1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỰ TÌNH (HỒ XUÂN HƯƠNG - NGỮ VĂN 11)

108 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 150,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tên thật: Hồ Xuân Hương, sống và khoảng nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa cuối thế kỉ XIX - Là người cùng thời với Nguyễn Du, bà sống trong một thời đại biến động, đầy bão táp khiến thân phận con người nhất là người phụ nữ chìm nổi lênh đênh - Cuộc đời Xuân Hương nhiều cay đắng bất hạnh: + bà là con vợ lẽ + tình duyên trắc trở, long đong: hai lần lấy chồng đều làm lẽ, chồng đều qua đời sớm - Bà là người phụ nữ đặc biệt thời bấy giờ: từng đi nhiều nơi, giao du với nhiều văn nhân thời bấy giờ ⇒ Tất cả tạo nên một Hồ Xuân Hương sắc xảo, cá tính, bản lĩnh - Các tác phẩm chính: + tập Lưu Hương kí gồm 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm, là tiếng nói tình yêu đôi lứa với các cung bậc u buồn, thương nhớ, ước nguyện, gắn bó thủy chung + khoảng 40 bài thơ Nôm truyền tụng - Phong cách sáng tác: + chủ đề lớn trong thơ Hồ Xuân Hương là chủ đề người phụ nữ + viết về người phụ nữ, thơ bà vừa là tiếng nói cảm thương vừa là tiếng nói khẳng định đề cao, tiếng nói tự ý thức đầy bản lĩnh ⇒ Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm, nữ sĩ nổi loạn

Trang 1

vẻ đẹp và niềm cảm thông, thương xót cho số phận những người phụ nữ.

- Giới thiệu bài thơ Tự tình II: Đây là một trong số 3 bài thơ trong chùm thơ Tựtình thể hiện nỗi niềm buồn tủi trước cảnh ngộ lỡ làng

b, Thân bài

1 Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường

• Câu 1: Thể hiện qua việc tái hiện bối cảnh:

- Thời gian: Đêm khuya, trống canh dồn – nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếngtrống thể hiện bước đi thời gian gấp gáp, vội vã ⇒ Con người chất chứa nỗiniềm, bất an

- Không gian: “văng vẳng”: lấy động tả tĩnh ⇒ không gian rộng lớn nhưngtĩnh vắng

⇒ Con người trở nên nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn

• Câu 2: Diễn tả trực tiếp nỗi buồn tủi bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấntượng mạnh:

- Từ “trơ” được nhấn mạnh: nỗi đau, hoàn cảnh “trơ trọi”, tủi hờn, đồng thờithể hiện bản lĩnh thách thức, đối đầu với những bất công ngang trái

- Cái hồng nhan: Kết hợp từ lạ thể hiện sự rẻ rúng

⇒ Hai vế đối lập: “cái hồng nhan” đối với “với nước non”

⇒ Bi kịch người phụ nữ trong xã hội

2 Hai câu thực: Diễn tả rõ nét hơn tình cảnh lẻ loi và nỗi niềm buồn tủi

• Câu 3: Hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng với baoxót xa

- Chén rượu hương đưa: Tình cảnh lẻ loi, mượn rượu để giải sầu

- Say lại tỉnh: vòng luẩn quẩn không lối thoát, cuộc rượu say rồi tỉnh cũngnhư cuộc tình vương vít cũng nhanh tàn, để lại sự rã rời

Trang 2

⇒ Vòng luẩn quẩn ấy gợi cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của sốphận

• Câu 4: Nỗi chán chường, đau đớn ê chề

- Hình tượng thơ chứa hai lần bi kịch

+ Vầng trăng bóng xế: Trăng đã sắp tàn ⇒ tuổi xuân đã trôi qua

+ Khuyết chưa tròn: Nhân duyên chưa trọn vẹn, chưa tìm được hạnh phúcviên mãn, tròn đầy ⇒ sự muộn màng dở dang của con người

- Nghệ thuật đối → tô đậm thêm nỗi sầu đơn lẻ của người muộn màng lỡ dở

⇒ Niềm mong mỏi thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng không tìm được lốithoát

3 Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, sự phản kháng của Xuân Hương

- Cảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang niềm phẫn uất và bộc lộ

cá tính:

+ Rêu: sự vật yếu ớt, hèn mọn mà cũng không chịu mềm yếu

+ Đá: im lìm nhưng nay phải rắn chắc hơn, phải nhọn hoắt lên để “đâm toạcchân mây”

+ Động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc: thể hiện sựbướng bỉnh, ngang ngạnh

+ Nghệ thuật đối, đảo ngữ ⇒ Sự phản kháng mạnh mẽ dữ dội, quyết liệt

⇒ Sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng

⇒ Sự phản kháng của thiên nhiên hay cũng chính là sự phản kháng của conngười

4 Hai câu kết: Quay trở lại với tâm trạng chán chường, buồn tủi

Trang 3

- Mảnh tình san sẻ: Càng làm tăng thêm nỗi chua xót ngậm ngùi, mảnh tìnhvốn đã không được trọn vẹn nhưng ở đây còn phải san sẻ

- Tí con con: tí và con con đều là hai tính từ chỉ sự nhỏ bé, đặt hai tính từ nàycạnh nhau càng làm tăng sự nhỏ bé, hèn mọn

⇒ Mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nay lại phải san sẻ ra để cuối cùngtrở thành tí con con

⇒ Số phận éo le, ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phảichịu thân phận làm lẽ

5 Nghệ thuật

- Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tác giả+ Sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đa nghĩa

- Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: câu hỏi 2, câu 5 và câu 6

- Sử dụng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc

c, Kết bài

- Khẳng định lại những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Thông qua bài thơ thể hiện giá trị hiện thực và bộc lộ tấm lòng nhân đạosâu sắc của một nhà thơ “phụ nữ viết về phụ nữ”

CẢM NHẬN TỰ TÌNH II

Thơ là thư kí của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn thi sĩ Nó phản ánhcuộc sống của con người, xã hội, để qua đó người nghệ sĩ bộc bạch nỗi lòngmình Hay nói cách khác, mỗi bài thơ chính là tiếng hát của trái tim, được thể

Trang 4

hiện như một hình thức nghệ thuật cao quý, tinh vi Trong những nhà thơ tiêubiểu như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Xuân Diệu… Hồ Xuân Hương nổi lên nhưmột hiện tượng văn học độc đáo Được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”,Xuân Hương đem “tiêng lòng” của mình và những người phụ nữ xã hội xưavào thi ca Bà có cuộc đời và tình duyên éo le, trắc trở nên đã mượn ngòi bút

để cất lên tiếng nói thương cảm cho thân phận người phụ nữ Hồ Xuân Hương

đã để lại cho văn học Việt Nam nhiều bài thơ giá trị như “Bánh trôi nước”,

“mời trầu”… Tiêu biểu trong đó là “Tự tình II” Bài thơ đã bộc lộ tâm trạngvừa buồn tủi vừa phẫn uất trước duyên phận éo le và khát vọng hạnh phúctrong tâm hồn nhà thơ

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mối tình san sẻ tí con con.”

“Tự tình II” Nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài Bài thơ được viết theo thểthất ngôn bát cú Đường luật, nhưng cái đặc sắc ở đây là tác giả không viếtbằng chữ Hán mà là chữ Nôm Bà đã “Việt hóa” thể thơ của người Hoa để bộc

lộ suy nghĩ người Việt, tâm hồn người Việt Đúng như giáo sư Lê Trí Viễn từngnói: “Dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương, Đường luật mất hẳn cốt cách quý tộc

mà ngoan ngoãn cung hiên vần điệu cần xứng của mình cho và sử dụng theo

ý muốn” Nhan đề “Tự tình” của bài thơ là tự bộc lộ, giãi bày tâm trạng, tìnhcảm của mình, hay nói cách khác, đây chính là sự hé mở nỗi lòng khó nói củatác giả

Hai câu đề đã mở ra thời gian và không gian nghệ thuật rất đặc biệt:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.”

Đêm đã về khuya, là khi tác giả đang thao thức trong nỗi cô đơn, đợi chờ.Tính từ “văng vẳng” đã được nữ sĩ sử dụng rất tự nhiên, tinh tế, khiến ta cùnglúc nhận ra không gian vừa mênh mông vừa vắng lặng lúc nửa đêm Ở dây,Xuân Hương đã khéo léo sử dụng bút pháp nghệ thuật quen thuộc của thipháp cổ điển là lấy động tả tĩnh “Trống canh dồn”, tiếng trống canh thôithúc, gấp gáp, liên hồi thể hiện bước đi dồn dập của thời gian Tiếng trống

Trang 5

của tâm trạng – tâm trạng rối bời vì thời gian trôi qua nhanh có nghĩa là tuổixuân của nhà thơ cũng qua mau Cách cảm nhận bước đi của thời gian quatiếng trống điểm canh là cách cảm nhận rất đỗi Á Đông Đó là thời gian tâm líthấm đậm chất trữ tình Đêm khuya là lúc vạn vận chìm trong giấc ngủ, đólại cũng là lúc lòng người sâu lắng nhất, là lúc con người đối diện với chínhbản thân mình Mở đầu bài thơ, ta đã cảm nhận được cái buồn man mác lenlỏi trong từng câu chữ được gợi ra từ sự tĩnh lặng của đêm khuya Tiếng trốngvăng vẳng không quá gần mà lại nghe thấy cái nhịp “dồn” vội vàng , gấpgáp… Bởi, đó là tiếng trống gợi sự bước đi của thời gian, gợi sự tàn phá và nóđược nghe bằng tâm trạng của người phụ nữ mang tâm thức cô đơn, ám ảnhtrước thời gian Không gian và thời gian đã được mở ra như thế, rất tài tình vàtinh tế Nhà thơ đã cảm nhận sự bẽ bàng của duyên phận qua câu thơ “Trơcái hồng nhan với nước non” Từ “trơ” được đảo lên đầu câu gây ấn tưởngmạnh mẽ “Trơ” là tủi hổ, là bẽ bàng Thêm vào đó là hai từ “hồng nhan” là

để chỉ sắc đẹp của người con gái, mà lại đi với từ “cái” thì thật rẻ rúng, mỉamai Cái hồng nhan “trơ” ra với nước non, với không gian, thời gian Câu thơ

đã gợi lên sự hồng nhan bạc phận Vì vậy, nỗi xót xa càng thấm thía, đau xót.Nhịp điệu 1/3/3 cũng là để nhấn mạnh sự bẽ bàng Trong văn cảnh này, chữ

“trơ” không chỉ là tủi hổ, bẽ bàng mà còn là thách thức “Từ “trơ” kết hợp vớinước non thể hiện sự bền gan, thanh đố Như vậy ở đay ra thấy được bêncạnh nỗi đau Xuân Hương là bản lĩnh Xuân Hương

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”

Ở hai câu đề, nữ thi sĩ đã tái hiện cho chúng ta thấy một không gian vắnglặng lúc đêm khuya Trong thời khắc ấy, khi chủ thể trữ tình vẫn còn thaothức chưa ngủ ắt hẳn có điều gì trăn trở Như thách thức số phận, nhà thơmượn rượu để quên đi nỗi sầu Cụm từ “say lại tỉnh” như là một vòng luẩnquẩn lặp đi lặp lại, tình duyên như trở thành trò đùa, càng say lại càng tỉnh,càng cảm nhận nỗi đau thân phận Mong muốn chút niềm an ủi từ thiênnhiên, cảnh vật, tác giả dùng câu thơ tả cảnh ngụ tình Câu thơ là ngoại cảnh

mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa ánh trăng và con người.Cảnh tình của Xuân Hương được thể hiện qua hình ảnh thơ chứa đựng sự éole: Trăng sắp tàn mà vẫn “khuyết chưa tròn” Tuổi xuân đã trôi qua mà tìnhduyên còn chưa trọn vẹn Hương rượu để lại vị đăng chát, hương tình thoảngqua để chỉ còn “phận hẩm duyên ôi” Sự đối lập giữa “say”-“tỉnh”,

“khuyết”-“tròn” đã gợi lên cho người đọc cảm giác chông chênh, không xácđịnh được ranh giới giữa không và có, say và tỉnh Cặp từ trái nghĩa đã giúp

ta nhận ra được điều đó giữa hi vọng mong manh về hạnh phúc và hiện thựcphũ phàng

Từ hình ảnh “vầng trăng” nhà thơ bắt đầu chuyển sang mượn thiên nhiên đểmiêu tả tâm trạng:

Trang 6

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.”

Hai câu thơ tả cảnh được cảm nhận qua tâm trạng cũng như mang theo nỗiniềm phẫn uất của con người Những sinh vật bé nhỏ như đám rêu kia cũngkhông chịu mềm yếu, khuất phục mà phải xiên ngang mặt đất trỗi dậy mạnh

mẽ Đá đã rắn chắc lại phải cứng cáp hơn để “đam toạc chân mày” Biệnpháp đảo ngữ trong hai câu luận đã làm nổi bật sự phẫn uất của cỏ cây, cũngnhư sự phẫn uất trong tâm trạng Không chỉ vậy những động từ mạnh “xiên,đâm” cũng được kết hợp với bổ ngữ “ngang”, “toạc” độc đáo thể hiện sựbướng bỉnh, ngang trái Điều đó đã thể hiện một phong cách Xuân Hương,không chỉ phẫn uất mà còn phản kháng, không khuất phục trước số phận đaukhổ, muốn vươn lên bằng chính sức sống mãnh liệt của mình Với tài năng sửdụng từ ngữ, hình ảnh mạnh mẽ, táo bạo, lấy cảnh ngụ tình, hai câu thơ đãgợi lên cảnh vật sinh động, đầy sức sống Đó cũng chính là tâm hồn đầy sứcsống, cõi lòng nhiều khao khát của Xuân Hương

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mối tình san sẻ tí con con.”

Đến hai câu kết, Hồ Xuân Hương đã bộc bạch hết nỗi cay đắng của đời người

“Ngán” là ngán ngẩm với nỗi đời éo le, với vòng xoáy của số phận Từ “xuân”nay mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân Mùa xuân qua đi rồilại trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn cây cỏ, hoa lá Nhưng, với conngười thì tuổi xuân qua là không bao giờ quay trở lại Hai từ “lại” trong cụm

từ “xuân đi xuân lại lại” cũng mang hai ý nghĩa khác nhau Từ “lại” thứ nhấtnghĩa là thêm lần nữa, từ “lại” thứ hai nghĩa là trở lại Sự trở lại của mùaxuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân Thủ pháp nghệ thuật tăng tiến,nhấn mạnh vào sự nhỏ bé dần, làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn “Mảnhtình” đã bé lại phải “san sẻ” thành ra ít ỏi, chỉ còn “tí con con” nên càng xót

xa, tội nghiệp Câu thơ kết thúc trong nỗi xót xa, mỉa mai đến tội nghiệp của

“cái hồng nhan” trong xã hội phong kiến xua Câu thơ là nỗi lòng của ngườiphụ nữ vừa đau buồn vừa thách thức duyên phận, gắng gượng nhưng vẫn rơivào bi kịch Vì vậy, ý nghĩa nhân văn của bài thơ càng sâu sắc, thấm thíahơn

Trái tim Xuân Hương đã thức giấc để đập nhịp cùng những tâm hồn của ngườiphụ nữ Hồ Xuân Hương đối với văn học là quá khứ, nhưng bài học và nhữngcảm xúc mà bà mang lại cho thế hệ ngày nay vẫn tồn tại, hiện hữu Đó là bàihọc về sự vượt qua khó khăn, chiến thắng đau khổ Cuộc đời nữ sĩ XuânHương đã hai lần chồng và đều thất bại, nhưng trong tim bà vẫn giữ nguyênnhịp đập hy vọng về hạnh phúc và tình yêu

Trang 7

Tự tình II là bài thơ tự than thân, tự bộc lộ, tự bày tỏ nỗi lòng của người phụ

nữ lận đận tình duyên nhưng luôn khao khát có được một tình yêu trọn vẹn,xứng đáng với tấm chân tình của mình Đặc sắc trong bút pháp của nữ sĩ chothấy tài năng thi ca của tâm hồn, với việc sử dụng nghệ thuật lấy động tảtĩnh, thủ pháp tả cảnh ngụ tình, dùng động từ mạnh kết hợp với đảo ngữ vàcác từ láy càng làng cho bài thơ trở nên sâu sắc, thấm đẫm cái ý cái tình củangười phụ nữ

Những hình ảnh giản dị với tâm trạng uất ức, xót xa cho số phận hẩm hiu vàcũng là bi kịch, khát vọng hạnh phúc của Xuân Hương nói riêng hay chínhngười phụ nữ phong kiến nói chung Bài thơ đã truyền tải ý nghĩa nhân vănsâu sắc: Dù sống trong hoàn cảnh cay nghiệt nhưng con người vẫn cố gắngvươn lên, thay đổi số phận, mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn Tự tình II

mà Hồ Xuân Hương để lại sẽ vẫn có giá trị đến muôn đời Quả thật, XuânHương rất xứng đáng với danh xưng “Bà chúa thơ Nôm” khi đã để lại cho đờinhững áng văn bất hủ

_

Bài làm của Bảo Hân, học sinh trường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội.(Học sinhlớp Văn cô Ngọc Anh) ❤

Đề bài: Sự giống nhau và khác nhau giữa hai bài thơ Tự tình I và Tự tình II

của Hồ Xuân Hương

Bài làm

– Giống nhau:

+ Cùng sử dụng thơ Nôm đường luật thể hiện cảm xúc của tác giả

Trang 8

+ Đều mượn cảm thức về thời gian để thể hiện tâm trạng Điều đó được thểhiện qua kết cấu vòng tròn của hai bài thơ: mở đầu bằng thời gian và kếtthúc cũng là thời gian

+ Đều sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm: văng vẳng, trở, cái hồng nhan, ngán,

tí con con, oán hận, rền rĩ, mõm mòn, già tom…

– Khác nhau:

+ Cảm xúc trong Tự tình I là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu,nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, đồng thời là sự vươn lên củachính bản thân, thách đố lại duyên phận

+ Còn ở Tự tình II, cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng,

cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch Chính vìthế bi kịch như được nhân lên, phẫn uất hơn Sự khác nhau đó chính là docảm xúc chủ đạo trong từng bài thơ

Trang 9

Đề bài: “Tự tình II” khát vọng về một tình yêu lớn

Bài làm

Trong văn học trung đại Việt Nam, Hồ Xuân Hương - một nữ sĩ tài hoa lắmtruân chuyên đã để lại bộ ba thi phẩm "Tự tình" đặc sắc và da diết tìnhngười, tình đời: Tự tình (I), Tự tình (II), Tự tình (III) Trong đó, bài thơ Tự tình(II) được xem là điển hình cho tâm trạng cô đơn và nỗi lòng quạnh hiu củatác giả khi tuổi đã chiều tà bóng xế Tiếng lòng ấy cũng chính là khát vọngtình yêu của người phụ nữ trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữđương thời

Bài thơ mở đầu bằng âm thanh của tiếng trống báo canh dồn dập, thúc bách

và hình tượng con người trong hoàn cảnh cô độc, lẻ loi: Đêm khuya văngvẳng trống canh dồn/Trơ cái hồng nhan với nước non Đọc hai câu thơ, điềuđầu tiên chúng ta dễ dàng phát hiện ra sự đối lập trong nghệ thuật miêu tảthời gian và không gian của tác giả Thời gian là đêm đã về khuya, lúc màcon người được nghỉ ngơi, yên an và hạnh phúc bên người thân trong giađình mình Bao nhiêu âu lo tất bật của một ngày được lắng lại qua giấc ngủsay nồng, êm ấm Ngược lại, hình tượng con người - có thể xem đây là cái tôitrữ tình tác giả - lại thao thức không yên trước không gian nước non rộng lớn:

"Trơ cái hồng nhan với nước non" Một chữ "trơ" kết hợp với lượng từ "cái" đitrước hai chữ "hồng nhan" càng làm nổi bật hơn thân phận người phụ nữ rẻrúng và thương tâm Hai câu thơ đầu được tập trung giới thiệu một hoàncảnh, đúng hơn là một tình cảnh mà ở đó thông qua nghệ thuật đối lập đểlàm nổi bật tâm trạng của tác giả

Trong hoàn cảnh tràn đầy nỗi niềm chua chát ấy, tác giả đành cất chén tiêusầu giữa đêm khuya thanh vắng Nhưng tiếng trống cầm canh vẫn không thôidồn dập như báo hiệu thời gian đang gấp gáp, tàn phai Càng uống rượudường như tác giả càng tỉnh ra, càng nhận thấy nỗi sầu trống trải đến vôbiên Vầng trăng trên đỉnh trời xa như minh chứng cho tâm trạng nhà thơcũng tràn đầy se sắt Trăng và người, tất cả cứ chơi vơi, hao khuyết, "say lạitỉnh" giữa ngổn ngang của sự thế trớ trêu: Chén rượu hương đưa say lạitỉnh/Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Hai câu thơ tả thực hoàn cảnh cô đơn, ủ dột nên cũng buồn da diết như mộttiếng thở dài ngao ngán, xót xa cho tình cảnh bóng lẻ đơn côi trên con đườngduyên phận của nhà thơ Nhưng vượt lên trên nỗi đau thân phận và sự trắctrở trong tình duyên, con mắt nhìn đời của nữ sĩ vẫn cứ nồng nàn và tràn đầykhao khát Dường như trong cảm quan của Hồ Xuân Hương, sau mỗi lần thấtbại ê chề về tình duyên, con mắt xuân tình của nhà thơ vẫn cứ mong ngóng,trái tim vẫn cứ run rẩy đợi chờ một hơi ấm tình yêu Thế nên, cái cảnh haokhuyết của vầng trăng lẻ bóng, chén rượu buồn thương rồi cũng vụt quanhanh mà nhường chỗ cho những gì non tơ, rún rẩy xuân tình vẫn len lỏi mà

Trang 10

bừng thức cựa quậy trở dậy Hai câu thơ luận được nhìn qua con mắt rạo rựccủa Xuân Hương nên cảnh sắc hiện ra thật sống động: Xiên ngang mặt đất,rêu từng đám/ Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

Một phép đối rất chỉnh, bổ sung cho nhau làm nên một bức tranh thiên nhiêntràn đầy sức sống Phép đảo ngữ đã đưa các động từ mạnh lên đầu câu kếthợp với bổ ngữ đã tạo nên một sắc thái khác thường Từng đám rêu xanhtưởng chừng bé nhỏ, yếu ớt thế mà giờ đây nó cũng biết "xiên ngang" đểngoi lên mặt đất mà sống trọn vẹn một cuộc đời đúng nghĩa Mấy hòn đátưởng như vô tri vô giác đứng lặng lẽ bên trời kia giờ đây cũng cựa quậy,muốn "đâm toạc" cả chân mây cho thoát kiếp tầm thường Ô hay, đâu phải

cứ gì thiên nhiên, tất cả hành động quyết liệt ấy xuất phát từ cái nhìn rạo rựccủa Xuân Hương cả đấy "Thân này đâu đã chịu già tom" (Tự tình I), XuânHương nhất quyết bứt phá, vươn dậy để khao khát đi tìm tình yêu chứ khôngchấp nhận cảnh "Chén rượu hương đưa say lại tỉnh" quá ngao ngán, đơnđiệu Rõ ràng, trong hai câu 5 và 6, cảnh vật và tâm trạng con người cứ hôứng, đồng điệu Nhờ đó, chúng ta phát hiện ra cái vẻ xuân tình nồng cháycủa Hồ Xuân Hương qua bức tranh thiên nhiên sinh động và tràn đầy sứcsống, muốn vươn lên để thoát khỏi kiếp sống bé nhỏ, tầm thường

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con

Xét về mặt nghệ thuật, có thể nói là Hồ Xuân Hương đã rất tuyệt bút ở haicâu thơ kết Từ ngôn ngữ đến giọng điệu và sự ngắt nhịp, tất cả đều hài hòamột cách tuyệt đối với nội dung mà tác giả muốn biểu đạt Thơ thất ngôn bát

cú Đường luật thường hay ngắt nhịp chẵn/lẻ (nhịp 4/3), nhưng ở đây cụ thể làcâu cuối bài, tác giả sử dụng nhịp 2/2/1/2, có cảm tưởng cứ ngắt đứt ra từngđoạn, đồng thời với giọng thơ đay nghiến, chua chát, hình ảnh thơ tăng tiến(mảnh tình - san sẻ - tí - con con) đã diễn tả được tình cảnh đau đớn, buồnthương của tâm hồn tác giả Bi kịch về đời người với biết bao khát vọng tìnhyêu và tuổi trẻ mãi mãi dừng lại phía bên kia rồi, giờ đây mỗi mùa xuân vềcàng chất ngất nỗi muộn phiền không thể phôi pha

Tự tình II của Hồ Xuân Hương là một bài thơ hay viết về nỗi niềm của ngườiphụ nữ trong xã hội phong kiến Tâm trạng ấy chứa đựng cảm thức thời giansớm tàn phai, úa rụng của kiếp người trước cái vô thủy vô chung của vũ trụ.Cao hơn hết, đó còn là khát vọng hiện sinh đầy nhân bản về tình yêu và hạnhphúc mà Hồ Xuân Hương là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói nữ quyền đầy bảnlĩnh, giàu cá tính với một tiếng thơ đằm thắm, ân tình Nên đến bây giờ đọcbài thơ vẫn chứa chan cảm xúc…

(Bài viết của tác giả Lê Thành Văn)

Trang 12

Đề bài: So sánh hình tượng người phụ nữ qua hai bài thơ “Tự tình II” của Hồ

Xuân Hương và “Thương vợ” của Trần Tế Xương

Bài làm

“Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” ( một con trai xem như có, mười con gáicũng như không) Mới nghe qua hẳn ai trong chúng ta cũng không khỏi phêphán tư tưởng lỗi thời, lạc hậu chứa đựng trong câu nói trên, bởi một lí dođơn giản, chúng ta đang sống trong một xã hội công bằng bình đẳng

Tuy nhiên, sẽ chẳng có gì đáng nói nếu đây là một xã hội phong kiến bấtcông, khi mà quan niệm kia vẫn còn phổ biến rộng rãi Đã sinh ra làm kiếpcon người, ai mà không phải trải qua những thăng trầm, sóng gió, ai màkhông nếm qua những cay đắng trong cuộc sống để rồi mới đạt được tớichân của hạnh phúc Nhưng xưa kia, khi hạnh phúc đối với người đàn ôngbao la rộng lớn bao nhiêu thì với người phụ nữ, người vợ - những người đã hếtmình cống hiến cho gia đình, xã hội lại hạn hẹp và thu gọn bấy nhiêu Nhữngnỗi thống khổ ấy đã có rất nhiều thi sĩ thấu hiểu Họ gửi lòng cảm thông, trântrọng, tiếc thương sâu sắc của mình qua nhiều tác phẩm và cũng đã rất khéoléo khi xây dựng lên một hình ảnh người phụ nữa Việt Nam đảm đang, khôngnhững đẹp về hình thức mà còn rất đẹp về tâm hồn, nhưng phải chịu cuộcđời long đong, lận đận, vất vả, thân phận trôi nổi, bèo bọt với bao oan khiêntrước sự vùi dập của xã hội phong kiến

Một trong những tác phẩm ấy hẳn phải kể tới “Tự tình (II) của nữ sĩ Hồ XuânHương và “Thương vợ” của nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương Trong xã hộiphong kiến thối nát và hoang tàn, những người phụ nữ bé nhỏ không đượccoi trọng, cuộc đời thì long đong lận đận, duyên tình trái ngang, có tài màkhông được coi trọng (Hồ Xuân Hương), hay cũng như việc làm của người vợ

“bà Tú” ít được cảm thông dù cho quanh năm vất vả Họ như những con thiêuthân, những con thoi mải miết dệt hoa cho đời không ngừng nghỉ để đổi lấygì? Chả là gì cả? Họ chỉ đổi được nhiều thọt thòi , nhìu đau khổ bế tắc chochính mình.Họ cống hiến hết cho cuộc đời mà khồn hề đòi hỏi quyền lợi ngoàitấm lòng cảm thông, chia sẻ và chút hạnh phúc riêng của mình:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

Giữa đêm thanh vắng, tiếng trống canh vang lên, xa dần, xa dần, xa dần…

để lại một người phụ nữ ngồi quạnh hiu, đơn lẻ, khung cảnh ấy mới chua xótlàm sao! Nửa đêm là thời gian sum họp vợ chồng, là thời điểm của hạnh phúclứa đôi Vậy mà lại có 1 người phụ nữ tỉnh dậy vào đúng thời khắc thiêngliêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ ấy đã không ngủ được Vì thiếu vắng 1điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi niềm? Tiếng trống canh âmvang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi đến 1 điều vô

Trang 13

cùng đáng sợ đối với 1 người đàn bà vẫn còn thân đơn gối chiếc: Tuổi già Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khátkhao càng trở nên vô vọng Tiếng trống dồn dập cứ xoáy vào tâm can tác giả,

-nó âm vang, trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ, không tài nào dứt rađược Dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian màcòn lên cả thời gian nữa, và ta tự hỏi, đây có thật là tiếng trống hiện hữutrong đời sống thực tại hay phải chăng đó là tiếng trống cất lên từ tấm lòngthổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về 1 bi kịch đang ngày đến gầnhơn với bà

“Trơ cái hồng nhan với nước non”

Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập, thì cũng là lúc “cái hồngnhan" ngày một “trơ” ra với đời “Hồng nhan” là một từ dùng để chỉ nhansắc, chỉ gương mặt xinh đẹp của người phụ nữ Đó là điều mà bất cứ ngườiphụ nữ nào có được cũng phải hết sức tự hào, hết sức coi trọng và nâng niu.Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan” như một hòn đá kéo nặng cả câu thơxuống, khi đập tan bao nhiêu niềm tự hào, bao nhiêu trân trọng mà biến

“hồng nhan” trở thành một thứ đồ vật tầm thường không hơn không kém.Hồng nhan để làm gì khi nửa đêm phải tỉnh giấc, trong cái trống trải lạnh lẽođến đắng cay? Tác giả ý thức được nhan sắc của mình nhưng cũng ý thứcđược những bất hạnh và chua xót mà mình đã, đang và sẽ phải nếm trải Hồng nhan để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cửu mà sẽ nhanh chóng vỡ tantheo từng nhịp trống dồn

Và khi nỗi đau lên đến đỉnh điểm, người phụ nữ sẽ trở nên “trơ” ra với “nướcnon”, với cuộc đời Từ “trơ” được đảo lên đầu câu nhằm nhấn mạnh sự vôcảm, lạnh lùng, thờ ơ trước những đớn đau đã trở nên quá quen thuộc Còn gìđau xót hơn khi những bất hạnh lại trở thành một điều gì đó rất thường tình,

cứ đeo đẳng, bám lấy con người ta và thậm chí khiến người ta trở nên nhàmchán, mất hết cảm xúc và trở nên trơ ra như gỗ đá? Chưa hết, từ “trơ” trongcâu thơ còn mang một nghĩa khác, một hàm ý cay đắng và chua xót khôngkém: Trơ trọi Tác giả nhận thấy mình không có gì cả, không có tình yêu,không có hạnh phúc, chỉ đơn độc, lẻ loi một mình trong cuộc đời này

Câu thơ như một lời đay nghiến, mỉa mai chính mình, có hồng nhan mà phảitrơ ra như thế Thật đáng thương cho số phận của nhà thơ, đáng thương chomột kiếp người tài hoa mà bất hạnh Và cũng thật đáng thương cho nhữngngười phụ nữ đương thời bị đè nén, áp bức với những hủ tục phong kiến đếnmức xơ xác, héo mòn cả một phận hồng nhan

Nhưng, dù đáng thương, chua xót đến mức nào, chúng ta vẫn phải côngnhận một “bản lĩnh Xuân Hương” rất đáng nể phục trong hai câu thơ, khi mà

“trơ” không chỉ là một sự bẽ bàng hay vô cảm mà còn là thách thức “Trơ”kết hợp với “nước non” và “hồng nhan” đựoc xếp ngang tầm thiên nhiên vũ

Trang 14

trụ đã cho ta thấy sự can đảm, dám đương đầu với những gì lớn lao nhất, khókhăn nhất của bà Đó quả thật là một ý chí đáng nể phục, một bản lĩnh đángngưỡng mộ của Hồ Xuân Hương.

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xê khuyết chưa tròn”

Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống bao giọt sầu giọt tủi, như nuốt từnggiọt đắng giọt cay Chén rượu là chén sầu mà người uống chẳng thể đổ điđươc mà chỉ có thể lặng lẽ, âm thầm nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũngchẳng mất đi đâu mà lại trở lại trong chính tâm trí mình "Say lại tỉnh" Uốngrượu có thể say, nhưng sau cơn say người ta sẽ lại tỉnh Những lần say vànhững cơn day ấy cư lối tiếp nhau thành một vòng tuần hoàn nghiệt ngã của

số phận Cố say, cố quên, vậy mà lúc tỉnh dậy thì thấy bao nhiêu dối trá,hững hờ của người đời vẫn còn đó, và nỗi đau khổ, bẽ bàng của mình cũngvẫn còn nguyên Và ta chợt nhớ một hình ảnh bẽ bàng Tủi nhục của nàngkiều ngày nào:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa”

Trăng vốn là một biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho chonhững ước mơ và hy vọng Thế nhưng, hạnh phúc của Hồ Xuân Hương cũngnhư bao người phụ nữ khác lại xót xa đến mức khuyết chưa tròn”, một hạnhphúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở với những éo le, trắc trởtrong tình duyên Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà khôngthể biết ngày mai trăng sẽ lại khuyết tiếp hay sẽ tròn Ánh trăng sáng màlạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong nó một nỗi cô đơn, trống vắng Tuổi xuâncủa Xuân Hương đang dần mất đi mà tình duyên vẫn không được trọn vẹn

Và sâu thẳm trong tâm trí bà, dù yếu ớt đến đâu vẫn luôn lóe lên một ánh lửakhát khao, hy vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên thay đổi cuộcsống của mình Hai câu thơ tiếp theo đã nói lên điều ấy:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn ”

Bà không buông xuôi, không đầu hàng mà luôn cố gắng tìm cách để thay đổivận mệnh, cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ nhữnguất hận ấy bị đè nén, gò ép trong lòng bà đến không chịu nổi chỉ chực vỡ òa

ra, bà khao khát muốn đạp tung tất cả, muốn lật đổ mọi thứ, muốn tự do biếtnhường nào Nhưng dù sao, bà vẫn chỉ là một người phụ nữ phong kiến, mộtthân phận nữ nhi cô độc, dù phá phách, dù nổi loạn đến đâu thì tất cả vẫn chỉkết thúc trong giới hạn ngôn từ Bà không thể làm gì hơn được nữa Thế

Trang 15

nhưng , những vần thơ cuối bài lại là một mạch cảm xúc hoàn toàn mới, nêulên một chân lí mới dù cho vẫn còn chứa đựng biết bao đau thương:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con ”

Những khát khao, vùng vẫy, nổi loạn cuối cùng cũng đã bị dập tắt trong sựchán chường, bất lực Hồ Xuân Hương đã không thể vượt khỏi thân phậnmình, vị thế nhỏ nhoi cô độc của mình trong xã hội Kết thúc bài thơ là một

sự cam chịu được thốt lên trong một tiếng thở dài ngao ngán Bà đã phátngán, đã chán lắm rồi cái vòng xoáy luẩn quẩn của số phận Càng cố baonhiêu thì càng thất bại bấy nhiêu, hi vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn,càng chua xót Bà chán ghét số phận hẩm hiu của mình, chán ghét vòng tìnhduyên ngang trái luôn đeo đẳng, chán ghét hạnh phúc ít ỏi đến nỗi gần nhưkhông tồn tại

“Mảnh tình”, một cụm từ mang nặng nỗi trớ trêu của số phận Tình yêu vốn

là một điều gì đó thật cao cả thiên nhiên, nhưng tình yêu của Hồ Xuân Hươnglại như một mảnh vỡ nhỏ bé được sẻ ra từ hạnh phúc của người khác Tìnhyêu của bà rẻ mạt như một sự bố thí, như một thứ đồ vật đã qua sử dụngngười ta vứt lại cho bà Đau xót biết mấy, khi “mảnh tình” lại là một thứ đượcchia năm sẻ bảy mà bà chỉ được nhận duy nhất một mảnh “tí con con” Hạnhphúc ấy chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức tộinghiệp Tình duyên như thế thì có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục đắngcay.? Ấy thế mà, dù bị lãng quên, người phụ nữ không bao giờ tuyệt vọng,đặt một dấu chấm hết cho cuộc đời mình Họ vẫn vẫn khao khát sống mạnh

mẽ, ước ao hạnh phúc tròn đầy Ý niệm ấy thật đáng trân trọng và cao đẹplàm sao!

Trải qua tác phẩm Tự tình 2 thấm đượm nỗi chua xót, đắng cay trong cuộcđời người phụ nữ của Hồ Xuân Hương, có lẽ bài thơ : “Thương vợ” của Trần TếXương được coi là chân dung hoàn chỉnh nhất về hình ảnh người phụ nữ VNtrong xã hội phong kiến, cam chịu số phận, vượt qua đắng cay để lo toan,gánh vác việc gia đình Và phải nói rằng, tình thương vợ sâu nặng của Trần

Tế Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả, gian lao, và phẩm chất caođẹp của người vợ:

"Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ 5 con với một chồng"

Ngày xưa, theo nho giáo, người phụ nữ có bổn phận thờ chồng, nuôi con.Nhưng thờ chồng với bà bao hàm cả việc nuôi chồng, mặc dù đúng ra, ngườiđàn ông là người trụ cột trong gia đình về mọi mặt Thương bà tú biết baonhiêu khi bà xuất thân từ một gia đình gia giáo, khá giả, khi ở với cha mẹ, bàkhông phải chịu cảnh một nắng 2 sương, vất vả sớm hôm Làm vợ ông Tú lận

Trang 16

đận đường khoa thi cử, không nghề nghiệp nên bà đành chấp nhận cảnhsống long đong, cơ cực, nuôi chồng, nuôi con.

“Quanh năm” là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng, quanhnăm còn là năm này tiếp năm khác đến rã rời, mệt mỏi chứ đâu phải là 1năm Địa điểm bà tú buôn bán là mom sông, như bối cảnh hiện lên hình ảnh

bà tú tần tảo, tất bật ngược xuôi , không kể tới gian nan, nguy hiểm đangrình rập để nuôi đủ năm con với một chồng” Từ đó có thể thấy: cuộc sốngvất vả, gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ mà bà

Tú là một ví dụ điển hình Bà thực là người phụ nữ đảm đang, tháo vát khinuôi đủ cả con, cả chồng, đảm bảo đến mức:

“Cơm hai nửa”: Cá kho, rau muống

Quà một chiều: Khoai lang, lúc ngô”

(Thầy đồ dạy học)

Thế nhưng để đạt được những điều đó, bà tú đã phải cố gắng, phải lo rấtnhiều, làm rất nhiều, nhẫn nhịn cũng rất nhiều:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Thấm thía nỗi gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao

để nói về bà Tú đầy tội nghiệp, không biết tự lúc nào đã hoá thành thân cò đểlặn lội nơi sông nước, eo sèo nơi quãng vắng thưa người, gợi lên một nỗi đauthân phận không riêng của bà Tú mà là của biết bao người phụ nữ trong xãhội đương thời

Trong ca dao người mẹ từng dặn con:

“Con ơi nhớ lấy câu này,

Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”

“Buổi đò đông” không chỉ có lời phàn nàn, cáu gắt, những sự chen lấn xôđẩy mà còn chứa đựng đầy bất trắc hiểm nguy Tất cả đó đã làm nổi bật lênhình ảnh bà Tú đã vất vả, đơn chiếc lại thêm sự bươn chải trong làm ăn Vậy

mà bà chẳng dám buông lấy một lời kể lể, thở than:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Như vậy có thể nói bà Tú đã chấp nhận, đã thuận theo lòng trời, hay nóiđúng hơn, buộc phải chấp nhận, thuận theo lòng người, bởi lẽ bà là ngườiphụ nữ đảm đang, nhưng cũng rất mực thuỷ chung Bà châp nhận cuộc hônnhân duyên nợ này, cũng như chấp nhận một ông đồ nho ngông:

Trang 17

“Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”

Và bà cũng đã chấp nhận nuôi chồng, nuôi con

Còn nhà thơ thì chỉ biết tự trách mình:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”

Ở cái thời mà xã hội đã có luật không thành văn bản đối với người phụ nữ

“xuất giá tòng phu” (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng thì

“phụ xương, phụ tùy” (chồng nói vợ theo), thế mà có 1 nhà nho giám sòngphẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự nhận mình là “quân ăn lương vợ”,

“ăn ở bạc” Không những đã biết nhận ra thiếu sót mà còn dám tự nhậnkhuyết điểm Một con người như thế chẳng đẹp lắm hay sao?

Như vậy, nói rằng bà Tú là hình ảnh rõ ràng nhất cho người phụ nữ trong xãhội VN đương thời quả không sai, bởi lẽ thân phận người phụ nữ giai đoạnnày là sự éo le, trắc trở, khổ cực nhưng không có lấy một sự cảm thông, chia

sẻ từ chồng, từ con

Ta thấy, 2 bài thơ trên thật là những vần thơ đáng quý của Văn Học VN trungđại Qua những vần thơ ấy, hình ảnh người phụ nữ VN xưa kia hiện lên thật rõnét, thật đẹp đẽ, cao quí nhưng chứa đựng đầy chua xót, đắng cay Tất cảđều nói chung về thân phận bé nhỏ, số phận chìm nổi, bèo bọt, bị lệ thuộcvào XH của người phụ nữ xưa kia Phải nói, Hồ Xuân Hương va Trần Tế Xương

đã đóng góp không nhỏ vào tiếng nói, tiếng khóc chung để đòi quyền sống,quyền tự do, hạnh phúc cho 1 nửa nhân lọai, những con người gánh váctrọng trách duy sự sống loài người trên trái đất

Từ đó, ta có thể khẳng định rằng: vai trò, vị thế của nguời phụ nữ XH ngàycàng nâng cao và có đóng góp ngày 1 lớn cho sự phát triển chung trên mọilĩnh vực Song, không phải đến bây giờ, giá trị người phụ nữ mới được bộc lộ

và tỏa sáng Nếu nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, ngay cả trongnhững thời kì đen tối của chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, người phụ

nữ cả 1 đời bị ràng buộc bởi biết bao lễ giáo và định kiến khắc nghiệt, họ vẫn

là những viên ngọc sáng lấp lánh trong con mắt dân gian

Đề bài: Phân tích bài thơ “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương

Bài làm

Văn học không thể đi mãi trên ngọn cây cũng giống như con người không thể

cứ lúc nào cũng nghển cổ để hướng về những thứ tốt đẹp, tráng lệ nhưng lạikhông có thực tại trần thế Nói một cách đơn giản thì văn học sẽ chẳng baogiờ xa rời được cuộc sống vì chỉ khi đối diện với chính cuộc sống ấy ta mớithấy những hiện thực bất công đến bẽ bàng của số phận con người, đặc biệt

Trang 18

là người phụ nữ trong xã hội phong kiến đương thời Và dường như chưa baogiờ họ lại được cảm thông, chia sẻ nhiều đến thế, đúng như Nadimetlicmet

đã từng nói rằng: “Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành cây héo khô, củachim muông què quặt, của hành tinh lạnh ngắt Nhưng trước hết con hãylắng nghe nỗi buồn của con người.” Phải chăng ta đã từng xót thương chomột nàng Kiều gian truân, phải chăng ta đã từng phẫn uất cho một Vũ Nươngbất hạnh,… Nhưng khi đến với Hồ Xuân Hương, qua bài thơ “Tự tình II” do bàsáng tác và viết về chính cuộc đời của bà thì niềm xót thương ấy lại càngthêm phần xót thương, sự phận uất ấy lại càng thêm phần phẫn uất bởi lẽ sốphận người đàn bà được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” của dân tộc sao

mà éo le, ngang trái đến vậy:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

(Truyện Kiều_Nguyễn Du)

Thi phẩm “Tự tình II” nằm trong chùm thơ “Tự tình” gồm ba bài được viếtbằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật Nhan đề bài thơ đãgiúp ta phần nào hiểu được nỗi niềm của Hồ Xuân Hương, tự tình là tự bộc lộ,giãi bày tâm trạng hay chính là sự hé mở những nỗi lòng khó nói và dườngnhư bà không chỉ nói cho riêng mình mà còn nói cho cả biết bao số phậnhẩm hiu người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn khát vọng được sống,được hạnh phúc và yêu thương đến từ họ

Mở đầu bài thơ gợi lên cho độc giả nỗi niềm cô đơn buồn tủi giữa đêm khuyathanh vắng của một tâm hồn đa sầu, đa cảm khiến ta không khỏi xót thương:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

Khi màn đêm buông xuống chính là lúc con người ta được nghỉ ngơi, đoànviên bên gia đình, bỏ lại sau lưng biết bao lo toan, bộn bề của cuộc sống đểcùng nhau chìm sâu vào giấc ngủ ấm êm Nhưng cũng chính lúc này, vẫn cònmột người phụ nữ đang bơ vơ giữa cái vô thủy, vô chung của không gian, củathời gian Đêm nay hẳn cũng như bao đêm khác, người phụ nữa ấy có baogiờ hết lẻ loi một mình đâu? Cái không gian tĩnh lặng đến đáng sợ, không còntiếng ồn ào láo nhiệt mà chỉ còn tiếng trống canh dồn hối hả, giục giã nhưmuốn đớp lấy thời gian, tàn phá không gian vậy Tiếng trống canh đâu cóbình thường mà nó còn “văng vẳng” giữa không gian yên tĩnh, cái mô tip

“văng vẳng” dù có đùa vui đi chăng nữa nhưng cũng đầy não lòng: “Văngvẳng tai nghe tiếng khóc gì” (Dỗ người đàn bà chồng chết) còn đến với “Tựtình II” thì nó lại não lòng gấp bội Tiếng trống “dồn” là một đặc sắc nghệthuật được Hồ Xuân Hương khéo léo sử dụng, tiếng trống canh thường đượcđánh một lần để điểm qua mỗi canh giờ vậy cớ sao thi nhân lại cảm nhận nó

Trang 19

một cách hối hả, giục giã đến thế? Dường như bà không nghe được âm thanhtiếng trống ấy, tiếng trống mà bà nghe thấy đang được phát ra từ một khônggian hoàn toàn tách biệt với thế giới thực tại và nó vẫn luôn dồn dập tronglòng bà như một tiếng lòng rạo rực muốn cất lên tiếng nói bất bình trước thờiđại, nó còn là bước đi hối hả của thời gian, là tâm trạng bức bối, rối bời củanhân vật trữ tình trong tuyệt vọng Tưởng rằng thủ pháp lấy động tả tĩnh sẽgiúp bức tranh thấm đượm nỗi buồn trở nên vui tươi nhưng hóa ra chỉ làmmọi thứ đắm chìm vào nỗi ngao ngán trong đêm chường, để rồi chỉ biết tựtrách chính mình sao để thời gian tuổi xuân qua nhanh đến vậy Và khi mối tơlòng không thể gỡ nhưng thời gian vẫn không ngừng trôi thì chỉ còn đọng lạitrong người phụ nữ là sự bất lực đến bẽ bàng mà thôi:

“Trơ cái hồng nhan với nước non”

Từ “trơ” được đảo lên đầu câu kết hợp nhịp thơ 1/3/3 bất thường như khắcsâu thêm vào cái sự bẽ bàng “Trơ” là tủi hổ, là trơ trụi, thêm vào đó là cáchkết hợp từ độc đáo hai từ “hồng nhan” vốn chỉ nhan sắc của người phụ nữnay lại đi cùng từ “cái” nghe mới rẻ rúng, mỉa mai biết nhường nào Cái hồngnhan trơ với nước non không chỉ gợi sự dãi dầu mà hơn thế là sự cay đắngcho số phận, câu thơ như chì chiết, mỗi lúc một khơi sâu vào nỗi đau khôn tả,

nó làm ta nhớ đến tâm trạng Thúy Kiều khi bị bỏ rơi không chút đoái hoài:

“Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ”

Nghệ thuật đối giữa “cái hồng nhan” với “nước non”, giữa thân phận nhỏ bévới tầm vóc không gian lớn lao, bỏ lại nỗi đau phía sau là nỗi đau đớn thânphận, Hồ Xuân Hương như muốn thách thức, bền gan, đối chọi với xã hộiphong kiến hà khắc:

“Giơ tay với thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài”

Khi nỗi buồn đã thấm đến tận tâm can thì con người cũng chỉ biết mượn rượugiải sầu và Hồ Xuân Hương cũng vậy, nhưng liệu rượu có giúp người phụ nữ

ấy quên đi tất cả:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Khi xưa Thúy Kiều rơi vào lầu xanh cũng uống rượu thâu đêm suốt sáng vàrồi khi tỉnh dậy thì cũng chỉ biết “Giật mình mình lại thương mình xót xa” cònsau này ta lại bắt gặp Chí Phèo, khi gã tìm đến men rượu để quên đi tất cảnỗi đau của cuộc sống nhưng rồi khi hắn tỉnh rượu thì lại càng thấm thía,càng thấy rõ cuộc đời mình bất hạnh là do đâu, càng thấy rõ mình chẳng thểquay lại làm người lương thiện được nữa… Có lẽ Hồ Xuân Hương cũng vậy,người phụ nữ ấy say để quên đi nỗi sầu nhưng uống rồi thì thấm thía nỗi đau

Trang 20

đến tột cùng Từ “lại” hiện lên như một vòng luẩn quẩn mà thi nhân mãikhông thoát ra được, say rồi lại tỉnh mau như cuộc tình đến rồi cũng tan mauvậy Hương rượu khi ấy để lại vị đắng chát, hương tình khi ấy chỉ còn thoángqua như trò đùa của tạo hóa Hồ Xuân Hương xinh đẹp thật đấy, tài giỏi thậtđấy nhưng “Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài liền với chữ tai một vần” Cuộc đờicủa người lấy chồng muộn, hai lần làm lẽ rồi cũng hai lần góa bụa, suốt đờisống trong cảnh đơn côi, cuộc đời ấy đã bao giờ được hưởng hạnh phúc trọnvẹn đâu, đã bao giờ có cho mình vầng trăng viên mãn đâu, cho nên vầngtrăng hạnh phúc đó chưa bao giờ thuộc về Hồ Xuân Hương, nó chỉ có thể làtrăng khuyết, trăng xế mà thôi:

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

“Vâng trăng bóng xế” là bước đi của thời gian , ẩn dụ cho chính cuộc đời cả

bà đã đi qua tuổi xuân tươi đẹp Vầng trăng phi logic như muốn nhận mạnhnỗi buồn duyên phận hẩm hiu vẫn luôn mong chờ tình yêu đến với mình vàcũng chính vâng trăng phi logic ấy là nguồn cảm hứng để sau này thi sĩ PhiTuyết Ba từng có bài thơ tuyệt bút:

“Anh ngỏ lời yêu em

Vào một đêm trăng khuyết

Bằng tình yêu tha thiết

Biết tròn trước đêm rằm

Em vui lúc trăng tròn

Chạnh lòng khi trăng khuyết

Anh ơi anh có biết

Trăng như tình lứa đôi

Sao anh vội ngỏ lời

Vào một đêm trăng khuyết

Để bây giờ thầm tiếc

Một vầng trăng chưa tròn.”

(Trăng khuyết)

Vầng trăng tuy đẹp đến bao nhiêu nhưng rồi “Người buồn cảnh có vui đâubao giờ” Hai câu thực khép lại đã hé mở thân phận, cuộc đời người nữ sĩ, vớinghệ thuật tiểu đối đã giúp Hồ Xuân Hương bày tỏ nỗi xót xa, cay đắng chothân phận dở dang, tình duyên lỡ làng ngang trái

Trang 21

Tản Đà từng nhận xét thơ của Hồ Xuân Hương rằng: “Trong thơ Hồ XuânHương có quỷ” bởi lẽ mọi sự vật trong thơ bà lúc nào cũng cựa quậy, căngđầy sức sống:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”

Dưới ngòi bút tài hoa của nữ sĩ họ Hồ, những sự vật hèn mọn như đám rêukia vẫn không chịu nhỏ bé, những viên đá vô tri vô giác cũng không chịuđứng yên Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ kết hợp động tự mạnh “xiênngang”, “đâm toạc” cho ta thấy những hoạt động dữ dội, phá phách, ngangngạch và bướng bỉnh Không phải “xiên thẳng” mà phải là “xiên ngang”,chẳng phải “đâm rách” mà cứ là “đâm toạc” đó là cách dùng từ rất “XuânHương” Hai câu luận như nói lên chính tính cách của bà vậy, chẳng bao giờtuân theo lễ giáo, ngang ngạch, bướng bỉnh, dù ở hoàn bi thảm nhất nhưngtrong người phụ nữ ấy vẫn luôn ẩn chứa mạnh mẽ một sức sống, một khátkhao đến cháy bỏng:

“Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Say đến đâu rồi cũng phải tỉnh, ngày dài đến mấy thì cũng sang đêm, “xuânxanh” biết bao vẫn phải úa tàn và ngang ngạch nhường cũng phải chịu thuatrước cái xã hội phong kiến mục nát “trai năm thê bảy thiếp, gái chínhchuyên một chồng”:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

“Ngán” là chán ngán, là ngán ngẩm Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nỗi đời éo

le bạc bẽo bởi xuân cứ đi rồi xuân lại lại như một vòng luẩn quẩn Từ “xuân”vừa dùng để chỉ mùa xuân, vừa được dùng với nghĩa chỉ tuổi xuân Mùa xuân

đi rồi mùa xuân trở lại với thiên nhiên, với đất trời:

“Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua, sân trước một nhành mai”

(Cáo tật thị chúng)

nhưng với con người thì tuổi xuân qua đi sẽ không bao giờ quay lại nữa Trongcụm từ “xuân lại lại” cũng mang hai nghĩa khác nhau, từ “lại” thứ nhất làthêm một lần nữa, từ “lại” thứ hai nghĩa là trở lại Mùa xuân thì trở lại nhưngtuổi xuân lại qua đi, qua đi mãi không ngưng đó chính là cái gốc sâu xa của

sự chán ngán đến khôn nguôi của nữ sĩ đa sầu đa cảm Thời gian vẫn luôn làthế lực nghịch đối với cuộc sống con người đặc biệt là tuổi trẻ và tình yêu,

Trang 22

nhiều khi chính bà dám thách thức nó để nở nụ cười chiến thắng “Thân nàyđâu đã chịu già tom” nhưng rồi đành phải thừa nhận một thực tế phũ phàngrằng: “Ngán lỗi xuân đi xuân lại lại”, cảm nhận của bà làm ta nhớ câu thơcủa Nguyễn Khuyến:

“Ngày xuân tuổi hạc càng cao

Non xanh nước biếc càng ngao ngán lòng”

Trong câu thơ cuối, nghệ thuật tăng tiến được Hồ Xuân Hương sử dụng khéoléo làm cho nghịch cảnh của nhân vật trữ tình càng éo le hơn: mảnh tình –san sẻ - tí – con con Ở đây không còn là “Khối tình cọ mãi với non sông” mà

là “mảnh tình” “Mảnh tình” vốn đã ít ỏi, đã nhỏ bé, đã không còn trọn vẹnnay lại còn phải sẻ ra mà chia, mà đong, mà đếm gần như không còn lại gì cả(tí con con) Phải chăng đó chính là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hộiphong kiến xưa, khi với họ, hạnh phúc chỉ là một chiếc chăn quá nhỏ:

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Năm thì mười hoạ hay chăng chớ,

Một tháng đôi lần có cũng không.”

(Lấy chồng chung)

Nếu như đương thời chỉ có một Phạm Thái tài hoa mà ngang tàn, ngang tàn

mà chân thực, chân thực mà ngông nghênh, bảo thủ hay một Tố Như “lời văn

tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy”, một

Tố Như “có con mắt trọng thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” vàđương nhiên cũng chỉ có một Hồ Xuân Hương “học rộng mà thuần thục, dùngchữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hóa” khiếncho thi phẩm trường tồn cùng năm tháng cũng như chẳng bao giờ mất đi cáigiá trị nhân đạo cao đẹp của nó

Xuyên suốt trong bài thơ Tự tình (II) là tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hươngvừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưngvẫn rơi vào bi kịch Trước sự trớ trêu của số phận, người phụ nữ luôn khátkhao hạnh phúc, vẫn muốn cưỡng lại sự nghiệt ngã do tạo hóa trêu ngươi,đồng thời qua bài thơ cho ta thấy tài năng độc đáo của “Bà chúa thơ Nôm”trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ và hình tượng nhân vật

(Bài viết của Page Thích Văn Học)

Trang 24

Đề bài: Phân tích “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương

Bài làm

Nhà phê bình văn học Hegel đã từng nói: “Thi ca là thứ nghệ thuật chung củatâm hồn đã trở nên tự do, không bó buộc vào nhận thức giác quan vê vậtchất bên ngoài Thay vì thế nó diễn ra riêng tư trong không gian bên trong vàthời gian bên trong của tác giả và cảm xúc” Đúng, văn chương đích thựcphải là thứ văn chương “chín đủ cảm xúc” (Xuân Diệu), cũng là thứ văn khiđọc lên mà ta như thấy được cả thế giới tâm hồn, tình cảm của người cầmbút, nhất định phải là thứ văn mà sau khi gấp lại, người ta vẫn bâng khuângmãi khôn nguôi Tự Tình II của Hồ Xuân Hương là một kiểu văn như thế Nókhiến ta xúc động nghẹn ngào trước những tâm sự cay đắng của người phụ

nữ Việt Nam thời phong kiến, đồng thời trân trọng vẻ đẹp và khát vọng sốngcủa họ

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu hương đưa say lại tình

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đã mấy hòn

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con”

Nửa đầu bài thơ là khoảng thời gian nghệ thuật “Đêm khuya”, khoảng thờigian thường gợi buồn nhất Trong ca dao xưa, đêm khuya và chiều tà là lúcnhững làn sóng cảm xúc cuộn lên trong lòng người con xa xứ:

“ Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”

Dịch bánh xe thời gian qua mảng văn học trung đại, khoảng thời gian nàycũng xuất hiện khá nhiều tác phẩm văn học

“Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn”

(Bà Huyện Thanh Quan)

Dường như, trời chiều là lúc dòng tâm sự đọng lại, bước chân của đêm tốinặng nề chậm chạp khiến cho lòng người nặng trĩu Đây cũng là lúc người vợ

lẽ hay người góa phụ cảm nhận sâu sắc và thấm thía nhất nỗi bất hạnh cô

đơ Từng tiếng trống dồn dập, thúc giục, guồng quay thời gian cứ tiếp tục trôi

Trang 25

đi mà nào có đợi chờ gì tuổi xuân của một người phụ nữ vân khao khát hạnhphúc lứa đôi nhưng sớm phải chịu cảnh chăn đơn gối chiếc

Âm thanh tiếng trống lại “văng vẳng”, một thứ thanh âm hết sức mờ nhạt,

mơ hồ, từ xa dội vào tâm hồn người phụ nữ Quả thật, âm thanh từ xa nên

mờ nhạt hay chính tâm hồn người phụ nữ đang xao động mải mê tìm kiếmmột thứ phù du xa xôi nên thanh âm của tiếng trống nhạt mờ thoáng quanhư một làn gió nhẹ

Hồng nhan là một người con gái đẹp, nhưng “cái hồng nhan” gợi cho ta liêntưởng tới một vật vô tri vô giác “Trơ cái hồng nhan”, cụm từ trần trụi, thômộc gợi ra bóng hình người con gái đẹpnhưng tâm hồn lại quá chai sạn mọicảm xúc, cảm giác Đặt “hồng nhan” bên cạnh “nước non” ta đã phần nàothấy được sự đối lập giữa một bên nhỏ bé, một bên rộng lớn, một bên yếu ớt,một bên bao phủ choán ngợp khắp bốn phương Tuy nhiên, sự đối lập ở đâykhông những không làm cho hình ảnh hồng nhan bị che khuất, bị lu mờ màtrái lại càng tô đậm cho mối sầu vạn kỉ, mệt mỏi, cô độc thấu tận tim gan Trong hoàn cảnh khổ đau, kiếp người đó tưởng như đã hóa đá nhưng không,thẩm sâu trong trái tim con người ấy là một tâm trạng bồn chồn không yên:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Tìm đến rượu để quên đi nỗi đau nhưng trớ trêu thay, càng uống, nỗi đaucàng thấm thía, càng khắc sâu vào trong trái tim mong manh, yếu đuối Saylại tỉnh, tỉnh lại say, quá trình diễn ra lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn.Cuộc đời người phụ nữ chỉ chìm đắm trong chuỗi ngày tẻ nhạt cùng với tâmtrạng u uất Chợt ta nhớ đến nàng Thúy Kiều đáng thương, nàng cũng từng bịgiam cầm trong chuỗi thời gian vô vị đó:

“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

Hai con người ấy, hai thân phận khác nhau nhưng cùng chung một số phận,một hoàn cảnh, eo le đáng thương làm sao Hình ảnh “vầng trăng bóng xế”

có lẽ là một hình ảnh ẩn dụ hơn là một hình ảnh tả thực Trăng xế bóng haycũng là cuộc đời người phụ nữ đã ngả chiều Trăng thường gợi kỉ niệm, gợi sựtròn đầy viên mãn của hạnh phúc lứa đôi, bao cuộc tình thủy chung nồngthắm cũng diễn ra dưới ánh trăng, nhờ vầng trăng chứng giám:

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song”

Trang 26

Nhưng giờ đây, ánh trăng sắp tàn như cuộc tình dang dở của người phụ nữ đãđến hồi dang dở…Nhưng Xuân Hương là thế, một người phụ nữ không bao giờchịu thua hoàn cảnh, luôn tìm cho mình một lối đi khác người, rất ngông, rất

lạ đó, làm sao có thể để nỗi đau lấn át lí trí, tâm hồn? Trong tột cùng của khổđau, cô độc, nữ sĩ vẫn tin ở chính mình, tìm thấy nguồn sức mạnh lớn lao đểlàm động lực:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”

Đưa con mắt lạc lõng ngắm nhìn mọi vật xung quanh, nhân vật trữ tình thấy

“rêu từng đám” đang xiên ngang mặt đất, “đá” đang đâm toạc chân mây

“Xiên ngang, đâm toạc” là những động từ rất mạnh, cùng nghệ thuật đảongữ được sử dụng rất đắt đã diễn tả được sưc mạnh của sự sinh tồn trongnhững vật nhỏ bé, đơn sơ Màu xanh non của rêu hiện diện trên sắc màu xámxịt của đất như khẳng định sức sống mãnh liệt của rêu Không những thế, nócòn như biểu hiện của một tia hy vọng nhỏ bé nhưng hết sức thiết tha thoátkhỏi xã hội đương thời phàm tục, dơ bẩn, cũng chính là thoát khỏi kiếp sống

cô độc, lẻ loi như đang bóp nghẹt tuổi xuân của người phụ nữ

Những hòn đá rắn rỏi chen vào khung trời rộng lớn nhưng trống trải cũng dủlàm khung cảnh trở nên sinh động hơn bao giờ hết Chỉ với hai hình ảnh giản

dị, nhỏ bé nhưng nữ sĩ đã đưa người đọc từ sự xót xa trước những khổ đaucủa người phụ nữ sang trân trọng sữ mạnh tinh thần, vẻ đẹp tính cách của

họ Đo cũng chính là một trong những nét độc đáo tạo nên cái “ngông” trongthơ của Hồ Xuân Hương Tạo cho người đọc cảm giác mạnh, bất ngờ, đúng làchỉ có được trong nữ sĩ có một không hai của văn học Việt Nam

Hai câu thơ cuối cùng:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con

Nhưng cho dù có thể hiện mình mạnh mẽ và đầy niềm tin như thế nào nhưngngười phụ nữu vẫn không thể phủ nhận hiện thực khắc nghiệt Hai câu cuốicùng cất lên như một tiếng thở dài đày chua xót, đắng cay, ngán ngẩm vềkiếp sống của một kiếp hồng nhan bị giam cầm trong hai từ “định mệnh”.Tuổi xuân- nhan sắc, hai thứ một khi đã ra đi thì không bao giờ có thể quaylại Mùa xuân của thiên nhiên đất trời như đã được lập trình để quay trongmột vòng tuần hoàn không có điểm kết thúc, nhưng trớ trêu thay, mùa xuâncủa đời người lại hữu hạn, xuân năm ngoái có thể là sự cách biệt với xuânnăm nay Chính vì vậy, mỗi mùa xuân đi qua, người phụ nữ lại càng một héohon, già nua trong sự vui tươi, hồi sinh của đất trời Qua đây ta cũng thấyđược ý thức của con người về bản thân mình với tư cách cá nhân, có ý thức

về giá trị của tuổi thanh xuân và sự sống

Trang 27

Mảnh tình có ý diễn tả chút tình cảm nhỏ nhoi nhưng ở đây lại phải san sẻ,cuối cùng chỉ còn lại là tí con con không đáng kể Đọc câu thơ, ta thấy thâmtrong từng câu chữ la tâm trạng xót xa cảu một người phụ nữ tài hoa bạcmệnh Hồ Xuân Hương Cuộc đời của người phụ nữ ấy là một chuỗi nhữngđắng cay tủi nhục, là cuộc đời của những dòng nước mặt lăn dài: qua hai lần

đò đều không viên mãn Làm lẽ ông Tổng Cóc, sau đó là ông phủ Vĩnh Tườngnhưng cả hai lần, người phụ nữ bất hạnh này đều không có được hạnh phúctương xứng

Nhưng ẩn sâu trong từng câu chữ không phải là một sự tuyệt vọng, đau xót,càng không phải bởi vì đó chính là Hồ Xuân Hương- người phụ nữ mạnh mẽ,bản lĩnh, có đủ dũng cảm để đương đầu lại với cả hiện thực phong kiến, cảnhững quy tắc lễ giáo ràng buộc Ta như thấy những tia hy vọng tuy nhỏ bénhưng hết sức mạnh mẽ, có cơ sở: thi sĩ vẫn muốn tiếp tục đem san sẻ vớimong ước chân thành đẻ cho nhân tình thế thái đỡ xanh như lá, bạc như vôi Bài thơ “Tự tình” không những thành công trên phương diện nội dung mà ởphương diện nghệ thuật cũng đạt được những thành tựu đáng kể Cách sửdụng từ ngữ cảu Hồ Xuân Hương hết sức giản dị, giàu sức biểu cảm, táo bạonhưng cũng không kém phần tinh tế Cách sử dụng từ ngữ cũng góp phần tạonên tính đa thanh của tác phẩm: khi thì tủi hổ phiền muộn, lúc phản khángbực dọc, khi lại chua chát chán chường nhưng vẫn ánh lên niềm lạc quan hyvọng Ngoài ra tác giả còn sử dụng những vế tiểu đối như “hồng nhan” –

“nước non” hay phép tăng tiến,… Với những nét đặc sắc về nghệ thuật ấy,

Hồ Xuân Hương đã góp phần hoàn thiện một tiếng thơ hết sức táo bạo, mới

lạ cho nền văn học trung đại Việt Nam

Cùng với “ Tự tình II”, Hồ Xuân Hương còn đóng góp rất nhiều tác phẩm khácvào nền văn học trung đại như “Bánh trôi nước”, “Cảnh làm lẽ”, “Quả mít”,…Nhưng dù viết về đối tượng nào thì cuối cùng điều mà nữ sĩ muốn phản ánh

là số phận, cuộc đời cùng với tài năng và tính cách của người phụ nữu trongn

xã hội phong kiến Ngoài ra bà còn chĩa thẳng ngòi bút của mình vào cả một

bộ máy phong kiến cổ hu, lạc hậu, ràng buộc moi quyền sống, quyền hạnhphúc của người phụ nữ bằng một thái độ mạnh mẽ, cứng rắn đậm chất

“ngông” của bà, điều này lại một lần nữa tô đậm dấu ấn rất riêng trongphong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương lên văn đàn Việt Nam

*Nhận định hay dùng cho thi sĩ Hồ Xuân Hương và bài thơ “Tự tình II”

1 “Họ ném cả trái tim của họ, ném cả cuộc đời của họ vào cuộc đời cũng nhưnhững nhà trữ tình vĩ đại trong xã hội cũ, thơ của họ là máu và nước mắt mặccái áo trào phúng đó thôi” (Xuân Diệu)

2 Xuân Diệu khi nói về Bà đã cho rằng Hồ Xuân Hương “Tài thật, bạo ganthật”

Trang 28

3 “Bà chúa thơ Nôm” (Xuân Diệu)

4 “Trong thơ Hồ Xuân Hương có quỷ” (Tản Đà)

5 Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đã khẳng định rất rõ, vì thế mà thơ của Bàrất tinh tế, sáng tạo cả nội dung lẫn hình thức, không gò bó mà luôn luônkhoáng đạt Nhiều nhà nghiên cứu từ trước cho đến nay coi Bà là “võ lâm caothủ ngữ ngôn”, và theo Xuân Diệu: “Bà chúa của động từ, âm thanh, màusắc, ngay cả chữ nghĩa Bà cũng vặn chéo”

6 Xuân Diệu đã nhận định: “Hồ Xuân Hương ra cái gương mẫu hoàn toànnhất về việc dân tộc hóa và đại chúng hóa những điệu thơ vay mượn củanước ngoài”

7 Nhà thơ Pháp Jăng Rixtat – một nhà thơ có tên tuổi ở Châu Âu gần đâytrong bài tựa bản dịch thơ Hồ Xuân Hương sang tiếng Pháp, đã coi Hồ XuânHương là: “…một trong những tên tuổi lớn nhất của văn học Việt Nam vàkhông chút nghi ngờ, là một trong những nữ sĩ hàng đầu của châu Á, …”

8 Lê Trí Viễn có viết: “Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tâm tình của ngườiphụ nữ, thể hiện một bản lĩnh sống mạnh mẽ khác thường

9 Thi sĩ Dimitrova người Bulgaria ca ngợi bà: “Hồ Xuân Hương là một trongnhững hiện tượng văn học độc đáo nhất của Việt Nam trong toàn bộ nguồnthơ mà tôi được biết trên nền thơ thế giới qua tất cả các thời đại.”

10 Tốn Phong viết: “Tứ thơ dồi dào nhưng vẫn tỏ ra vui mà không buôngtuồng; buồn mà không đau thương; khốn khổ mà không lo phiền; cùng màkhông bức bách Thật là do tính tình nghiêm chỉnh mà ra Cho nên, khi hátlên, ngâm lên những lời thơ ấy, thì tay cứ muốn múa, châm cứ muốn dậm màkhông tự biết Lưu Hương Ký tuy đầy vẻ gió, mây, trăng, móc, nhưng đều tựđáy lòng mà phát ra, biểu hiện thành lời nói, lại cũng đều đúng với cái ý trênkia là xuất phát từ mối tình mà biết dừng lại trên ân nghĩa.”

11.Tốn Phong đã dẫn lời khen của Cư Ðình: “Cổ Nguyệt Ðường Xuân Hươnghọc rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơđúng phép mà văn hoa Thức là một bậc tài nữ.”

12 GS Hoàng Xuân Hãn nhận xét:

Một người thẩm phán về mặt hình thức văn thái (Cư Ðình), một người xét vềmặt ý tứ văn (Tốn Phong) Cả hai lời phẩm bình đều đúng Riêng về mặt thơNôm, ta nhận thấy có kỹ thuật chắc, lời nghiêm nghị mà bóng bảy, từ thiếttha Nhưng thơ trữ tình mà không có gì lả lơi hay bỡn cợt, trái với hầu hếtnhững thơ Nôm mà ta thường đọc trong các sách báo dưới mục “Thơ HồXuân Hương”

Trang 30

Địa điểm “mom sông” : phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

=> Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổnđịnh

+ Lí do:

“nuôi” : chăm sóc hoàn toàn

“đủ năm con với một chồng” : một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, khôngthiếu cũng không dư

=> Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ

nữ còn nuôi chồng => hoàn cảnh éo le trái ngang

Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhậnmình cũng là đứa con đặc biệt Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗicực nhọc của vợ

=> Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con

- Hai câu thực

+ Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông”nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con còbằng thân cò):

“Lặn lội” : Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng

Trang 31

Hình ảnh “thân cò” : gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn -> gợi tả nỗi đauthân phận và mang tính khái quát

“khi quãng vắng” : thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy nhữngnguy hiểm lo âu

=> Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệthuật ẩn dụ

+ “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sựbất trắc

"Buổi đò đông": Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứađầy những sự nguy hiểm, lo âu

-> Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dângian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú

=> Thực cảnh mưu sinh của bà Tú: Không gian, thời gian rợn ngợp, nguyhiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú

Những đức tính cao đẹp của bà Tú

- Hai câu luận

+ “Một duyên hai nợ” : ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đànhphận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu+ “nắng mưa” : chỉ vất vả

+ “năm”, “mười” : số từ phiếm chỉ số nhiều

+ “dám quản công” : đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội

tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại

=> Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên

sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vìchồng vì con của bà Tú

- Hai câu kết

+ Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với ngườiphụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vấtvả

+ Tự ý thức:

“Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểuhiện của thói đời

Trang 32

+ Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con vàchồng.

=> Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cảthói đời đen bạc

c) Kết bài

- Khẳng định lại giá trị về nội dung và nghệ thuật của bài thơ

- Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xãhội hôm nay

Trang 33

CẢM NHẬN THƯƠNG VỢ

Hình ảnh người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở trong nền thi ca Việt Nam.Tuy nhiên, thơ văn viết về người vợ bằng tình cảm của người chồng đã ít, naylại viết “tế sống” người vợ còn hiếm hoi hơn Và Trần Tế Xương là người đànông đã đưa hình ảnh người vợ của mình vào những dòng thơ trữ tình nhưngcũng không kém phần trào phúng Trần Tế Xương hay còn gọi là Tú Xương,giống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân nửa phong kiến Ông

là người thông minh ham học có tài làm thơ nhưng lại lận đận trong thi cử.Ông nổi tiếng trong hai mảng thơ trữ tình và trào phúng có pha chút giọngcười châm biếm, sắc sảo bắt nguồn từ tâm huyết với dân với nước với đời TúXương đã từng được mệnh danh là nhà thơ trào phúng xuất sắc nhất của vănhọc Việt Nam cuối thể kỷ XIX Những tác phẩm ông để lại chủ yếu là thơ Nôm

và có nhiều bài rất đặc sắc, có thể nói là tuyệt mỹ cả về nội dung lẫn nghệthuật Minh chứng rõ nhất là bài thơ Thương vợ Tú Xương đã bộc lộ tình yêuthương, sự trân trọng và cả nỗi ăn năn trước sự hi sinh của vợ trong bài thơnày:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Thương vợ nằm trong những sáng tác của Tú Xương về bà Tú cũng là mộttrong những bài thơ hay, cảm động nhất của ông về vợ mình Bài thơ đượcviết bằng chữ Nôm với những ngôn từ bình dị và hình ảnh đẹp đẽ Nó khôngchỉ đề cập đến nhiều khía cạnh trong xã hội mà còn là tiếng lòng tha thiếtđầy xót xa của Tú Xương – nạn nhân của xã hội bấy giờ, đã biến con người trởnên vô tích sự với chính bản thân và gia đình Đồng thời bài thơ cũng giúpngười đọc thấy được đức hi sinh to lớn của người phụ nữ xưa đối với gia đình

Trang 34

Mở đầu tác phẩm Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinhcủa bà Tú:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Mạch cảm xúc của thi phẩm dần được mở ra với bức tranh toàn cảnh về nỗikhó nhọc lo toan của bà Tú Câu vào đề như để giới thiệu hoàn cảnh lam lũvất vả qua cách nêu thời gian, địa điểm Tác giả sử dụng từ “quanh năm” –cụm từ chỉ một khoảng thời gian rất dài, lặp đi lặp lại như một vòng tuầnhoàn khép kín của tự nhiên, tác giả đã diễn tả được nỗi vất vả triền miên của

bà Tú trải hết ngày này qua tháng khác, mặc kệ nắng mưa Chỉ có thế cũng

đã đủ để lại trong lòng độc giả một hình ảnh tần tảo, đầu tắt mặt tối của bà

Tú Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, cách cân đo đong đếm thời gian như thếcòn góp phần làm bật lên cái không gian buôn bán của bà thông qua hìnhảnh “mom sông” Địa thế “mom sông” đầy trắc trở hiểm nguy khôn lường lại

là chỗ làm ăn buôn bán hàng ngày của người phụ nữ Thời gian dài đằngđặng kết hợp với địa điểm trắc trở càng tôn lên hình ảnh bà Tú tảo tần, hếtlòng hết sức vì miếng cơm manh áo cho cả gia đình Với giọng thơ hỏm hỉnhcùng tài năng trong nghệ thuật thơ trào phúng, Tú Xương đã làm nên mộtcâu thơ thứ hai như lời lên án gay gắt xã hội phong kiến đã biến những ngườiđàn ông vốn là trụ cột trong gia đình thành kẻ vô tích sự, sống dựa dẫm và

cả đời “ăn lương vợ”

“Trống hầu vừa dứt, bố lên thang

Hỏi ra quan ấy ăn lương … vợ”

(Quan tại gia – Trần Tế Xương)

Đôi vai của bà Tú đã nặng nay lại càng nhân lên những nỗi gian truân khiphải “bất đắc dĩ” trở thành trụ cột trong gia đình Từ “đủ” vừa biểu thị chấtlượng vừa biểu thị số lượng Bên cạnh đó cách đặt hai từ số đếm “năm” và

“một” tưởng chừng khập khiễng nhưng lại hóa độc đáo và mới lạ Tú Xương

tự chế giễu mình khi so sánh bản thân với năm người con Ông tự cho mình là

“đứa con đặc biệt”, ngầm nâng cao vị thế của người vợ lên một thứ bậcthiêng liêng Hơn thế nữa, cấu trúc năm-một cùng từ “với” chất chứa bao nỗi

hổ thẹn của người chồng phải sống dựa vào vợ Hai câu mở đầu đã thể hiệnđược tất cả những đức tính cao đẹp của bà Tú: chịu thương, chịu khó để nuôi

Trang 35

đủ gia đình Qua đó Tú Xương cũng khéo léo thể hiện sự biết ơn của mình,đồng thời còn là sự hổ thẹn khi phải đặt mình tương đồng với những đứa conthơ Thật xót xa, ngậm ngùi biết bao!

Thấu hiểu được những nỗi lo toan, vất vả của người vợ, Tú Xương liên tưởngđến hình ảnh con cò trong ca dao:

“Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

để cực tả nỗi khổ tâm của bà Tú trong hai câu thực:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

Tú Xương sử dụng từ “thân cò” vừa thể hiện cái tính riêng, sự sáng tạo mangtính thời đại trong phong cách thơ của mình, vừa đồng nhất thân phận của

bà Tú nói riêng và hình ảnh của người phụ nói chung với hình ảnh mỏngmanh của “cái cò” Tiếp đó chữ “thân” tuy đơn giản nhưng nghe thật cayđắng, nó gợi cho người đọc về một thứ gì đó nhỏ bé tội nghiệp đến vô cùng

“khi quãng vắng” là một cụm từ rất đặc biệt, nó không chỉ gợi lên cái khônggian rợn ngợp, cảm giác đầy nguy hiểm rình rập nơi mom sông heo hút màcòn diễn tả nỗi khắc khoải của thời gian Cùng với nghệ thuật đảo ngữ, từ láy

“lặn lội” đã nhấn mạnh hình ảnh vất vả mưu sinh đến xót xa, gầy guộc củangười phụ nữ Nếu câu thơ thứ ba gợi lên nỗi cực nhọc đơn chiếc thì câu thứ

tư lại là sự vật lộn với cuộc sống bán mua đông đúc Một lần nữa Tú Xương lạidùng biện pháp đảo ngữ với từ láy tượng thanh “eo sèo” gợi sự tấp nập ồn ã

để nhấn mạnh cảnh tượng thường tình nơi chợ búa gắn liền với người phụ nữ

có “năm con với một chồng” Hình ảnh “buổi đò đông” cũng góp phần làmbật lên một bà Tú cần mẫn, tất bật Buổi đò đông cùng với “khi quãng vắng”

đã tạo nên sự nguy hiểm, gian lao gấp nhiều lần Ông cha ta có câu “ sôngsâu chớ lội, đò đầy chớ qua” nhưng vì cuộc sống, vì cơm áo gạo tiền chochồng con mà bà Tú đã phải dấn thân vào chốn hiểm nguy đó Hai câu thực

dù đối nhau về từ ngữ “buổi đò đông”- “khi quãng vắng” nhưng lại tiếp nhau

về ý làm nổi lên sự lam lũ gian truân của người phụ nữ nhỏ bé này

Trang 36

Đến với hai câu thơ tiếp theo, Tú Xương như nhập vai vào chủ thể trữ tìnhnhằm mượn lời vợ để ngầm ca ngợi những hi sinh âm thầm mà bà dành chochồng con:

“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.”

Theo quan niệm phong kiến xưa, “duyên” và “nợ” là hai định nghĩa hết sứcthiêng liêng về mối quan hệ vợ chồng do ông trời định sẵn, xuất phát từ sợichỉ hồng của ông tơ bà nguyệt Thế nhưng khi đưa vào lời thơ Tú Xương, haithứ đó trở nên nặng nề như một lời than thở khi duyên chỉ có một mà nợ lạitới hai Bên cạnh đó việc sử dụng hai thành ngữ song song với nhau “mộtduyên hai nợ” – “năm nắng mười mưa” vừa đối nhau về từ, vừa đối nhau về ý

đã khiến cho câu thơ trầm lắng trước nỗi khổ tâm của bà Tú Không nhữngthế sự đối lập này còn thể hiện rất rõ tài năng văn chương điêu luyện của thi

sĩ Đức hi sinh cao cả của bà Tú còn được nhắc đến qua hai cụm từ “âu đànhphận” và “dám quản công” Nguyên nhân dẫn đến sự lam lũ hi sinh âm thầmđầy cam chịu của bà tuy giản đơn mà cao quý Đó là vì mối nhân duyên vớingười chồng và đàn con thơ Từ việc pha trộn lời thơ đan xen với nhữngthành ngữ và biện pháp đảo ngữ cực kì tinh tế, nhà thơ Tú Xương đã khắc họathành công tấm chân tình của người vợ với đầy đủ đức hi sinh, tần tảo nhưmột người phụ nữ Việt Nam truyền thống

Vì thương vợ, thương cho thân phận đời nữ nhi mà lại sắm vai trụ cột tronggia đình, Tú Xương đã tự trách bản thân mình Hai câu thơ cuối cũng vì thếgiống như tiếng chửi vừa cay đắng vừa phẫn nộ cho những định kiến khắtkhe:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Mạch cảm xúc của thi phẩm dường như có sự chuyển biến đột ngột Tú Xươngkhông còn ẩn mình sau những dòng thơ để tán dương vợ mà đã xuất hiện đểnói thay, để trách ông chồng, để trách phận mình của bà Tú “Cha mẹ thóiđời ăn ở bạc” là một cách nói rất phù hợp với phong cách thơ trào phúng đó

là sự giận đời vì cái xã hội thối nát lúc bấy giờ Thêm vào đó ít ai biết đượcrằng đằng sau tiếng chửi đời đầy dứt khoát ấy lại là một bi kịch của conngười chất chứa bao nỗi đau xót Tú Xương chửi cái “thói đời” nhưng cũng là

Trang 37

sự chửi mình, tự chửi một đống nam nhi đang trên đường công danh màkhông giúp được vợ lại thành kẻ ăn bám Tú Xương coi mình là một người “hờhững” trong trách nhiệm của một kẻ làm cha, làm chồng Thế nhưng nếunhìn nhận lại sự việc thì Tú Xương quả là đáng thương hơn đáng trách Bởi,suy cho cùng chính xã hội kia đã đẩy ông vào đường cùng Hai câu thơ khéplại tác phẩm là lời tự rủa mình, rủa đời của Tú Xương nhưng lại mang đậm ýnghĩa lên án xã hội sâu sắc, góp phần khẳng định tình cảm của ông với vợmình Người ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng rất chu đáo luôn dõi theo bà, đặcbiệt luôn tỏ lòng biết ơn của mình đối với người phụ nữ ông yêu thương Thiphẩm kết thúc thật bất ngờ vừa thấm đượm được cái bi, cái bất hạnh trongnỗi niềm riêng của tác giả, vừa dí dỏm hài hước.

Tấm lòng thương vợ của Tú Xương đối với cả thời quá khứ và hiện tại vẫn làtấm gương sáng cho bao người Bài thơ giữ nguyên giá trị cùng với ý nghĩanhân văn sâu sắc về sự yêu thương, trân trọng và thấu hiểu những nỗi đau,

sự hi sinh của người phụ nữ cho gia đình Đồng thời đó cũng là tiếng nói phêphán sự bất công của xã hội phong kiến thối nát, mục ruỗng

Như vậy, bài thơ Thương vợ là một thi phẩm mang đậm tính nhân văn sâusắc Với chất thơ bình dị mà trữ tình mang chút trào phúng, Tú Xương đãthành công trong việc khắc họa một bức chân dung về người phụ nữ ViệtNam lúc bấy giờ, vừa mộc mạc chất phác, vừa cứng rắn mạnh mẽ Vì vậy quảthật Tú Xương chính là thi nhân viết thơ về vợ hay và cảm động nhất Ông đã

để lại cho đời những áng văn chân thành xúc động và đầy giá trị

Trang 38

Đề bài: Phân tích “Thương vợ” của Trần Tế Xương

Bài làm

Nào có nghĩa gì cái chữ nho,

Ông nghè ông cống cũng nằm co

Chi bằng đi học làm thầy phán,

Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.”

Thầy phán (Trần Tế Xương)

Có lẽ đoạn thơ trên cũng đã phác họa được phần nào xã hội của ta lúc bấygiờ Và Trần Thế Xương – một con người sống trong nỗi thế thái nhân tình ấychỉ có thể gác tiếng lòng qua những vần thơ in màu hiện thực Trần Tế Xươngsinh năm 1870 mất năm 1907, quê ở Nam Định Ông từng thi đỗ tú tài nênđược mọi người gọi là Tú Xương Các sáng tác của ông chủ yếu là thơ Nômgồm nhiều thể thơ khác nhau, văn tế, phú và câu đố Tác phẩm của Tú Xươngbắt nguồn từ tâm huyết của nhà thơ với dân với đời thể hiện sự trào phúng

và đậm chất trữ tình Trong số đó, có lẽ “Thương vợ” là bài thơ cảm độngnhất khi mang lời tâm sự tràn đầy tình yêu của ông dành cho bà Tú Chúng tacũng đã không ít lần bắt gặp hình ảnh của bà Tú trong thơ ông như:

“Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười

Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ”

(Tế sống vợ)

Vậy đến với “Thương vợ”, bà Tú được nhà thơ khắc họa thế nào, ta sẽ cùngbước vào trang thơ ấy

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không.”

Nét đặc sắc của bài thơ “Thương vợ” có lẽ chính là tình cảm mà tác giả gửigắm vào đó, một chân tình chỉ có thể mượn thơ cất lên Và thật vậy, ở sáucâu thơ đầu tiên, hình ảnh người vợ tần tảo, người mẹ đôn hậu đầy sự hysinh hiện ra trướt mắt người đọc, đồng thời vang lên đâu đó nỗi bất lực củatác giả Đó cũng là một nỗi đau âm ỉ trong mỗi vần thơ:

Trang 39

“Quanh năm buôn bán ở mon sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Ở hai câu thơ đâu, bà Tú – người phụ nữ chịu thương chịu khó, lúc nàocũng đầu tắt mặt tối với việc buôn bán “Quanh năm” là một chuỗi thời gianliên tiếp ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác và năm này quanăm khác mà bà Tú tất bật với gánh nặng trên vai không lúc nào ngơi nghỉ

Bà Tú bán ở “mom sông” là phần đất bờ sông nhô ra, một thế đất chênh vênhgợi một cuộc sống đầy cơ cực của người phụ nữ “nuôi đủ năm con với mộtchồng” Chỉ với từ “đủ” cũng gần như chấm thêm nét bút đẹp đẽ vào chândung bà Tú Thường thì chẳng ai đếm chồng đếm con bao giờ cả thế nhưng vìmuốn cất lên nỗi chua chát về một gia đình đông con lại có chồng “ăn lươngvợ” mà câu thơ đã tự trào làm nên nét độc đáo cho bài thơ

Đến đây, hẳn có người sẽ thắc mắc vì sao Tú Xương thấu hiểu nỗi khổ của

vợ mà không giúp được gì

“Tiền bạc phó cho con mụ kiếm

Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi”

(Tự cười mình)

Giai đoạn này đất nước gặp bao nỗi bi thương sau khi tỉnh Nam Kỳ mấttrọn trong tay Pháp, Bắc Kỳ bị tấn công lần thứ nhất Đứng trước bối cảnhxục côi và bi thương ông đã quyết tâm đỗ cho được cử nhân để có tiếng nóichống lại chế độ mục nát này Thế nhưng thi tổng cộng 8 lần mà ba năm mới

tổ chức một lần chỉ có đỗ Tú tài (lúc bấy giờ không còn được trọng dụng).Chính vì mải lo học để thi cử nên ông để hết gánh nặng gia đình cho mộtmình bà Tú gánh vác Nhưng không phải vị vậy mà ông vô tâm, ông để bà Túbước vào thơ như cách thể hiện tình cảm của mình Đến với hai câu thực,chân dung bà Tú càng rõ nét:

“Lặn lôi thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Nhà thơ đã vận dụng hình ảnh con cò trong câu ca dao cổ:

“Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

Kết hợp với đảo ngữ và đưa “lặn lội” lên đầu câu thơ, thay thế “con cò”bằng “thân cò” để nhấn mạnh nỗi gian truân, vất vả của bà Tù Không chỉvậy, không gian “khi quãng vắng” gắn liền với sự gian nan, nỗi đau thânphận của bà Tú thật heo hút và chứa đầy âu lo, nguy hiểm Từ láy tượngthanh “eo sèo” chính là âm thanh mua bán, cãi vã, bà Tú đã sống một đờilam lũ, cơ cực nơi “mặt nước buổi đò đông” Câu thơ bất trắc gợi nhớ về câu

ca dao:

Trang 40

“Con đi mẹ dặn câu này

Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”

Từ một người phụ nữ vốn là “em gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ”, bà phảikiếm cái ăn đủ cho sau người, phải bươn chải, “lặn lội” giữa sự đời, chợ đời

Từ ngữ đối lập “khi quãng vắng” và “buổi đò đông” góp phần khái quát cảnhlàm ăn vất vả, cực nhọc mà đơn chiếc của bà Tú dù cho bất kì nơi đâu, vắngngười hay đông người để từ đó ta nhìn thấy được sự thấu hiểu và tấm lòngthương xót da diết của Tế Xương với vợ

Nối tiếp hai câu thực chính là hai câu luận, mà ở hai câu này tác giả đã bộc

lộ tài năng sáng tác của mình:

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Chỉ với hai câu thơ tác giả đã vận dụng một cách xuất sắc, đối xứng hàihòa hai câu thành ngữ “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa” mangđậm màu sắc dân gian “Duyên” ở đây là duyên số, duyên phận, còn “nợ” là

“nợ đời” mà bà Tú phải gánh vác “Duyên” số chỉ có một mà “nợ” có nhữnghai nhưng bà Tú vẫn không phàn nàn, than trách mà âm thầm chịu đựng hysinh vì chồng con “Năm nắng mười mưa” nói lên những ngày tháng chịuthương chịu khó của bà “Âu đành phận” và “dám quản công” ở cuối mỗi câukhông phải là tiếng tắc lưỡi mặc kệ sự đời, mà đó là âm thầm chịu đựng lấy

sự hy sinh làm hạnh phúc

Qua sáu câu thơ đầu, Tú Xương với sự cảm phục, cảm động trước sự hysinh rất nhiều của bà Tú đã chaaos bút phác họa nên hình ảnh người vợ tầntảo, đảm đang, chịu thương, chịu khó Đó có lẽ là hình ảnh chung cho ngườiphụ nữ lúc bấy giờ cần cù tảo tần sớm tối để chăm đủ cái ăn mặc cho chồngcon Tú Xương đã sử dụng những hình ảnh, ngôn từ sáng tạo, ấn tượng làmnên nét đặc trưng cho riêng thơ ông

Nếu ở hai câu đầu Trần Tế Xương đưa ra hình ảnh bà Tú với nỗi vất vả, giantruân thì đến hai câu kết, hình ảnh ông Tú ẩn hiện đâu đó trong từng vần thơ: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”

Tác giả đã sử dụng ngay chính từ ngữ thông tục, tiếng chửi nơi “momsông” để đưa vào thơ thật tự nhiên, bình dị Nhà thơ tự trách mình “ăn lươngvợ”, “ăn ở bạc” với vợ, ông đặt mình ngang với “năm con” và rồi tự thấymình chưa làm tròn vai trò của người cha kể cả người chồng Sự “hờ hững”

ấy đồng thời nói lên thói đời bạc bẽo, một xã hội phong kiến trọng nam khinh

nữ mà Tú Xương cảm thấy bất mãn Chính cái xã hội “dở Tây dở ta” khiến chođường công danh thi cử của ông gặp nhiều khó khăn, trắc trở cũng là nguyênnhân sâu xa làm nên sự “hờ hững” này Thế nhưng Tú Xương đã “tự sòng

Ngày đăng: 17/09/2022, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w