đối với địa bàn
Như chúng ta đã biết, trong trường TH, GDMT có thể tích hợp vàonhiều môn học Song Khoa học là môn học có lợi thế hơn cả vì ở môn học nàyngoài nhiều bài học nội dung toàn phần về MT, còn có riêng một chủ đề vớitên gọi là MT và Tài nguyên thiên nhiên ở lớp 5 Vì vậy việc tích hợp nhữngnội dung GDMTĐP trong dạy học môn Khoa học lớp 5 có thể mang lại hiệuquả cao Đã có nhiều nghiên cứu về GDMTĐP trong dạy học nói chung Songnghiên cứu về GDMTĐP cho HS thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh còn rấthiếm
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tích hợp nội dung GDMTĐP trong dạy học môn khoa học lớp 5”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử của GDMT
Từ khi xuất hiện trên trái đất sự sống của con người đã gắn chặt chẽ với
MT Cùng với thời gian, dân số tăng lên các nhu cầu của con người ngày càngtrở nên phức tạp hơn, sự hiểu biết về MT không đầy đủ khiến con người bắtđầu đối xử bạc đãi với MT Từ đó đã dẫn đến hàng loạt các vấn đề về MT nhưhiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ôzôn, Trái đất nóng lên, sự suy giảm rừng và
đa dạng sinh học, ô nhiễm MT, Con người ngày càng phải đối mặt vớinhững vấn đề MT nghiêm trọng và cấp bách Vì vậy mà Liên Hợp Quốc đã tổchức hội nghị Quốc tế về “Con người và MT” tại Stôckhôm (Thụy Điển) từngày 05/6 đến ngày 16/06/1972 Tại hội nghị này, các thành viên đã nhất trínhận định: “Việc bảo vệ thiên nhiên và MT là một trong hai nhiệm vụ hàng
Trang 4đầu của toàn nhân loại” (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hòa bình chống chiếntranh) Từ đó, ngày 05/06 hàng năm trở thành “ngày MT thế giới”
Từ ngày 13 đến ngày 22/10/1975, Chương trình GDMT quốc tế(Internation Enviromenatal Education Programmer - IEEP) đã tổ chức hộithảo quốc tế GDMT tại Bêôgrat (thủ đô Nam Tư cũ) Kết quả cuộc hội thảonày là đưa ra hiến chương Bêôgrat, trong đó đưa ra các nguyên tắc và cáchướng dẫn cho chương trình GDMT toàn cầu
Theo sau hội thảo Bêôgrat hàng loạt các hội thảo khu vực được diễn ra
ở Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh Tiếp theo là các hội nghịkhu vực, từ ngày 14 đến ngày 26 tháng 10 năm 1977 một Hội nghị quốc tế vềGDMT được tổ chức tại Tbilisi (Cộng hòa Grudia), gồm 66 đại biểu của 66nước thành viên của UNESCO Hội nghị này là đỉnh cao của giai đoạn xâydựng chương trình và đặt cơ sở cho sự phát triển GDMT trên bình diện quốctế
Tháng 9/1980 tại Băng Cốc (Thái Lan) có cuộc hội thảo Châu Á - TháiBình Dương với sự tham gia của 17 nước, từ ngày 17 đến 21/8/1987 tạiMaxtcơva (Nga), UNESCO và UNEP phối hợp tổ chức hội nghị quốc tế vềGDMT, với sự tham gia của 300 chuyên gia của 100 nước và các quan sátviên của Hội bảo vệ tài nguyên và thiên nhiên quốc tế (Internationnal UnionFor Convervation of Nature and Natural Resourse - IUCN) cùng các tổ chứckhác tham gia Hội thảo đã xây dựng chiến lược quốc tế về chương trình hànhđộng GDMT cho thập kỷ 90 là “Thập kỷ toàn thế giới cho GDMT”
Tóm lại, các Hội nghị Quốc tế về MT và GDMT đã làm được nhữngviệc như khẳng định tầm quan trọng của GDMT trong mọi cấp học, đề ra
Trang 5chương trình GDMT nói chung, đưa ra các mục tiêu và chiến lược hành độngquốc tế trong lĩnh vực GDMT [13].
2.2 GDMT ở Việt Nam
Ở Việt Nam, chương trình GDMT được đưa vào nhà trường phổ thông
từ năm 1981 cùng với kế hoạch cải cách GD lần thứ 3 Cũng bắt đầu từ đây,các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này được phát triển, đặc biệt làvấn đề lồng ghép, tích hợp nội dung GDMT thông qua các môn học của cáctác giả Nguyễn Dược, Phạm Đình Thái, Trần Bá Hoành, Nguyễn Phương Nga,Nguyễn Phi Hạnh
Về mục tiêu và phương pháp GDMT cho học sinh tiểu học nói chung
có những công trình nghiên cứu như: “Vị trí và bước đầu định hướng nộidung, biện pháp GDMT ở bậc tiểu học ở Việt Nam” của tác giả Phạm ĐìnhThái; “Một số biện pháp nâng cao GDMT cho học sinh tiểu học” của tác giảNguyễn Thị Vân Hương; “Hai phạm trù của khái niệm GDMT và mục tiêuGDMT ở trường tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Thấn
Về vấn đề tích hợp GDMT thông qua môn học có: “GDMT qua mônĐịa Lý” của tác giả Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Thị Thu Hằng; “GDMT quadạy học sinh thái học lớp 11 phổ thông trung học” - Dương Tiến Sỹ; “Thựchiện GDMT cho học sinh tiểu học thông qua môn tìm hiểu Tự nhiên và Xãhội” của tác giả Nguyễn Hồng Ngọc
Vấn đề tích hợp GDMTĐP thông qua môn học có “GDMTĐP qua mônĐịa lý lớp 8 cho học sinh tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng” của tác giả Đậu ThịHòa; “Tích hợp GDMTĐP trong dạy học các môn về tự nhiên và Xã hội chohọc sinh TH ở Đaklak” của tác giả Lê Thị Ngọc Thơm
Trang 6Qua nghiên cứu những công trình đã có chúng tôi thu được những kếtquả có liên quan đến đề tài của mình như sau:
- Các công trình nghiên cứu, tài liệu đều đề cập đến sự cần thiết phảiGDMT cho tất cả mọi đối tượng và tầm quan trọng của việc GDMT trong nhàtrường TH Trong đó hầu hết các ý kiến đều thống nhất GDMTĐP cho HS làđiều hết sức cần thiết và một biện pháp GD mang lại hiệu quả cao trong việchình thành thái độ, hành vi bảo vệ MT cho học sinh [16]
- Các tài liệu đều thống nhất phương hướng: ở bậc TH, GDMT đượctiến hành qua việc tích hợp vào các môn học như: Đạo đức, Âm nhạc, Mỹthuật và đặc biệt là các môn về Tự nhiên và Xã hội
- Về mục tiêu GDMT, các tài liệu cũng thống nhất với mục tiêu chungcủa hiến chương Belgrad (1975) đã nêu ra làm cơ sở để từ đó cụ thể hóa chotừng cấp học
- Về phương pháp GDMT, các tài liệu đưa ra một số phương pháp như:điều tra, quan sát, thuyết trình, tranh luận, nghiên cứu, tham quan, trò chơi, dãngoại, dự án để sử dụng trong những giờ học có tích hợp GDMT Ngoài ra,các hoạt động ngoại khóa sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDMT trong nhàtrường
Qua đó có thể thấy rằng việc nghiên cứu đưa GDMT vào trường THhiện nay là rất cần thiết và đặc biệt là vấn đề GDMTĐP cho HS tuy nhiên,vấn đề này vẫn chưa được nhiều nhà khoa học quan tâm đến, còn vấn đềGDMTĐP cho học sinh TH thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh thì chưa cócông trình nào được thực hiện
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần nâng cao chấtlượng GDMTĐP cho HSTH thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: GDMT trong trường TH.
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung GDMTĐP cho HSTH thị xã Quảng
Yên, tỉnh Quảng Ninh
5 Giả thuyết khoa học
Nếu trong dạy học môn Khoa học, GV biết tích hợp những nội dungGDMTĐP cho HSTH tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh một cách phù hợpvới điều kiện cụ thể ở từng địa phương thì chất lượng GDMTĐP cho thế hệ trẻ
sẽ được nâng cao, cụ thể sẽ hình thành những nhận thức đúng đắn về MTĐP, cóthái độ và có những hành vi tích cực đối với MTĐP cho HS
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc GDMTĐP
- Nghiên cứu thực trạng việc GDMTĐP của một số trường TH tại thị xãQuảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Xây dựng chương trình GDMT cho HSTH tại thị xã Quảng Yên tỉnhQuảng Ninh
- Thực nghiệm để kiểm định tính khả thi của chương trình GDMT đã đềxuất
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Đề tài tập trung nghiên cứu việc tích hợp nội dung GDMTĐP trong
dạy học môn Khoa học lớp 5 chủ đề MT và Tài nguyên Thiên nhiên
Địa phương nghiên cứu: thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
7.2 Phạm vi điều tra và thực nghiệm
Trang 8- Đối tượng điều tra: GV và HS tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh.
- Đối tượng thực nghiệm: HS lớp 5 thuộc các trường TH Yên GiangPhường Yên Giang và trường TH Cẩm La xã Cẩm La thị xã Quảng Yên tỉnhQuảng Ninh
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Đọc, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu nghiên cứu cótrước để làm sáng tỏ cơ sở lí luận cũng như cơ sở thực tiễn của đề tài
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng GDMT trong trường TH ở thị xã Quảng Yên tỉnhQuảng Ninh để tìm hiểu mức độ nhận thức về vấn đề MT và BVMT của GV
và HS, thực trạng hoạt động GDMT trong các trường TH ở thị xã Quảng Yêntỉnh Quảng Ninh
- Quan sát hoạt động GDMT ở một số trường TH ở thị xã Quảng Yên,tỉnh Quảng Ninh
- Đàm thoại, trao đổi với một số GV và HSTH về vấn đề MT, GDMT.Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:
Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của nhà lãnh đạo, những nhànghiên cứu về những vấn đề mà đề tài nghiên cứu
Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của việc GDMTĐPthông qua môn Khoa học lớp 5 ở TH
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để tổng hợp kết quả điềutra và thực nghiệm
9 Những đóng góp của luận văn
Trang 9- Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của việc GDMTĐP thôngqua môn Khoa học lớp 5 cho HSTH.
- Đề tài khái quát được những đặc điểm chung về thực trạng hoạt độngGDMT tại các trường TH ở thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh từ đó chọn ranhững vấn đề cấp thiết cần đưa vào tích hợp trong dạy học môn Khoa học lớp
5 cho HSTH tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
- Luận văn lựa chọn được những nội dung GDMTĐP Quảng Yên,Quảng Ninh cần thiết để tích hợp vào dạy học cho HSTH tại thị xã này
10 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận vàkiến nghị
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp nội dung
GDMTĐP thông qua môn Khoa học cho HSTH
Chương 2: Tích hợp nội dung GDMTĐP trong dạy học môn Khoa học
lớp 5 cho HSTH thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢPNỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUAMÔN KHOA HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THỊ XÃ QUẢNG YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH
1 Cơ sở lý luận của việc tích hợp nội dung GDMTĐP trong dạy học môn Khoa học lớp 5
1.1 Vị trí và mục tiêu GDMT trong trường TH
1.1.1 Vị trí của GDMT trong trường TH
Ở nước ta, trong chiến lược GDMT, giai đoạn đầu tiên là tập trung vào
HS ở phổ thông, GDMT cho HS không chỉ đạt kết quả trước mắt mà còn đạtkết quả lâu dài vì thế hệ trẻ vẫn còn ở trong quá trình phát triển nhận thức, thái
độ và hành vi Sự thành đạt của họ trong tương lai phụ thuộc vào quá trình
GD của chúng ta hơn bất cứ nhóm nào khác
Hiện nay, trường học được coi là một trong những nơi phù hợp và hiệuquả nhất để GDMT Vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tậptheo khuôn khổ chính quy, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức
Trong các bậc học, bậc TH là bậc nền móng của toàn bộ hệ thống GDquốc dân Khi đứa trẻ bước vào lớp 1, hoạt động chủ đạo của trẻ hoạt độnghọc tập thay cho hoạt động vui chơi như khi các em còn ở tuổi mẫu giáo.Trong giai đoạn nền móng này, khi các em đang dần định hình về nhân cách, ýthức trách nhiệm với cộng đồng, nếu chúng ta quan tâm GD một cách khoahọc, phong phú về MT và ý thức đối với MT cho HS sẽ để lại những dấu ấnsâu sắc không thể phai mờ trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em Bảnchất của tuổi thơ vốn dồi dào tình cảm gắn bó thiên nhiên bao quanh và ý thức
Trang 11sẵn sàng tham gia vào hoạt động công ích Đó là những thuận lợi để việcGDMT ở bậc TH đạt hiệu quả cao.
1.1.2 Mục tiêu của GDMT trong trường TH
Ở nước ta: Tại chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/06/1998 của Bộ chính trị vềtăng cường công tác BVMT trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước đã chỉ rõ: “Thường xuyên GD, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếpsống và phong trào quần chúng BVMT”
Bộ GD và đào tạo đã đưa ra mục tiêu GDMT chung cho các trường phổthông như sau:
“GDMT trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùnglà: Mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nghiệm đối với sự phát triển bềnvững của trái đất, một khả năng đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và mội nhâncách được khắc sâu nền tảng đạo lý về MT” [24]
Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra mục tiêu GDMT trong nhàtrường TH như sau:
- Về tri thức: cần trang bị cho HS hệ thống những kiến thức cơ bản banđầu về MT phù hợp với độ tuổi và tâm sinh lí của HS, cụ thể là phải làm cho
HS nắm bắt được những vấn đề sau:
+ Có những hiểu biết cơ bản, ban đầu về tự nhiên, về MT của nước ta.+ Nhận thức được mối quan hệ khăng khít, tác động lẫn nhau giữa conngười - xã hội - tự nhiên
- Về thái độ: Cần hình thành cho các em ý thức quan tâm đến MT vàthái độ, trách nhiệm đối với MT, cụ thể là:
+ Từng bước bồi dưỡng cho HS lòng yêu quý thiên nhiên, tình cảm trântrọng tự nhiên và tha thiết có nhu cầu BVMT
Trang 12+ Có ý thức về tầm quan trọng về MT trong sạch đối với sức khỏe củacon người, về chất lượng cuộc sống của chúng ta, xây dựng thái độ tích cựcđối với MT.
+ Thể hiện sự quan tâm tới việc cải thiện MT để có ý thức sử dụng hợp
lý chúng, không khoan nhượng trước thái độ và việc làm hủy hoại MT, gây ônhiễm MT một cách vô ý thức hoặc có ý thức
+ Có ý thức tuyên truyền, vận động mọi người cùng tham gia MT sống
- Về hành vi: Cần trang bị cho HS những kỹ năng ứng xử tích cực trongviệc BVMT, cụ thể là:
+ Có kỹ năng đánh giá những tác động của con người tới tự nhiên, dựđoán những hậu quả của chúng
+ Kỹ năng đề ra cách giải quyết đúng, thực hiện những biện pháp nhằmBVMT
+ Kỹ năng phổ biến những tư tưởng về thái độ quan tâm đến thiênnhiên
+ Tham gia tích cực, có hiệu quả vào các hoạt động giữ gìn vệ sinh,đảm bảo sự trong sạch của MT sống, tham gia tích cực vào việc bảo tồn vàphát triển nguồn tài nguyên
Như vậy, mục tiêu GDMT cho HSTH không chỉ dừng lại ở việc hìnhthành những nhận thức về MT, những vấn đề liên quan mà còn GD cho các
em thái độ và những hành vi BVMT phù hợp với lứa tuổi của mình [16]
Trang 13GDMT khác với nhiều lĩnh vực GD khác hay các môn học là nó phụthuộc vào địa điểm, đặc trưng của MT nơi GV tiến hành các hoạt động GD
Các phương pháp “GD trong MT”, “GD qua MT” mà không được tiếnhành thì khó có thể mang lại hiệu quả Nói cách khác, nếu GDMT mà đượctiến hành theo cách tách rời với MTĐP – MT gần gũi xung quanh HS - hoặc làchỉ tuân thủ theo các tài liệu GD đồng nhất hóa cho mọi địa phương thì khôngthể mang lại hiệu quả Vì để tiến hành GDMT, GV cần sử dụng MTĐP làmmục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện học tập, thực hiện nhiềuthao tác sư phạm để làm cho tài liệu học tập phù hợp với giai đoạn phát triểncủa HS
Trong khi đó từng MT xung quanh trẻ - MTĐP – do nằm ở các vị tríđịa lý khác nhau nên có những địa điểm tự nhiên khác nhau Các đặc điểm tựnhiên khác nhau này lại tạo ra những MT xã hội và văn hóa khác nhau Cuốicùng, các vấn đề MT xảy ra trong các khung địa phương khác nhau này cũngkhác nhau
Như vậy, tuy GDMT đều hướng tới BVMT chung – MT toàn cầu, song
ở từng địa phương, khu vực khác nhau thì mục đích, nội dung, phương pháp
và phương tiện GD cụ thể lại khác nhau
Vì vậy hiệu quả GDMT phụ thuộc vào trình độ nhận thức về vấn đền
MT và BVMT, khả năng sáng tạo của GV trong việc lựa chọn và việc sử dụngcác phương pháp sư phạm phù hợp với tình hình của từng địa phương cụ thể[18]
1.2.2 GDMT cần hình thành ở người học không chỉ những nhận thức
mà cả những hành vi cụ thể
Trang 14GDMT yêu cầu phải hình thành ở người học ở bất cứ độ tuổi nào khôngchỉ những nhận thức về MT, các vấn đề MT và BVMT mà còn phải hìnhthành những kỹ năng, thái độ và hành vi cụ thể đối với MT MT cụ thể đó baogiờ cũng là MT gần gũi với HS, còn các vấn đề MT cụ thể là những vấn đề
MT của địa phương Hay nói các khác, những hành động cụ thể, hành động tạichỗ đó không thể tách rời với MTĐP mà còn phải xuất phát từ địa phương đểgiải quyết những vấn đề MT, bảo vệ và cải thiện MTĐP
Như đã đề cập ở phần trên, từng địa phương khác nhau do những đặcđiểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, khác nhau nên những vấn đề MT từng địaphương cũng khác nhau Như vậy, ở điểm này tính địa phương cũng biểu thị
rõ rệt, GDMT đòi hỏi ở GV không những tri thức vững chắc về MT, các vấn
đề MT, bảo vệ và GDMT chung vào các hoàn cảnh MT cụ thể của từng địaphương
1.2.3 GDMT cần được tiến hành thông qua mọi môn học và các hoạt động trong trường học
Ở nước ta, GDMT được đưa vào hầu hết các môn học và các hoạt độngcủa trường TH Tùy theo đặc thù của từng môn học mà nội dung GDMT đượcđưa vào thành các tiết, các chủ đề TNXH, Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Đạo đức,
Kỹ thuật Những môn học còn lại nội dung GDMT được lồng ghép, liên hệtrong quá trình dạy học Tuy trong từng môn học nội dung GDMT được đưavào nhiều hay ít song chúng không thể thay thế nhau trong việc thực hiện cácmục tiêu GDMT
Tóm lại, mỗi môn học đều hướng tới thực hiện những mục tiêu GDMTquan trọng riêng Như vậy, để thực hiện tốt các mục tiêu GDMT cần phải coitrọng và tiến hành đồng đều mọi môn học và hoạt động ở trường TH
Trang 15Như vậy trong 3 đặc trưng nêu trên thì 2 đặc trưng đầu gắn với MTĐP.MTĐP vừa là nội dung phương tiện và là mục đích của GDMT.
1.3 Vai trò của MTĐP trong GDMT
Khi GDMT cho đối tượng HS địa phương nào thì cần phải cung cấpcho họ những hiểu biết cụ thể về thực trạng MT của địa phương đó Từ đó cóthể dần dần hình thành những hành vi BVMT thiết thực cho HS, nâng caochất lượng GDMT Bởi vì GDMT không chỉ có mục đích đơn thuần là hìnhthành nhận thức về MT mà còn cần GD hành vi, đạo đức MT cho thế hệ trẻ.Việc địa phương hóa trong GDMT cũng phù hợp với quy luật trong GD chotrẻ Muốn tạo cho trẻ có tình yêu thương nhân loại trước hết nó phải biếtthương yêu những người trong gia đình, tiếp theo là những người gần gũi vàsau đó là những người khác trong cộng đồng xã hội
Tuy mục đích cuối cùng của GDMT là hướng tới BVMT địa cầu, song
ở từng địa phương, từng khu vực khác nhau lại có mục đích, nội dung,phương pháp, phương tiện cụ thể khác nhau Để nâng cao chất lượng GDMTcho HS, đòi hỏi người GV không chỉ nhận thức được vấn đề MTĐP mà còn cókhả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và sử dụng phương pháp, phương tiệnsao cho phù hợp với tình hình của tình địa phương cụ thể
GDMT qua môn học thường bằng nhiều hình thức khác nhau như liên
hệ, lồng ghép, tích hợp Ở phạm vi nghiên cứu đề tài chúng tôi chỉ đề cập đếnvấn đề tích hợp GDMTĐP qua môn Khoa học lớp 5 cho HSTH Do đó chúngtôi đi nghiên cứu một vấn đề chung về tích hợp GDMT
1.4 Khả năng GDMTĐP qua môn Khoa học
1.4.1 Mục tiêu môn học
* Về kiến thức
Trang 16- Giúp HS lĩnh hội được một số tri thức ban đầu và thiết thực về:
+ Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người.Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm
+ Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật, động vật
+ Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng nănglượng thường gặp trong đời sống và sản xuất
+ Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin
để giải đáp Biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơđồ…
+ Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và dấu hiệu riêng củamột số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên
+ Vận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống
Trang 171.4.2 Đặc điểm của chương trình môn Khoa học ở TH
* Chương trình môn Khoa học được xây dựng theo tư tưởng tích hợpđược thể hiện ở điểm sau:
- Chương trình môn Khoa học xem xét Con người và sức khỏe – Vậtchất và năng lượng – Thực vật và động vật – MT và tài nguyên thiên nhiêntrong một thể thống nhất có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
- Các kiến thức trong chương trình môn Khoa học là kết quả của cáckiến thức của nhiều ngành khoa học như: Sinh vật, vật lý, hóa học, địa lý, lịch
Môn Khoa học lớp 5 được xây dựng trên cơ sở nối tiếp những kiến thức
về Tự nhiên, về sức khỏe con người của các lớp 1,2,3 và Khoa học lớp 4 Nộidung chương trình được cấu trúc đồng tâm, mở rộng và nâng cao theo 4 chủđề:
- Con người và sức khỏe
- Vật chất và năng lượng
- Thực vật và động vật
- MT và tài nguyên thiên nhiên
Chủ đề MT và tài nguyên thiên nhiên nhằm giúp HS nhìn lại mối quan
hệ giữa con người – tự nhiên và xã hội mà các em đã được học ở đầu cấp
1.4.3 Khả năng GDMTĐP qua môn Khoa học
Trang 18Từ nội dung về chương trình môn Khoa học cho thấy, môn Khoa học cókhả năng GDMT rất cao Cụ thể là:
- Tích hợp trong cấu trúc chương trình trong môn Khoa học rất phù hợpvới lĩnh vực GDMT
- GDBVMT là một trong các mục tiêu của môn Khoa học Mục tiêu nàyđược thực hiện không chỉ qua chủ đề MT về tài nguyên thiên nhiên mà giữa
cả 3 chủ đề còn lại của môn Khoa học Vì vậy trong quá trình thực hiện mụctiêu GD BVMT chương này GV không những có thể mà còn cần thiết phảilồng ghép, tích hợp những nội dung của MTĐP vào các bài giảng Ngoài raMTĐP còn là không gian cho việc GDMT chung như đã làm sáng tỏ ở mục1.2, 1.3
Trong nội dung chủ đề “MT và tài nguyên thiên nhiên” của môn Khoahọc lớp 5, các nội dung truyền thụ cho học sinh hoàn toàn phù hợp với đặctrưng của thị xã Quảng Yên Một MT bị ô nhiễm, với sự phá rừng, lấn biển đểxây dựng nhà cửa, các công trình kinh tế của thị xã Quảng Yên như hiện naythì các bài học “Tác động của con người đến MT không khí và nước” có thểgiúp học sinh liên hệ với hiện trạng MT xung quanh và hiểu rõ về những kiếnthức khoa học được cung cấp qua bài học, làm cơ sở để hình thành những kỹnăng, hành vi cải thiện MT “Tác động của con người đến MT đất” cùng vớinhững hậu quả của nó là bài học quý giá đối với HS ở thị xã về việc không xảrác bừa bãi để không gây ô nhiễm MT đất Để HS thị xã Quảng Yên có nhữnghành động thiết thực trong việc BVMT thị xã Quảng Yên thì nội dung bài 68(Khoa học, lớp 5) “Một số biện pháp BVMT” giúp các em thể hiện tình yêuquê hương thị xã Quảng Yên, BVMT thị xã Quảng Yên giàu đẹp bằng cácbiện pháp của mình
Trang 19Vì vậy môn Khoa học có khả năng GDMT rất cao Quan trọng là độingũ GV thị xã Quảng Yên truyền tải như thế nào để nội dung GD của mônKhoa học trở thành việc làm thiết thực BVMT ở các thế hệ HSTH thị xãQuảng Yên.
1.5 Tích hợp GDMT trong dạy học
1.5.1 Khái niệm về tích hợp
Trong các tài liệu nghiên cứu về khoa học tích hợp, người ta phân chiachúng thành hai xu hướng, đó là xu hướng tích hợp các khoa học trong quátrình phát triển và xu hướng tích hợp các môn học trong quá trình dạy học.Hình thái khoa học ở thế kỷ XX đã chuyển từ phân tích sang cấu trúc tổnghợp và hệ thống làm xuất hiện các gian ngành, liên ngành với tốc độ phát triểnngày càng nhanh, các thông tin khoa học cập nhập ngày càng nhiều Trong khi
đó dạy học phản ánh sự phát triển của khoa học, và vì thời gian học tập trongtrường không thể kéo dài nên xuất hiện xu hướng dạy từ các môn học riêng rẽsang dạy tích hợp các môn học
Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, kháiniệm quen thuộc, các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựatrên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các mônhọc đó
Tích hợp GDMT là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thứcGDMT và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽvới nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cậptrong bài học [21]
1.5.2 Các hình thức tích hợp
Trang 20Nhiều công trình nghiên cứu [13], [14] đều thống nhất 3 hình thức tíchhợp nội dung GDMT như sau:
a) Hình thức tích hợp (Integration): Ở hình thức này một phần nội dungcủa môn học chính là nội dung GDMT được đưa vào MT có thể là một chủ đềhay một số bài học trọn vẹn
b) Hình thức lồng ghép (Infusion) : Ở hình thức này một số kiến thứcmôn học cũng chính là kiến thức GDMT được đưa vào chương trình và sáchgiáo khoa theo các mức độ khác nhau:
+ Có thể chiếm một mục, một đoạn hay một vài câu trong bài học
+ Có thể là các bài đọc thêm sau bài học chính nhằm bổ sung kiến thức vềGDMT
c) Hình thức liên hệ (Permeation): Ở hình thức này các kiến thứcGDMT không được nêu rõ trong sách giáo khoa, nhưng dựa vào kiến thức bàihọc, người GV có thể bổ sung các kiến thức bằng cách liên hệ các kiến thứcGDMT vào bài giảng cho phù hợp
Dựa vào các hình thức tích hợp GDMT trên đây, có thể phân biệt được
3 loại bài khác nhau cho phép tiến hành GDMT:
- Loại 1: Toàn bài có nội dung GDMT
- Loại 2: Bài học có một số nội dung lồng ghép với GDMT
- Loại 3: Bài học có một hoặc nhiều chỗ có khả năng liên hệ, bổ sungthêm kiến thức về MT
Đối với môn Khoa học, GDMT đã trở thành một phần nội dung quantrọng trong chương trình học tập của môn học này Nói cách khác, nội dungGDMT đã được các tác giả tích hợp trong khi xây dựng chương trình và biênsoạn sách giáo khoa Việc cần thực hiện với GV đứng lớp và bổ sung, liên hệ
Trang 21với các nội dung của MT từng địa phương để thực hiện tốt các mục tiêuGDMT đã được đề cập trong từng bài học.
Như vậy, để có thể thực hiện việc GDMT thông qua môn Khoa học, cầnphải tìm hiểu những nội dung đã được tích hợp vào chương trình và sách giáokhoa và những nội dung có thể tích hợp thêm, trong đó chủ yếu là các nộidung của MTĐP để vừa thực hiện tốt những mục tiêu đã được tích hợp, vừagắn việc GDMT nói chung với các MTĐP cụ thể [21]
1.6 Đặc điểm tâm – sinh lý của HSTH với việc tích hợp GDMTĐP trong dạy học
Đặc điểm tâm – sinh lý của HSTH đã được nhiều công trình nghiên cứu
và đề cập đến nhưng ở phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ quan tâm đến nhữngđặc điểm có thể chi phối đến quá trình học tập về GDMTĐP của HS để từ đó
có thể xác định nội dung cũng như phương pháp tích hợp GDMTĐP vào mônKhoa học lớp 5 cho HS Vì vậy, chúng tôi xin trình bày một số đặc điểm sau:
Trước khi bước vào trường TH MT sống của trẻ là gia đình và trườngmẫu giáo với những hoạt động vui chơi là chủ yếu Khi bước vào trường TH
MT sống của các em thay đổi, ở thời kỳ này các em có nhiều mối quan hệkhác như mối quan hệ với thầy cô, bạn bè, trường lớp, sách vở, đồ dùng họctập,… và lúc này hoạt động học tập của các em chuyển từ hoạt động vui chơisang học tập là chính Trước sự thay đổi này có thể tạo cho trẻ tâm lý e rè,lúng túng và thậm chí sợ sệt, khó hòa nhập được với MT sống mới Tuy nhiên
ở MT mới cũng tạo cho các em một thế giới mới đòi hỏi các em phải tìm tòi,khám phá do đó những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thời kỳ này sẽ tạo chotrẻ những ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc Vì vậy mà việc GDMT trong thời kỳ
Trang 22này là cần thiết, từ đó định hướng cho các em có được những tri thức và hành
vi lành mạnh, đúng đắn đối với MT xung quanh
Một trong những mục tiêu của GDMT là nhằm hình thành ở trẻ nhữnghành vi tương ứng, để thực hiện được những hành vi này buộc các em phảitrực tiếp tham gia vào các hoạt động, vì vậy nếu không xét đến đặc điểm cơthể sẽ có những hoạt động ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sự phát triển vềthể lực của các em Thời kỳ này khung xương của các em đang trong giaiđoạn phát triển và vẫn còn nhiều mô sụn Do đó cần tránh cho trẻ mang vácnặng và chú ý đến các tư thế hoạt động của trẻ khi tham gia các phong tràobảo bệ MT mà nhà trường, xã, phường…tổ chức
Hơn nữa hệ thần kinh của các em đang trong thời kỳ phát triển mạnh,khả năng kìm hãm của hệ thần kinh còn yếu cho nên trẻ rất dễ bị kích thích,kích động Do đó trong quá trình hình thành thói quen và hành vi BVMT GVphải là người thường xuyên quan sát, theo dõi hoạt động của các em để từ đónhắc nhở giúp hình thành ở trẻ tính tự chủ, lòng kiên trì, biết kìm hãm bảnthân trước hoàn cảnh
Trong thời kỳ này các cơ quan nội tạng của trẻ như hệ thần kinh tuầnhoàn, hệ hô hấp,…vẫn chưa thật hoàn chỉnh Vì vậy khi tổ chức các hoạt độngcần tránh cho các em hoạt động mạnh, tiêu cực có thể làm ảnh hưởng đến tim.Đồng thời cũng nên để tránh những nơi có ô nhiễm MT như ô nhiễm khôngkhí (khói thuốc, bụi xe, bụi đường,…) làm ảnh hưởng và tổn thương đến phổicủa các em
Đối với HSTH nhận thức cảm tính vẫn chiếm ưu thế Do đó để GDMTđạt hiệu quả cao thì cần phải chú ý mặt biểu hiện của kiểu nhận thức này để từ
Trang 23đó có cách thức GD phù hợp đối với nhận thức của các em Đặc điểm nàyđược biểu hiện cụ thể sau:
- Về tri giác: ở thời kỳ này nhận thức các sự vật - hiện tượng của các emcòn dựa trên tư duy cảm tính (chủ yếu là bằng trực giác) do đó quá trình nhậnthức của các em còn mang tính đại thể chưa đi sâu vào những thuộc tính bảnchất của sự vật, hiện tượng, vì vậy mà các em thường nhầm lẫn sự vật - hiệntượng này với sự vật - hiện tượng khác Bên cạnh đó tâm lý trẻ thời kỳ nàyđặc biệt thường thích quan sát những sự vật - hiện tượng có màu sắc sặc sỡ,sinh động đây cũng chính là điều kiện thuận lợi khi GDMT cho các em Tuynhiên trong GDMT đặc biệt là khi giao nhiệm vụ cho HS quan sát, tìm hiểu
MT xung quanh GV cần hướng dẫn các em cách nhìn nhận và phát triểnnhững thuộc tính chủ yếu của sự vật - hiện tượng đồng thời trong quá trìnhgiảng dạy nên thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa như tham quan
MT thiên nhiên, tham quan nhà máy, công ty,… để các em có thể lĩnh hội cáctri thức bằng trực giác Bên cạnh đó trong các giờ học GV cũng nên sử dụngcác đồ dùng dạy học làm cho bài giảng trở nên sinh động để kích thích các emtìm hiểu, khám phá, kích thích hứng thú học tập ở trẻ, nâng cao hiệu quả GD
- Về trí nhớ: Đặc điểm trí nhớ các em thời kỳ này là trực quan hìnhtượng, các em có thể nhớ rất nhanh các sự vật, hình tượng mà các em tri giácđược và những sự vật – hình tượng mà các em được trực tiếp tham gia, trựctiếp hành động Đặc điểm này có ý nghĩa lớn đối với công tác GDMT, vì mộttrong những mục tiêu vô cùng quan trọng của môn học là nhằm hình thànhcho các em những hành vi BVMT, mà để những hành vi đó trở thành thóiquen cho các em thì biện pháp tốt nhất là cho các em được trực tiếp tham gia
Trang 24hoạt động, mà muốn có được những hành vi cụ thể để các em trực tiếp thamgia thì không gì có thể thay thế được MT xung quanh các em.
Từ những đặc điểm trên có thể nói rằng việc tích hợp GDMTĐP thôngqua môn học là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý của HSTH Đặcbiệt là môn khoa học mang nhiều nội dung GDMT sẽ là môn học có nhiều khảnăng tích hợp GDMT [16]
2 Cơ sở thực tiễn của việc GDMTĐP trong dạy học môn Khoa học lớp 5 cho HSTH tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
2.1 Thực trạng MT tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
2 1.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội của thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
Quảng Yên là một thị xã ven biển nằm ở phía tây nam của tỉnh QuảngNinh với tọa độ địa lý 20º45’06”-21º02’09” vĩ độ bắc, 106º45’30”-106º00’59”kinh độ đông thuộc vùng Đông bắc Bắc Bộ Phía đông giáp với thành phố HạLong và vịnh Hạ Long, phía tây giáp với huyện Thủy Nguyên, thuộc địa phậnthành phố Hải Phòng, phía nam giáp với huyện Cát Hải, cũng của thành phốHải Phòng, ở phía bắc giáp với thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ tỉnhQuảng Ninh
Từ khi được nâng cấp nên thị xã đến nay, nền kinh tế của thị xã đã có
sự bước phát triển nhanh chóng, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao đã tạo điềukiện thuận lợi để thị xã Quảng Yên phát triển các lĩnh vực xã hội, cải thiện đờisống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an toàn xã hội, an ninhquốc phòng ngày được củng cố vững chắc
Trang 25Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế cao cũng là nguyên nhân làm cho MT
bị ảnh hưởng, suy thoái và vấn đề MT ngày càng trở nên bức xúc, là tháchthức lớn đối với sự phát triển bền vững của thị xã
Vậy thực trạng MTĐP ra sao? Theo tài liệu đánh giá của Sở tài nguyên
MT tỉnh Quảng Ninh cho chúng ta thấy cùng với sự phát triển kinh tế pháttriển - xã hội, MT tự nhiên của thị xã đang chịu sức ép mạnh của nhiều nguồntác động, đặc biệt, từ năm 1995 đến nay Các hoạt động gây ô nhiễm MT là:
- Vận chuyển than và các hoạt động liên quan
- Gia tăng dân số và phát triển dân số
- Chặt phá rừng ngập mặn, nuôi thủy sản ven bờ Khai thác quá mứccác nguồn tự nhiên từ rừng ngập mặn và đất bãi triều lầy ven biển
- Các hoạt động du lịch, dịch vụ, thương mại
- Giao thông vận tải: đường bộ, đường thủy [9]
a) Khai thác khoáng sản
Hoạt động khai thác than hàng trăm năm qua tại Quảng Ninh đã gâynhiều tác động mạnh tới MT: phá hủy cảnh quan; bụi và tiếng ồn trên côngtrường và khu vực xung quanh, dọc các tuyến vận chuyển; gây xói lở, bồi lắngdòng chảy; mất MT sống của động vật hoang dã do mất rừng; làm cạn kiệt và
ô nhiễm nguồn nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước mặt (sông, hồ) và nướcbiển ven bờ
Hoạt động vận chuyển than từ mỏ qua các sông, khu vực đông dân cư
và đường quốc lộ gây bụi, tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, phá hủyđường giao thông, ảnh hưởng tới sức khỏe người dân
Các bãi tiêu thụ than và chở than nằm ven bờ và trên sông Bạch Đằng,sông Chanh đã gây ô nhiễm nguồn nước
Trang 26Việc khai thác các loại khoáng sản khác cũng đã và đang gây ra nhiềuvấn đề MT bức xúc.
Các mỏ đất sét cũng không được quy hoạch tốt gây loãng phí tàinguyên Việc xây dựng nhiều nhà máy nhỏ lẻ gần khu vực dân cư không theomột quy hoạch phát triển công nghiệp chung cũng sẽ gây nhiều vấn đề MTcho các khu dân cư và sản xuất nông nghiệp
Việc khai thác cát tại các cửa sông ở Hoàng Tân làm gia tăng độ đụcnước biển, biến đổi các hệ sinh thái của sông và có nguy cơ gây sụt lún nềnmóng các công trình ven bờ khu vực dân cư trong tương lai.[9]
b) Gia tăng dân số và phát triển đô thị
Thị xã Quảng Yên có diện tích tự nhiên 33191,6 ha và dân số 13,6 vạnngười chiếm 5,4% diện tích tự nhiên và 12,7% dân số của tỉnh Quảng Ninh
Mặc dù tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên hàng năm giảm so với các nămtrước nhưng dân số đô thị lại tăng nhanh, thị xã Quảng Yên có 11 phường và 8
xã với dân số là 139.596 người năm 2011 Gia tăng dân số đô thị đã tạo ra sức
ép lớn về đất đai, tài nguyên và năng lượng, chăm sóc sức khỏe kéo theo đó làsức ép tới MT tự nhiên do nước và rác thải, khai thác nguồn nước ngầm chocấp nước và điện sinh hoạt Quy hoạch phát triển đô thị bộc lộ nhiều bất cậptrong quá trình phát triển Hoạt động lấn biển xây dựng các khu đô thị đápứng nhu cầu nhà ở cho người dân diễn ra ồ ạt MT nước bị ô nhiễm bởi đục dovật san lấp, bồi lắng và thu hẹp dòng chảy, gây suy giảm thành phần và sốlượng các loài sinh vật thủy sinh Các tuyến đường vận chuyển đát đá, chủyếu trên quốc lộ 18A gây bụi và tiếng ồn tới các khu dân cư [9]
c) Khai thác và nuôi trồng thủy sản
Trang 27Lợi thế về vị trí và địa hình đã tạo cho hoạt động nuôi trồng và đánh bắtthủy sản tại Quảng Yên phát triển mạnh.
Năm 2012, do thời tiết nắng nóng, mưa lớn thất thường nên tình hìnhnuôi trồng thủy sản trên địa bàn thị xã Quảng Yên gặp nhiều khó khăn Tuynhiên, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt hơn 5,680 tấn, trong đó sản lượngtôm đạt hơn 2,300 tấn
Đánh bắt xa bờ được chú trọng và quan tâm đầu tư nhưng còn số lượngtàu còn hạn chế Tàu khai thác gần bờ chiếm 97%, công nghệ lạc hậu, khaithác thiếu chọn lọc, năng suất khai thác thấp, sản phẩm chủ yếu là cá nhỏ, tiêuthụ trên thị trường tự do nên doanh thu thấp Nguy cơ làm cạn kiệt nguồn tàinguyên sinh vật do hoạt động ngày càng lớn do tập trung đánh bắt gần bờ,dùng chất nổ, hóa chất
Hoạt động nuôi trồng thủy sản diễn ra mạnh mẽ ở cả 3 vùng nước; ngọt,
lợ, mặn, đem lại nguồn thu lớn cho nhà nước và nhân dân Tuy nhiên, với hìnhthức nuôi quang cảnh còn tồn tại, đã và đang gây ô nhiễm MT nước, suy giảmdiện tích hệ sinh thái rừng ngập mặn và các hệ sinh thái đi cùng, xảy ra dịchbệnh chết hàng loạt các loài nuôi [9]
d) Các hoạt động du lịch, dịch vụ, thương mại
Quảng Yên được đánh giá là một vùng đất có khá nhiều tiềm năng đểphát triển du lịch, bên cạnh cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, Quảng Yên còn sởhữu khá nhiều di tích, danh thắng và các lễ hội truyền thống và đặc sắc Hơnthế nữa, nơi đây còn lưu giữ được không gian yên tĩnh, thanh bình của mộtlàng quê nông nghiệp thuần khiết Tuy nhiên du lịch Quảng Yên vẫn ở dạngtiềm năng, chưa trở thành điểm dừng của khách du lịch trong và ngoài nước
Trang 28Địa bàn thị xã Quảng Yên có khoảng hơn 200 di tích lịch sử văn hóa, trong đó
có một di tích quốc gia đặc biệt, 38 di tích quốc gia, 12 di tích cấp tỉnh
Quảng Yên còn có khá nhiều các lễ hội, trong đó có 3 lễ hội lớn được tổchức hàng năm như lễ hội Bạch Đằng, lễ hội Tiên Công, lễ hội Xuống Đồng.Vào mùa xuân, ở Quảng Yên có khoảng hơn 20 chùa làng mở hội, 30 từđường tổ chức ngày ra cỗ họ với tính chất như một lễ hội của dòng họ…không chỉ là vùng đất gắn với các di tích lịch sử văn hóa Quảng Yên cònđược biết đến với nghề thủ công đan ngư cụ truyền thống, tập trung tại vùngquê Hương Học, Nam Hòa với nhiều nghệ nhân sống bằng nghề…Một số ditích quan trọng như đình Phong Cốc, miếu Tiên Công, bãi cọc Bạch Đằng,Cây lim Giếng Rừng, đình Trung Bản… đã được xếp hạng quốc gia, đó làtiềm năng cho ngành du lịch của thị xã phát triển [9]
2.1.2 Hiện trạng MT thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
2.1.2.1 Môi trường không khí và tiếng ồn
Hoạt động vận chuyển than và đất đá san lấp mặt bằng các khu đô thị
đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến MT không khí của thị xã Quảng Yên.Tình trạng này đã diễn ra nhiều năm nay trên các tuyến đường quốc lộ, hàmlượng bụi lơ lửng đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Tiếng ồn phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, tác động trựctiếp đến công nhân lao động trực tiếp như: Sản suất cơ khí, khai thác đá, sàngtuyển than Hiện nay chưa có điều tra ở tỷ lệ mắc bệnh điếc nghề nghiệp tạcác nhà máy, nhưng kết quả quan trắc năm 2009 – 2011 cho thấy: Phần lớncác điểm nằm trên trục đường quốc lộ 18A tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn chophép 1,0 đến 1,5 lần [6,7]
2.1.2.2 Môi trường nước
Trang 29Hiện nay, vùng ven biển Quảng Ninh nói chung và vùng biển thị xãQuảng Yên nói riêng đã và đang chịu sức ép rất lớn về ô nhiễm MT do tácđộng của các nguồn thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, hoạt động lấn biển,các hoạt động vận tải thủy và sự phát triển mạnh của việc nuôi trồng thủy sảngây ra.
Tại các ven bờ biển thị xã Quảng Yên đã có những biểu hiện ô nhiễmcục bộ do tăng lượng chất rắn lơ lửng (TTS), giảm ôxi hòa tan (DO), tăng nhucầu ôxi sinh hóa và hóa học (BOD, COD), nitơrit và khuẩn gây bệnh Coliform
… do ảnh hưởng của các khu dân cư gần bờ, gây độ đục quá tiêu chuẩn chophép 1,0 đến 1,5 lần (theo TCVN 5943 – 1995) và những tác động xấu tớichất lượng nước ven biển Quảng Yên
Độ đục của nước tại khu vực ven biển Quảng Yên gia tăng rất lớn dorửa trôi từ các khu vực lấn biển
Chất lượng nước sông ở các vùng sông Chanh – Hà Nam, sông BạchĐằng… bị ô nhiễm do chất thải sinh hoạt hàng ngày (rác thải, nước thải), sảnxuất có khí gây hiện tượng phú dưỡng hoặc nhiễm độc nước sông, hồ
Kết quả của các nghiên cứu trước đây về hàm lượng dầu trong nước chỉ
ra rằng Quảng Yên bị ô nhiễm cục bộ bởi dầu Hàm lượng dầu trong nước ởmột số khu vực cao hơn giới hạn cho phép hàng chục lần, nguyên nhân là docác hoạt động tàu thuyền chở hàng hóa, chở than, đánh bắt cá …
Vì vậy, việc kiểm soát được các nguồn gây ô nhiễm đổ ra biển là mộtnhiệm vụ cấp bách [7]
2.1.2.3 Môi trường sinh hoạt đô thị
Do quá trình đô thị hóa nhanh, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứngđược nhu cầu thực tế, sự gia tăng các phương tiện giao thông, các khu dân cư
Trang 30nằm quá gần các khu công nghiệp vận chuyển than, khai thác đá, đất…đây lànguyên nhân làm cho chất lượng MT không khí ở các đô thị trên địa bàn thànhphố giảm, thậm chí có những chỉ tiêu vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt
là tình trạng ô nhiễm bụi, tiếng ồn và một số chỉ tiêu khí thải vô cơ
Hiện nay, hệ thống thu và xử lý rác thải sinh hoạt của thị xã Quảng Yênchưa hiệu quả, phần lớn lượng nước thải thải trực tiếp, dẫn đến tình trạngnước ở các lưu vực đó giảm, có những lưu vực đã có những dấu hiệu ô nhiễm
về BOD5, COD, Coliform… Ngoài ra, một số nơi do hệ thống thu gom vàthoát nước thải không đồng bộ, không được nạo vét thường xuyên hoặc đãquá cũ không đáp ứng được tình hình thực tế, đã gây ra tình trạng ngập úngcục bộ vào mùa mưa ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân và cảnh quan đôthị [6], [7]
2.1.2.4 Môi trường công nghiệp
Nhìn chung các nhà máy xí nghiệp của thị xã Quảng Yên đã được cảithiện đáng kể như vệ sinh sạch đẹp, tỉ lệ cây xanh tăng lên, cải tiến thiết bịnhằm giảm tác động tới công nhân, công tác BVMT được quan tâm chú trọnghơn Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề tồn tại chưa giải quyết được: 100% cơ
sở sản xuất cũ chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, ô nhiễm MT do hậu quảvận chuyển than còn nặng nề Qua kết quả quan trắc cho thấy chất lượng MTnước tại tất cả các điểm quan trắc cho thấy chất lượng MT nước tại tất cả cácđiểm quan trắc của ngành than đều vượt tiêu chuẩn mức A, nằm ở mức B hoặcvượt quá mức B đối với tiêu chuẩn nước mặt TCVN 5942 – 1995 và nước thảiTCVN 5945 – 1995 Các chỉ tiêu vượt tiêu chuẩn cho phép chủ yếu là TSS,COD tương đối cao, pH có tính axít cao tại các hồ chứa nước thải
Trang 31Chất thải rắn do công nghiệp ở thị xã Quảng Yên là rất lớn, có bản là docác khu công nghiệp thải ra, một số lượng không nhỏ chất thải của công ty chếbiến thủy hải sản, sản xuất đông lạnh, nước giải khát,… Ngoài ra, còn có mộtlượng chất thải đáng kể từ ngành xây dựng, ngành y tế,… chất thải côngnghiệp của thị xã hiện nay chưa được xử lý riêng biệt mà thu gom tập trung,
xử lý cùng rác thải sinh hoạt [6], [7]
2.1.2.5 Môi trường đất
Quảng Yên nằm trong khu vực chuyển tiếp của vùng núi Đông Bắc nênmang tính chất của nhóm đồi núi Theo đặc tính phân loại, Quảng Yên có cácnhóm đất chính sau: Đất đồi núi có diện tích 6100ha chiếm 18,3% diện tíchphân bố ở khu vực phía bắc thị xã, đất đồng bằng có diện tích gần 14880hachiếm 44,6% diện tích đất đai: Đất bãi bồi cửa sông ven biển gồm các loại đấtmặn và đất cát có diện tích gần 12300ha chiếm 37,1% diện tích phân bố củacác khu vực ven biển và cửa sông
Quá trình phát triển kinh tế xã hội và diễn biến bất thường của điều kiện
tự nhiên đã gây ra tình trạng ô nhiễm MT, suy thoái tài nguyên đất đang cóchiều hướng gia tăng Đó là nguyên nhân việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế,
hạ tầng kỹ thuật với tốc độ cao nên san gạt các đồi cây tự nhiên và cây lâmnghiệp Lớp phủ thực vật bị mất đi, làm tăng nguy cơ sói mòn và rửa trôi đất
đá Tình trạng cháy rừng, phá rừng và khai thác khoáng sản trái phép vẫn cònxảy ra Diện tích đất trồng, đồi núi trọc vẫn còn nhiều dẫn đến sự bào mòn rửatrôi, đất bị trơ sỏi đá, khó có khả năng phục hồi Ngoài việc sử dụng mộtlượng lớn phân hóa học, thuốc trừ sâu cũng làm cho chất lượng đất nôngnghiệp nghèo kiệt lượng mùn, giảm độ phì của đất và đang làm nguyên nhân
Trang 32làm giảm số lượng của nhiếu loại vi sinh vật có ích Điều đó dẫn đến việc đấtđai bị thoái hóa, chất lượng đất giảm dần, MT đất bị ô nhiễm [9].
2.2 Thực trạng GDMT ở một số trường tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
2.2.1 Nhận thức của GVTH thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Để tìm hiểu nhận thức của GV ở các trường TH ở thị xã Quảng Yêntỉnh Quảng Ninh, chúng tôi đã tiến hành điều tra GV của các trường TH, nằm
ở những khu vực khác nhau của thị xã Quảng Yên và các vùng lân cận Dựatrên kết quả thu được của 104 phiếu hợp lệ, chúng tôi tiến hành tổng hợp vàđánh giá như sau:
* Về khái niệm MT
100% GV được điều tra đã đồng ý với ý kiến: “MT là toàn bộ hệ thống
tự nhiên và xã hội trong đó con người sinh sống và lao động” Điều này chứngtỏ GV đã có nhận thức đúng đắn về khái niệm MT
* Đối với tình hình MT và BVMT nói chung
100% GV được điều tra lựa chọn nhận định: “Trái đất là một hệ sinhthái khổng lồ, là ngôi nhà chung của mọi loài sinh vật chứ không phải giànhriêng cho con người Mỗi loài sinh vật đề có quyền sinh sống và hoạt độngtrên trái đất”; “ Nếu trẻ em được GD cách tôn trọng MT xung quanh sẽ gópphần giữ gìn MT trên toàn thế giới này” Như vậy có thể kết luận rằng kết quảđiều tra cho thấy hầu hết GVTH đều có nhận thức đúng đắn về MT và BVMT
* Đối với tình hình MT và BVMT ở Việt Nam
Có 62.5% GV lựa chọn nhận định: “Một trong những nguyên nhânchính gây ô nhiễm MT ở nước ta là do chính sách phát triển chưa thật phù hợp(chỉ chú trọng phát triển kinh tế phát triển xã hội, chưa quan tâm thích đáng
Trang 33đến BVMT và công tác bảo tồn)” 92% GV chọn câu trả lời “đồng ý” với ýkiến cho rằng đất nước muốn “phát triển bền vững đòi hỏi sự tiến triển đồngthời của cả ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội, MT” và 90% GV không đồng ý vớinhận định “Việc BVMT và tài nguyên thiên nhiên làm cản trở sự phát triểncủa kinh tế”.
Như vậy, có thể nói rằng phần lớn GVTH được điều tra ở thị xã QuảngYên đều nhận thức được sự liên quan giữa sự ô nhiễm MT và sự phát triểnkinh tế Tuy nhiên, họ lại khá lạc quan rằng: sự phát triển kinh tế không làmcản trở việc BVMT Thiết nghĩ, đây là biểu hiện của sự nhận thức chưa sâusắc Vì khi coi trọng mục tiêu BVMT thì cần sự duy trì phát triển kinh tế bềnvững, cần có sự cân nhắc kỹ càng khi triển khai các công trình phát triển kinh
tế chứ không thể tiến hành một cách ồ ạt được
* Đối với tình hình MT và BVMT ở thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
Kết quả của việc điều tra nhận thức về vấn đề MTĐP của GVTH thị xãQuảng Yên thể hiện qua biểu đồ 1
BIỂU ĐỒ 1
Nhận thức của GVTH thị xã Quảng Yên về các vấn đề MTĐP
Trang 34Vấn đề 1: Ô nhiễm do hoạt động vận chuyển than.
Vấn đề 2: Ô nhiễm do hoạt động động thổ tái định cư
Vấn đề 3: Ô nhiễm do hoạt động sản xuất và vận chuyển cát
Vấn đề 4: Ô nhiễm nước thải do sản xuất công nghiệp
Vấn đề 5: Ô nhiễm do việc xử lý rác thải khu dân cư
Vấn đề 6: Ô nhiễm do việc xử lý rác thải của bệnh viện
Vấn đề 7: Ô nhiễm do việc xử lý rác thải khu du lịch
Vấn đề 8: Ô nhiễm nguồn nước biển
Vấn đề 9: Xe cộ đi lại quá nhiều trên đường, do ống xả xe
Vấn đề 10: Chặt phá rừng bừa bãi
Biểu đồ 1 là kết quả trả lời của GVTH thị xã Quảng Yên với 2 mức độ:
“Là vấn đề nghiêm trọng” và “đang trở thành vấn đề” với 10 vấn đề ô nhiễm
MT nổi cộm ở thị xã Quảng Yên như đã trình bày ở mục 2.1 Kết quả chothấy, hầu hết GVTH được điều tra đều nhận thức đúng về các vấn đề ô nhiễm
MT ở thị xã Quảng Yên Trong đó, vấn đề ô nhiễm do vận chuyển than (vấn
đề 1 và 7) được nhiều GV lựa chọn nhất Kết quả trên không chỉ phản ánhmức độ nhận thức của GV về vấn đề ô nhiễm ở Quảng Yên mà còn phản ánhtình trạng ô nhiễm trầm trọng ở đây Vấn đề ô nhiễm ít được GV lựa chọn nhất
là vấn đề ô nhiễm nước biển (vấn đề 8: 38.3%) So với các vấn đề khác thì đây
là vấn đề ít gần gũi với GV nhất Vì phần lớn thời gian GV được trải nghiệmtrong trường học, trên “đất liền” Mặc dù như đã đề cập ở mục 2.1 thì đây làvấn đề nghiêm trọng ở thị xã Quảng Yên Như vậy, kết quả điều tra cho thấynhận thức của GV về các vấn đề ô nhiễm MT chủ yếu là do cảm tính chứkhông thông qua các nguồn thông tin chính thức
Trang 35* Hoạt động GDMT ở các trường TH của thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
Để tìm thực trạng hoạt động GDMT ở thị xã Quảng Yên, chúng tôi đãđưa ra 4 mức độ tích hợp, lồng ghép GDMTĐP như sau:
(1) Công tác GDMTĐP chưa được tiến hành
(2) GV chỉ truyền thụ những kiến thức về MT đã được tích hợp trongsách giáo khoa
(3) Ngoài những nội dung GDMT đã được tích hợp trong sách giáokhoa, GVTHường liên hệ, mở rộng cho HS về thực tế MTĐP
(4) Ngoài những nội dung GDMT đã được tích hợp trong sách giáo
khoa, GV thường xuyên liên hệ, mở rộng cho HS về thực tế MTĐP.
Chúng tôi yêu cầu GV tự đánh giá mức độ liên hệ nội dung GDMTĐPvào bài giảng của mình Sau khi tổng hợp, chúng tôi thu được kết quả ở biểu
đồ 2 như sau: mức độ GV lựa chọn nhiều nhất là mức độ 4 chiếm 65.8%; mức
độ 3 có 30.8%; mức độ 2 và mức độ 1 có 0% GV lựa chọn Như vậy có 30.8%
GV thỉnh thoảng liên hệ về GDMTĐP vào bài giảng của mình; có 65.8%GVTHường xuyên liên hệ và chỉ có 0% số GV không liên hệ nội dungGDMTĐP vào bài giảng, chỉ truyền thụ theo sách giáo khoa là 0%
Biểu đồ 2 là kết quả điều tra GVTH thị xã Quảng yên về mức độ liên hệkiến thức GDMTĐP vào bài giảng
Trang 36BIỂU ĐỒ 2
Mức độ liên hệ kiến thức GDMTĐP vào bài giảng của GVTH ở thị xã Quảng Yên.
Ở biểu đồ 1 chúng ta thấy GV đã có nhận thức khá đúng đắn về thựctrạng MTĐP Những nhận thức này chưa biến thành hành động của mỗi GV làthể hiện nhận thức đó thành hoạt động GD về MTĐP đến HS Tuy nhiên, GVđược hỏi phần lớn tập trung vào mức độ 4, tức là thường xuyên liên hệ GDMTtrong bài giảng Thiết nghĩ, đây là con số phù hợp với tình hình thực tế haykhông, hơn nữa công tác GDMT trong nhà trường TH còn mới mẻ nên việcđầu tư công sức cũng như tâm huyết của GV vào vấn đề này còn nhiều hạnchế Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc GD trong nhà trường cần phảiđược quan tâm coi trọng hơn nữa
Mặt khác, chúng tôi tiến hành so sánh kết quả nhận thức của GV vớiviệc liên hệ các vấn đề MT của địa phương vào bài dạy của GV để đánh giákhách quan về nhận thức cũng như việc làm của GV Sau khi tổng hợp nhậnthức về tính trầm trọng và mức độ liên hệ vào bài giảng, chúng tôi thu đượckết quả ở biểu đồ 3 Kết quả cho thấy mức độ nhận thức tính trầm trọng củacác vấn đề MT và mức độ liên hệ chúng vào bài giảng của GV có sự khác biệtnhau rõ rệt Về nhận thức, số GV nhận thức một cách đúng đắn về sự nghiêmtrọng của MT thị xã Quảng Yên chiếm một tỉ lệ khá cao Nhưng số GV
Trang 37thường xuyên liên hệ mở rộng cho HS về MTĐP trong bài giảng lại chiếm tỉ
lệ rất thấp Số GV thỉnh thoảng liên hệ đến MTĐP trong bài giảng cũng chiếmđến 30.8% Chúng tôi đã chọn ra 4 vấn đề về MTĐP mà GV nhận thức ở mức
độ cao nhất để so sánh với mức độ thường xuyên liên hệ với những vấn đềnày vào trong bài giảng của họ
BIỂU ĐỒ 3
So sánh nhận thức với mức độ thường xuyên liên hệ với các VĐMTĐP vào bài giảng
Vấn đề 1: Ô nhiễm do hoạt động vận chuyển than
Vấn đề 4: Ô nhiễm nước thải do sản xuất công nghiệp
Vấn đề 6: Ô nhiễm do rác thải của bệnh viện
Vấn đề 7: Ô nhiễm do rác thải, nước thải khu du lịch, di tích
Kết quả trên biểu đồ cho thấy có một sự khác biệt rất lớn giữa nhậnthức và việc làm của GV Cụ thể là mức độ nhận thức về tính trầm trọng củavấn đề MT chiếm một tỷ lệ rất lớn, cả 04 vấn đề đều trên 40% nhưng việc liên
hệ chúng một cách thường xuyên vào các bài dạy lại rất thấp, chỉ có từ 35.8%đến 61.6% GV thực hiện:
Ví dụ: Ở vấn đề 1, có 95.8% GV nhận thức là vấn đề MT nghiêm trọngnhưng chỉ có 43.3% GV thường xuyên liên hệ vào bài giảng của mình Ở vấn
Trang 38đề 4, tỷ lệ đó là 73.3% và 61.6% Ở vấn đề 6, tỷ lệ 50% và 35.8%, Còn vấn đề
7, tỷ lệ là 40% và 38.3%
Điều này cho thấy công tác GDMTĐP ở thị xã Quảng Yên còn chưathực sự được coi trọng, chưa được chỉ đạo cụ thể, sát xao cho nên chưa đạtđược mục tiêu là giúp HS có những nhận thức về các vấn đề MT ở địa phươngmình Thiết nghĩ, nguyên nhân là do GV chưa thấy được tầm quan trọng củaviệc đưa các vấn đề GDMTĐP vào nhà trường TH cũng như tầm quan trọngcủa công tác GDMT đối với cuộc sống của chúng ta Bên cạnh đó, mộtnguyên nhân cũng cần phải đề cập đến, đó là một tỷ lệ lớn GV chưa thấy đượctrách nhiệm của bản thân trong công việc GDMTĐP trong HS Ngoài ra, mộtnguyên nhân đáng kể nữa là năng lực của GV cũng như sự đầu tư thời gian,công sức của GV vào môn học này rất thấp Kết quả điều tra ở câu 6 của phiếuhỏi ý kiến GV cho thấy trong quá trình giảng dạy, GV tập trung phần lớn thờigian vào môn Toán và môn Tiếng Việt, rất ít GV chú ý đến các môn học khácnhư: TNXH, Khoa học, Lịch sử, Địa lý hay Đạo đức Theo kết quả điều traGVTH trong phạm vi cả nước của tác giả Nguyễn Thị Thấn [18] thì chỉ có16% GV được điều tra cho rằng các môn về TNXH là những môn học đượcđầu tư nhiều công sức nhất kết quả điều tra GVTH thị xã Quảng Yên còn chocon số thấp hơn nữa, chỉ có 8.6% (câu 6 của phiếu điều tra GVTH) Như vậy,cũng như tình trạng chung của GV cả nước, GVTH thị xã Quảng Yên cũng ítđầu tư thời gian và công sức cho các môn tự nhiên và xã hội (Khoa học, Lịch
sử, Địa lý) Đặc biệt là việc tìm tòi các tài liệu về MTĐP về giảng dạy cho HScòn quá ít Đây chính là hạn chế lớn nhất cho công tác GDMT ở thị xã QuảngYên, vì các môn về tự nhiên và xã hội (Khoa học, Lịch sử, Địa lý) là những
Trang 39môn học có khả năng đưa các nội dung GDMT vào bài học nhiều nhất, đặcbiệt là môn Khoa học.
Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn GV đồng ý với ý kiến: môn Khoahọc là môn học có nội dung GDMT nhất trong các môn học ở TH Và Khoahọc cũng là môn học cơ bản và quan trọng nhất trong việc GDMT cho HS lớp
4, lớp 5 Như vậy, nếu sự đầu tư của GV vào môn học này quá ít thì chắc chắnhiệu quả GD về MT cũng không thể cao
2.2.2 Nhận thức và hoạt động BVMT của HSTH ở thị xã Quảng Yên.
Trong quá trình tìm hiểu nhận thức và hoạt động BVMT của HSTH thị
xã Quảng Yên chúng tôi đã tiến hành điều tra HS lớp 5 tại 2 trường TH của thị
xã Quảng Yên: Trường TH Yên Giang ở trung tâm thị xã, trường TH Cẩm Lanằm ở ngoài trung tâm của thị xã Ở mỗi trường chúng tôi thu được 52 phiếu,tổng số phiếu điều tra thu được là 104 Chúng tôi đã tiến hành tổng hợp vàđánh giá theo một số mặt sau:
* Về mặt nhận thức
+ Đối với những nhận định về MT và BVMT:
98.5% HS được điều tra đều nhận thức được rằng MT trong sạch sẽgiúp con người sống khỏe mạnh và kéo dài được tuổi thọ Điều đó chứng tỏrằng đa số HS đã nhận thức được mối liên hệ giữa MT và sức khỏe của conngười Về lý thuyết, đây là cơ sở tốt nhất để giúp các em nhận thức đượcnhững hành vi đúng đắn và nhận thức được trách nhiệm với vấn đề BVMT.100% các em đồng ý với ý kiến “HSTH cũng có thể làm được nhiều việc đểBVMT”, 98% HS “không đồng ý” với ý kiến “BVMT chỉ là việc của ngườilớn” Qua đó, có thể thấy rằng HSTH ở thị xã Quảng Yên có nhận thức đúngđắn về trách nghiệm của mỗi người trong việc BVMT Nhưng trước nhận định
Trang 40về các vấn đề cụ thể như vấn đề tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, vấn đề sửdụng thuốc bảo vệ thực vật,… thì nhiều HS lại tỏ ra lúng túng khi chọn câu trảlời Cụ thể chỉ có 59% HS chọn câu trả lời “không đồng ý” với ý kiến chorằng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt là biện pháp BVMT;100% HS chọn câu trả lời “đồng ý” với ý kiến cống rãnh, bãi rác là nơi chứanhiều mầm bệnh; 80% số HS chọn câu trả lời “đồng ý” với việc sử dụng tiếtkiệm điện, nước, dầu, ga,… là biện pháp BVMT; 91% số em chọn “khôngđồng ý” với hành vi thu gom rác thải đổ xuống sông, biển,… là biện phápBVMT Như vậy, tuy hầu hết HS được điều tra đều nhận thức được rằng việcBVMT là trách nhiệm của mọi người trong đó có các em Song các vấn đềnhư vấn đề rác thải, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hay việc sử dụng thuốcbảo vệ thực vật thì nhiều em chưa hiểu rõ Mặc dù vậy, HS ở thị xã QuảngYên lại nhận thức một cách rõ ràng về những nguyên nhân gây ô nhiễmđường phố của địa phương.
Biểu đồ 4 là kết quả điều tra HS trả lời đồng ý với những nguyên nhângây ô nhiễm MTĐP
BIỂU ĐỒ 4 Nhận thức của HS thị xã Quảng yên về nguyên nhân gây ô nhiễm MTĐP
Nguyên nhân 1: Do các xe vận chuyển than đi lại trên đường