1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hướng dẫn học triết học mác lênin; bài giảng ngắn gọn sách giáo trình triết học MácLênin

134 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 6,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HƯỚNG DẪN HỌC TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VŨ TIẾN DŨNG VŨ THỊ HẰNG (Đồng chủ biên) H Ư Ớ N G D Ẫ N HỌC TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Đồng chủ biên TS VŨ TIẾN DŨNG TS VŨ THỊ HẰNG Tha.

Trang 3

H Ư Ớ N G D Ẫ N HỌC TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 4

Tham gia biên soạn: TS LÊ KIM CHÂU

ThS NGUYỄN MẠNH TIẾN ThS LÊ THỊ BÍCH ThS THÂN VĂN THƯƠNG ThS TRẦN ĐÌNH THỎA

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 7

Chương 1 TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC

TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI I TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC 9

II TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 20

Chương 2 CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG I VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 32

II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 46

III LÝ LUẬN NHẬN THỨC 66

Chương 3 CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ I HỌC THYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI 82

II GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC 92

III NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI 103

IV Ý THỨC XÃ HỘI 109

V TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

Trang 7

Học phần Triết học Mác - Lênin thuộc các bộ môn Chủ nghĩa Mác

- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, trang bị một cách tổng hợp, toàn diện những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số vấn đề thực tiễn trong đời sống xã hội

Nhằm cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ mục đích nghiên cứu, học tập, ôn thi học phần Triết học Mác - Lênin cho giảng viên, học viên

và sinh viên Trường Đại học Xây dựng, đội ngũ giáo viên khoa lý luận chính trị, Trường Đại học Xây dựng đã tiến hành biên soạn cuốn sách

Hướng dẫn học môn Triết học Mác - Lênin (Lưu hành nội bộ).

Cuốn sách trình bày ngắn gọn những nội dung cơ bản của học phần Triết học Mác - Lênin, giúp học viên, sinh viên nắm được kiến thức cốt lõi, thuận tiện trong việc học tập và thi cử Đồng thời cuốn sách sẽ giúp cho người học nắm được một cách tổng thể sự hình thành, phát triển cùng những nguyên lý, quy luật cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ

đó hình thành thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, góp phần củng cố lòng tin vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.Mặc dù nhóm tác giả đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, song nội dung cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc

Hà Nội, tháng 9 năm 2020

Các tác giả

Trang 9

TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

A PHẦN LÝ THUYẾT

I TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1 Khái lược về triết học

Triết học ra đời sớm vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI (tr CN)

và đạt được thành tựu rực rỡ ở các nền triết học Trung Quốc, Ấn Độ và

Hy Lạp cổ đại

a Nguồn gốc của triết học

- Nguồn gốc nhận thức: Triết học không xuất hiện đồng thời với

sự xuất hiện của con người, nó chỉ ra đời khi năng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ nhất định cho phép khái quát được những hiểu biết riêng lẻ, rời rạc thành một hệ thống những quan điểm

và quan niệm chung về thế giới Như vậy, triết học chỉ ra đời khi tư duy, nhận thức của con người đạt đến trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa,

hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết lý luận

- Nguồn gốc xã hội: Triết học xuất hiện khi xã hội loài người chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, là xã hội đầu tiên có sự phân chia giai cấp, lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay, đội ngũ trí thức xuất hiện, khi đó xã hội có một số người chuyên làm “nghề” triết học

để giải thích thế giới theo lợi ích của một giai cấp nhất định Điều đó cho thấy, chính tầng lớp lao động trí óc đã sản sinh ra triết học, ngay khi mới ra đời, triết học đã mang tính giai cấp sâu sắc, phản ánh và bảo vệ lợi ích của những giai cấp nhất định trong xã hội

Trang 10

b Khái niệm triết học

- Ở phương Đông: Theo người Trung Quốc, “triết” có nghĩa là

“trí”, là “sáng suốt” để chỉ sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng về thế giới Theo người Ấn Độ, triết học có nghĩa là darshana - chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến lẽ phải

- Ở phương Tây: Theo chữ Hy Lạp, triết học là “philosophia”, có nghĩa là “tình yêu sự thông thái”, nhà triết học là nhà thông thái vì họ

có khả năng làm sáng tỏ bản chất của sự vật, hiện tượng bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật

Triết học ra đời cả ở phương Đông và phương Tây, mặc dù khác nhau về quan niệm nhưng nhìn chung đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc thế giới, đi sâu nắm được bản chất của sự

vật, hiện tượng Theo quan điểm mác xít, triết học là hệ thống tri thức

lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

Như vậy, tất cả các hệ thống triết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm ra quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người

c Vấn đề đối tượng của triết học trong lịch sử

Trong quá trình phát triển, đối tượng nghiên cứu của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử:

- Thời kỳ cổ đại: Tri thức của loài người còn ít nên chưa có sự phân

chia giữa triết học với các khoa học khác Triết học Hy Lạp cổ đại khi mới hình thành không độc lập với các tri thức khoa học, mà thực chất

là đồng nhất với chúng để hình thành nên môn khoa học tổng hợp Các nhà triết học đầu tiên ở Hy Lạp đồng thời cũng là các nhà khoa học, như Thalets, Pithagore Triết học đặt nhiệm vụ tìm hiểu và giải thích tự nhiên, xem xét thế giới như một chỉnh thể Trong nền triết học tự nhiên, các khoa học nói chung bị đẩy xuống vị trí thứ yếu và bị chi phối bởi triết học Do đó, đối tượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức, nhưng còn sơ khai, trực quan cảm tính Đây là nguyên nhân sâu xa nảy

sinh quan niệm về sau xem “Triết học là khoa học của các khoa học”.

Trang 11

- Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu: Quyền lực của giáo hội bao trùm mọi

lĩnh vực của đời sống xã hội, triết học trở thành “nô lệ” của thần học Nhiệm vụ của triết học chỉ là lý giải và chứng minh tính đúng đắn của các nội dung trong Kinh Thánh, luận giải và thuyết phục con người tin

tưởng vào Chúa Trời Nền triết học tự nhiên bị thay thế bằng nền triết

học kinh viện.

- Thế kỷ XV – XVI: cùng với sự phát triển của các môn khoa học tự

nhiên, đồng thời là sự phục hồi của tư tưởng triết học duy vật thời kỳ cổ đại Triết học dần tách khỏi thần học và các khoa học cụ thể, phát triển thành các bộ môn riêng biệt với các học thuyết về bản thể luận, vũ trụ luận, nhận thức luận

- Thế kỷ XVII – XVIII: triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của

khoa học tự nhiên thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng và đóng vai trò tích cực trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo

Sự phát triển của triết học duy vật thời kỳ này đạt đến đỉnh cao ở các quốc gia là Anh, Pháp, Hà Lan

- Cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX: sự phát triển của khoa học cụ

thể và những thành tựu mà nó đạt được đã làm phá sản tham vọng của các nhà triết học muốn biến triết học thành “Khoa học của mọi khoa học”, trong đó triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó

- Những năm 40 của thế kỷ XIX: triết học Mác ra đời đoạn tuyệt

với quan niệm sai lầm xem triết học là “Khoa học của mọi khoa học”, xác định đối tượng nghiên cứu của triết học là tiếp tục giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng, nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của

tự nhiên, xã hội và tư duy

d Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

* Chức năng thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan

điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về

vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó

Trang 12

- Về nguồn gốc của thế giới quan: Thế giới quan ra đời từ cuộc sống hiện thực của con người Bởi vì, con người không thể sống tách khỏi thế giới sự vật hiện tượng Trong quá trình tồn tại và phát triển của con người, hàng loạt câu hỏi được đặt ra để tìm câu trả lời: thế giới này

do đâu mà có? Bản chất của thế giới là gì? Sự biến đổi của nó tác động

gì đến con người? Có thần linh, ma quỷ không ? Từ đó, các quan niệm

về thế giới quan được hình thành

- Về cấu trúc: Thế giới quan được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản

là tri thức và niềm tin Tuy nhiên, bản thân tri thức chưa phải là thế giới quan, chỉ khi nào tri thức biến thành niềm tin của con người thì tri thức

đó mới trở thành thế giới quan

- Những hình thức cơ bản của thế giới quan:

+ Thế giới quan huyền thoại (thần thoại) có nội dung pha trộn một cách không tự giác giữa thực và ảo, nó đặc trưng cho tư duy, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới, được phản ánh qua các câu chuyện thần thoại Thế giới quan huyền thoại thể hiện đậm nét trí tưởng tượng của “tư duy nguyên thủy” - tư duy chứa đựng sự pha trộn một cách không tự giác giữa thực và ảo, giữa người và thần Theo

Ph Ăngghen nhận định, thế giới quan huyền thoại là kết quả tất yếu của trình độ nhận thức thấp, khi con người chưa hiểu về nguồn gốc, nguyên nhân, bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới nên họ đã nhân cách hóa, nhân hình hóa, nhân tính hóa chúng thành các vị thần hoặc bán thần trong thần thoại

+ Thế giới quan tôn giáo biểu hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, con người, được thể hiện qua các hoạt động có tổ chức để suy tôn, sùng bái lực lượng siêu nhiên Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin cao hơn

lý trí, trong đó niềm tin vào một thế giới khác hoàn thiện, hoàn mỹ mà con người sẽ đến sau khi chết giữ vai trò chủ đạo V I Lênin đã cho rằng: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống như sự bất lực của con người dã man trong cuộc

Trang 13

đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ vào những phép màu ”

+ Thế giới quan triết học được thể hiện bằng hệ thống lý luận thông qua hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật Thế giới quan triết học chỉ hình thành khi nhận thức của con người đã đạt đến trình độ cao của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa cũng như khi con người ý thức được sự cần thiết phải có sự định hướng về tư tưởng, nhận thức để chỉ đạo hoạt động thực tiễn Thế giới quan triết học được phân chia thành thế giới quan duy tâm (là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới

là tinh thần và thừa nhận vai trò quyết định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới vật chất); thế giới quan duy vật (là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới là vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí, vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực) Tương ứng với ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật (chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng) là ba hình thức

cơ bản của thế giới quan (thế giới quan duy vật chất phác, thế giới quan duy vật siêu hình và thế giới quan duy vật biện chứng)

Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò giúp con người có cơ

sở khoa học để nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và tư duy, từ đó hình thành quan điểm khoa học để định hướng mọi hoạt động của con người Ngoài ra, triết học còn có vai trò phương pháp luận: Định hướng con người trong việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng phương pháp trong hoạt động nhận thức và thực tiễn Các cấp độ của phương pháp luận: phương pháp luận ngành; phương pháp luận chung; phương pháp luận chung nhất

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, không được xem thường hoặc tuyệt đối hóa phương pháp luận triết học Nếu xem thường phương pháp luận triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, mất phương hướng, thiếu chủ động, sáng tạo trong hoạt động Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của phương pháp luận triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều và

dễ bị vấp váp, thất bại Bồi dưỡng phương pháp luận duy vật biện chứng giúp mỗi người tránh được những sai lầm như chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy máy móc, siêu hình gây ra

Trang 14

2 Vấn đề cơ bản của triết học

Tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực chỉ có thể hoặc

là hiện tượng vật chất, tồn tại bên ngoài ý thức con người hoặc là hiện tượng tinh thần, tồn tại trong ý thức con người Như vậy, vật chất và ý thức có quan hệ với nhau như thế nào? Cái nào có trước, cái nào có sau,

cái nào quy định cái nào? Theo Ph Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của

mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại đó là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”1 Đây cũng là cơ sở để phân chia các trường phái triết học khác nhau trong lịch sử

* Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

- Mặt thứ nhất (Bản thể luận): Giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Tùy cách giải đáp câu hỏi này mà các học thuyết triết học đã được chia ra thành hai trào lưu

cơ bản đó là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

+ Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau,

thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, không

do ai sáng tạo ra; ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc

1 C Mác và Ph Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 403.

do lập trường dao động

MẶT THỨ HAI: NHẬN THỨC LUẬN KHẢ NĂNG NHẬN THỨC THẾ GIỚI

BẤT KHẢ TRI

Không có khả năng nhận thức được thế giới sự vật hiện tượng

Có khả năng nhận thức được thế giới sự vật hiện tượng

Chưa chắc đã nhận thức được thế giới sự vật hiện tượng HOÀI NGHI KHẢ TRI

Trang 15

con người, không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất; bản chất của tồn tại là vật chất, vật chất quyết định ý thức

Chủ nghĩa duy vật có lịch sử phát triển lâu dài với nhiều hình thức khác nhau

Hình thức đầu tiên của nó là chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đạiHình thức phát triển tiếp theo là chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác, Ph Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được V I Lênin kế thừa và phát triển, là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, có mối quan hệ chặt chẽ với các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng cũng như với sự phát triển của khoa học và thực tiễn xã hội

+ Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tinh thần, ý thức có trước và là cơ

sở tồn tại của giới tự nhiên, của vật chất; ý thức, tinh thần quyết định vật chất; bản chất của tồn tại là ý thức, tinh thần

Chủ nghĩa duy tâm chia thành hai trường phái chủ yếu là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cảm giác, ý thức con người

là cái có trước, cái quyết định sự tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng ở bên ngoài Các sự vật, hiện tượng chỉ là “phức hợp của những cảm giác”; những màu sắc, mùi vị, những đặc tính khác nhau của sự vật chẳng qua chỉ là những cảm giác của con người Do phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận luôn cả tính quy luật của các sự vật, hiện tượng và như thế, tất yếu dẫn đến chủ nghĩa duy ngã (ngã là tôi - là chủ nghĩa xuất phát từ cái tôi)

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng, ý thức, ý niệm là cái có trước thế giới vật chất Cái thực thể tinh thần tồn tại một cách “khách quan”, không phụ thuộc vào con người và loài người, nó quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy con người Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều là hiện thân của ý niệm

Trang 16

Nhìn chung, cả hai hình thái của chủ nghĩa duy tâm tuy biểu hiện khác nhau, nhưng về cơ bản lại giống nhau, bằng cách này hay cách khác đều phủ nhận nguồn gốc khách quan của thế giới tự nhiên, của vật chất, nghĩa là đều thừa nhận tinh thần, ý thức sáng tạo ra thế giới Ở điểm này, chủ nghĩa duy tâm gần gũi với tôn giáo và “tựu trung bao giờ

nghĩa duy tâm đó là sự tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, tinh thần, như V.I Lênin đã khẳng định “Chủ nghĩa duy tâm triết học là một sự phát triển (một sự thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái quá của một trong những đặc trưng, của một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi

tâm là sự hình thành và phát triển các giai cấp đối lập nhau về lợi ích;

là sự xuất hiện phân công giữa lao động trí óc và lao động chân tay Sau khi tách khỏi lao động chân tay, lao động trí óc có vị trí độc lập tương đối và trở thành đặc quyền của các giai cấp bóc lột Vì thế các nhà tư tưởng của giai cấp đó thường có thái độ coi thường lao động chân tay và ngộ nhận rằng chính lao động trí óc quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Những sai lầm, lệch lạc trên đây của thế giới quan duy tâm

đã bị các thế lực phản động lợi dụng, khai thác nhằm biện hộ và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị

+ Ngoài hai trường phái duy vật và duy tâm, trong triết học còn

có trường phái nhị nguyên luận Trường Phái này cho rằng cả vật chất

và ý thức, tinh thần đều tồn tại song song và độc lập với nhau, trong

đó nguyên thể vật chất sinh ra các hiện tượng vật chất, nguyên thể tinh thần sinh ra các hiện tượng tinh thần Tuy nhiên, xét đến cùng, phái nhị nguyên cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm vì nó thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự nó, không phụ thuộc vào vật chất

- Mặt thứ hai (Nhận thức luận): Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Những nhà tư tưởng khẳng định con người có

1 V I Lênin (1980), Toàn tập, tập 23, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr 50.

2 V I Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr 385.

Trang 17

khả năng nhận thức được thế giới (thuộc trường phái có thể biết - “khả tri luận”) Những nhà triết học cho rằng, con người không thể hiểu biết thế giới (thuộc trường phái không thể biết - “bất khả tri luận”) Thuyết không thể biết đã bị phê phán gay gắt bởi chính thực tiễn đời sống xã hội cũng như sự phát triển của khoa học Ngoài ra còn có trường phái Hoài nghi luận.

Như vậy, bất kỳ một học thuyết, một hệ thống triết học nào cũng đều phải giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

- Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

+ Chủ nghĩa duy vật: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất

quyết định ý thức Chủ nghĩa duy vật có 3 hình thức cơ bản là: chủ

nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng.

+ Chủ nghĩa duy tâm: ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết

định vật chất Chủ nghĩa duy tâm có 2 hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy

tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan.

- Nguyên nhân của sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm:

+ Chủ nghĩa duy vật: có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học

và thực tiễn, đồng thời thường gắn liền với lợi ích của các giai cấp tiến

bộ trong lịch sử

+ Chủ nghĩa duy tâm: tuyệt đối hoá một mặt của quá trình nhận thức và thường gắn với lợi ích của các giai cấp bóc lột trong lịch sử

- Thuyết có thể biết (khả tri) và thuyết không thể biết (bất khả tri)

+ Những người thuộc trường phái khả tri: Con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới

+ Những người thuộc trường phái bất khả tri cho rằng: Con người không thể có khả năng nhận thức thế giới

+ Thuyết Hoài nghi luận: Nghi ngờ khả năng nhận thức của con người

Trang 18

Biện chứng được chia thành biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người (biện chứng của tư duy)

Như vậy, khái niệm biện chứng dùng với nghĩa vừa là lý luận, đồng thời là phương pháp khảo sát, phản ánh đối tượng trong trạng thái liên

hệ, ràng buộc, tác động qua lại và trong quá trình vận động, phát triển không ngừng

• Siêu hình:

- Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi chỉnh thể

- Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì

đó chỉ là sự biến đổi về số lượng bởi nguyên nhân bên ngoài đối tượng.Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật

ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ: muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái độc lập, không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp siêu hình quan niệm

Trang 19

* Phương pháp biện chứng:

- Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ, ảnh hưởng, ràng buộc nhau

- Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi

- Khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về

cả lượng và chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là sự đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng

Như vậy, phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt, phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ vậy, phương pháp biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới Lý luận triết học của

phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng” Phép biện chứng là

học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.

b Các hình thức của phép biện chứng trong lịch sử

- Các hình thức lịch sử của phép biện chứng trong lịch sử:

Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):

+ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của

phép biện chứng trong lịch sử triết học Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là

Trang 20

triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên” Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit.

+ Phép biện chứng duy tâm được khởi đầu từ những quan điểm

biện chứng trong triết học của I Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph Hêghen Ph Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới - trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển Tuy nhiên, phép biện chứng trong triết học của Ph Hêghen

là phép biện chứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luận này chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”

+ Phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là

hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới

II TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1 Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin

* Chủ nghĩa Mác – Lênin: là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế

kỷ XIX và được V.I.Lênin bảo vệ, phát triển trong điều kiện lịch sử mới.Trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại, chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học phản ánh những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên,

Trang 21

xã hội và tư duy; những quy luật kinh tế của sự vận động của chủ nghĩa

tư bản và sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản

Tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng, là khoa học

về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động

và tiến tới giải phóng toàn nhân loại khỏi áp bức, bóc lột

* Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác - LêninChủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực, trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là:

- Triết học Mác - Lênin: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; có vai trò là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

- Kinh tế chính trị Mác - Lênin: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

- Chủ nghĩa xã hội khoa học: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vận động từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Ba bộ phận lý luận này có sự thống nhất chặt chẽ, làm cơ sở, tiền

đề cho nhau và đều có chung mục đích là giải phóng giai cấp vô sản, nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người

a Những điều kiện lịch sử của ra đời triết học Mác – Lênin

* Điều kiện kinh tế - xã hội

- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, làm cho phương thức sản xuất tư bản

Trang 22

chủ nghĩa được củng cố vững chắc ở nhiều nước Châu Âu như Anh, Pháp, Đức… mặt khác những mâu thuẫn xã hội cũng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt:

+ Về mặt kinh tế: mâu thuẫn giữa tính xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với tính chất tư nhân của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

+ Về mặt xã hội: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

- Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tư cách một lực lượng chính trị - xã hội độc lập

+ Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời, lớn lên cùng với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến

+ Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vốn mang tính chất đối kháng ngày càng phát triển, thể hiện bằng những cuộc đấu tranh giai cấp ở khắp nơi như Anh, Pháp, Đức, Ý …Tuy nhiên những cuộc đấu tranh tự phát này đều thất bại do không có đường lối khoa học, chưa có lực lượng dẫn dắt và chưa tập hợp được đông đảo lực lượng tham gia

- Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho

sự ra đời chủ nghĩa Mác: Thực tiễn xã hội nói chung, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản, đòi hỏi phải được soi sáng bởi lý luận mới, tiến bộ và cách mạng Chủ nhĩa Mác - Lênin ra đời trong thời điểm này là một tất yếu lịch sử, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó

* Những tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác - Lênin

- Tiền đề lý luận:

+ Triết học cổ điển Đức: C.Mác đã kế thừa và cải biến những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc để hình thành nên phép biện chứng duy vật.+ Kinh tế chính trị học cổ điển Anh: C.Mác kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ về

Trang 23

quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế khách quan của

A Smit và Đ Ricacđô; đồng thời chỉ ra những hạn chế trong học thuyết của các ông và giải quyết những bế tắc mà bản thân các nhà kinh tế chính trị học cổ điển Anh đã không thể vượt qua Trên cơ sở đó, C.Mác

đã xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư, luận chứng cho bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, nguồn gốc dẫn đến sự thay thế chủ nghĩa

tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản

+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp: với những đại biểu tiêu biểu như H Xanhximông, S Phuriê, R Ôoen Tinh thần nhân đạo, sự phê phán những bất công của chủ nghĩa tư bản, những quan niệm sâu sắc về đặc trưng của xã hội tương lai trong học thuyết của các ông là một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

- Tiền đề khoa học tự nhiên:

Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác còn dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên Vào thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên thời kỳ này phát triển mạnh mẽ, đặc biệt có ba công trình khoa học vĩ đại:+ Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng chứng minh sự chuyển hoá và bảo toàn của các hình thức vận động của vật chất, vật chất không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi mà chỉ chuyển hóa

từ dạng này sang dạng khác

+ Học thuyết tiến hoá chứng minh nguyên lý phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, đều có quá trình phát sinh, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,

từ hiện tượng đến bản chất

+ Học thuyết tế bào chứng minh tính thống nhất của toàn bộ sự sống, thế giới vô cùng phong phú, đa dạng nhưng đều thống nhất ở tính vật chất của nó

Những phát minh trên đã chứng minh tính khoa học đúng đắn của thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật

Trang 24

b Những thời kỳ chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của Triết học Mác - Lênin

- Quá trình chuyển biến tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản

- Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử ( từ năm 1844 đến năm 1848)

- Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học

c Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác

và Ph.Ăngghen thực hiện

- Mác và Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triệt để

- Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật

và phép biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học, Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên “hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học” Đó là cuộc cách mạng thật sự trong triết học xã hội, yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học

- Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợi ích phù hợp

CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI KHÔNG ANH, PHÁP

HỌC THUYẾT

TẾ BÀO

HỌC THUYẾT TIẾN HÓA

ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN

VÀ CHUYỂN HÓA NĂNG LƯƠNG

KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CỔ ĐIỂN ANH

TRIẾT HỌC

CỔ ĐIỂN ĐỨC

Trang 25

với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển xã hội Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác.

- Vai trò cách mạng to lớn của triết học Mác được nâng cao còn vì

sự thống nhất tính khoa học với tính cách mạng trong bản thân lý luận của nó Sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng làm cho triết học mác-xít mang tính cách mạng sâu sắc nhất Sức mạnh

“cải tạo thế giới” của triết học mác- xít chính là ở sự gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản cách mạng, với quần chúng nhân dân đông đảo

d Giai đoạn Lênin đóng góp sự phát triển triết học Mác

Trong khi lãnh đạo công cuộc xây dựng những cơ sở ban đầu của chủ nghĩa xã hội, Lênin tiếp tục có những đóng góp mới quan trọng vào việc phát triển triết học Mác Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin không chỉ phê phán không khoan nhượng đối với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, mà còn kịch liệt phê phán những người nhân danh lý luận của Mác trên lời nói nhưng thực tế là chủ nghĩa xét lại, hoặc ít ra đã

xa rời học thuyết của Mác Đồng thời, Lênin chú trọng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng và dựa vào những thành quả mới nhất của khoa học để bổ sung, phát triển di sản lý luận mà Mác và Ăngghen để lại Với tinh thần biện chứng duy vật, xem chân lý là cụ thể, có khi V.I.Lênin đã phải thay đổi một cách căn bản đối với một quan niệm nào

đó của mình về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều Chính vì thế mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng đã gắn liền với tên tuổi của V.I.Lênin và được gọi là triết học Mác - Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung

2 Đối tượng và chức năng của triết học Mác

a Khái niệm triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin, được C Mác, Ph Ăngghen sáng lập vào giữa thế

Trang 26

kỷ thứ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển Triết học Mác - Lênin

ra đời vào những năm 40 thế kỉ XIX và được phát triển gắn chặt với những thành tựu khoa học và thực tiễn trong phong trào cách mạng công nhân Sự ra đời của triết học Mác - Lênin là một cuộc cách mạng

thực sự trong lịch sử tư tưởng loài người, trong lịch sử triết học Triết

học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên,

xã hội và tư duy - thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để nhận thức và cải tạo thế giới.

b Đối tượng của triết học Mác – Lênin

Tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và của tư duy Với việc xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, triết học Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu khác với các khoa học cụ thể Các khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật trong các lĩnh vực riêng biệt của tự nhiên, xã hội hoặc tư duy, còn triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất, tác động đến cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng giữa triết học Mác

- Lênin và các khoa học cụ thể có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau Các khoa học cụ thể cung cấp những dữ liệu, đặt ra những vấn đề khoa học mới, làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển triết học Các khoa học cụ thể tuy có đối tượng và chức năng riêng của mình nhưng đều phải dựa vào một thế giới quan và một phương pháp luận triết học nhất định

c Chức năng của triết học Mác – Lênin

- Chức năng thế giới quan: Triết học Mác - Lênin mang lại thế giới

quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng Hệ thống quan điểm khoa học, duy vật biện chứng về thế giới là nhân tố định hướng con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực, nắm được bản chất của tự nhiên, xã hội và tư duy, giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động Như vậy, thế giới

Trang 27

quan cũng đóng vai trò phương pháp luận Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân trong hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở

lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản động, phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa” hiện nay

- Chức năng phương pháp luận: Triết học Mác - Lênin thực hiện

chức năng phương pháp luận chung nhất cho nhận thức và thực tiễn, trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu cũng như hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật để làm công cụ nhận thức, giúp con người phát triển tư duy khoa học Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là “chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết được mọi vấn đề Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triết học, con người cần phải có tri thức khoa học, công nghệ cụ thể và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn

3 Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

- Triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn

- Triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ

- Triết học Mác – Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 31

5 Phân tích vai trò của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với

sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin?

Trang 32

CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

a Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước C.Mác về vật chất

- Quan điểm của các nhà triết học duy vật thời kỳ cổ đại: Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật cổ đại là đi tìm bản nguyên vật chất đầu tiên và coi đó là nguyên tố đầu tiên tạo ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, chẳng hạn ở Phương Tây, Talét quan niệm vật chất là nước; Anaximen quan niệm vật chất là không khí; Hêraclít quan niệm vật chất là lửa Thành quả vĩ đại nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại trong học thuyết vật chất là thuyết nguyên tử của các nhà duy vật là Lơxip và Đêmôcrít Các ông cho rằng, nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ nhất không thể phân chia được Một số nhà triết học duy tâm cho rằng, vật chất và các dạng của vật chất đều do ý thức sinh ra, do ý thức quyết định Ở Phương Đông, có quan niệm vật chất là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ… Nhìn chung, những quan niệm về vật chất thời kỳ này còn

sơ khai, trực quan, cảm tính, chưa đầy đủ, triệt để do trình độ con người còn hạn chế, khoa học kĩ thuật chưa phát triển

Trang 33

- Thế kỷ XVII - XVIII, khoa học tự nhiên phát triển và đạt được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu thế giới khách quan (cơ học, toán học, vật lý học, sinh vật học ) Tuy vậy, những quan niệm siêu hình vẫn chi phối những hiểu biết triết học về thế giới: Nguyên tử vẫn tiếp tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia; vận động của vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài sự vật, hiện tượng.

b Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và sự phá sản của các quan điểm duy vật siêu hình về vật chất

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại phát triển, nhất

là vật lý học vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúc của vật chất làm biến đổi sâu sắc quan niệm về nguyên tử: Năm 1895: Rơnghen tìm

ra tia X - Một loại sóng điện từ có bước sóng cực ngắn; Năm 1896: Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ Như vậy, quan niệm về sự bất biến của nguyên tử trước đây là không chính xác; Năm 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh rằng điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Những phát hiện nói trên của vật lý học đã bác bỏ quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất,

từ đó dẫn đến cuộc khủng hoảng về thế giới quan của các nhà vật lý học Trước tình thế này, chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng để tuyên truyền quan điểm duy tâm: tuyên bố vật chất “tiêu tan”, “biến mất” Trong bối cảnh

đó, V I Lênin đã đưa ra một định nghĩa mới về vật chất

Tóm lại: Quan niệm của các nhà duy vật trước Mác về vật chất tuy

có những ưu điểm nhất định trong việc giải thích cơ sở vật chất của sự tồn tại của giới tự nhiên nhưng về căn bản vẫn còn nhiều hạn chế như: không hiểu chính xác bản chất của các hiện tượng ý thức cũng như mối quan hệ giữa ý thức với vật chất; không đứng trên quan điểm duy vật khi giải quyết các vấn đề xã hội Những hạn chế đó tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật không triệt để (khi giải quyết những vấn đề về giới

tự nhiên, họ đứng trên lập trường duy vật, nhưng khi giải quyết những vấn đề xã hội họ đã trượt sang quan điểm duy tâm)

Trang 34

c Quan niệm của Triết học Mác – Lênin về vật chất

* Định nghĩa vật chất của V I Lênin

Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

phán, V.I.Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng

để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Định nghĩa vật chất của V.I Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Thứ nhất: phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với

các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và thuộc tính của các dạng vật chất cụ thể Vật chất với tư cách là phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô cùng, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các dạng vật chất cụ thể do các khoa học cụ thể nghiên cứu có giới hạn, có sinh ra, có mất đi Vì vậy, không thể quy vật chất về các sự vật cụ thể

- Thứ hai: thuộc tính chung của vật chất là “thực tại khách quan”,

vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, không phụ thuộc vào

ý thức Ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất, do đó, ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao đó là não người

CNDV cổ đại:

Phương Đông: VC là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ

DV chất phác do KHTN chưa phát triển

KHTN

đã có những bước phát triển

KHTN phát triển, nhiều phát hiện

Trang 35

- Thứ ba: vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể của vật chất,

gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên các giác quan của con người; con người có thể nhận biết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

* Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

- Thứ nhất: bằng việc tìm ra thuộc tính chung nhất, phổ biến nhất của vật chất là thuộc tính tồn tại khách quan, định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được quan niệm duy tâm và quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ về vật chất

- Thứ hai: thông qua định nghĩa vật chất, Lênin đã giải quyết vấn

đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật và khả tri: vật chất

có trước, ý thức có sau và con người có thể nhận thức được thế giới khách quan

- Thứ ba: định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã định hướng cho các nhà khoa học tự nhiên trong việc tìm kiếm, khám phá ra những dạng và những cấu trúc vật chất mới

Ý THỨC LÀ THUỘC TÍNH CỦA MỘT DẠNG VẬT CHẤT ĐẶC BIỆT - BỘ ÓC NGƯỜI

ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA LÊNIN:

Vật chất là phạm trù triết học chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

KHẢ NĂNG NHẬN THỨC HIỆN THỰC KHÁCH QUAN Con người có thể nhận thức được các dạng VC cụ thể khi nó tác động trực tiếp đến giác quan

Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ MỘT DẠNG VẬT CHẤT ĐẶC BIỆT

Ý thức là sự phản ánh của vật chất

Trang 36

- Thứ tư: định nghĩa vật chất của V.I.Lênin là cơ sở để định hướng cho quan điểm duy vật khi nhận thức các vấn đề xã hội.

d Các hình thức tồn tại của vật chất

* Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Ph.Ăngghen định nghĩa: Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính

cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.Như vậy, vận động theo quan điểm duy vật biện chứng không bị quy về hình thức giản đơn là sự di chuyển vị trí của vật thể trong không gian, mà chỉ mọi sự biến đổi nói chung Với cách hiểu như thế, vận động là phương thức tồn tại của vật chất, nhờ vận động và thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình Vận động của vật chất là tự thân vận động; là tuyệt đối, vĩnh viễn

* Vận động và đứng im:

+ Đứng im là trạng thái vận động đặc biệt, là sự vận động trong trạng thái cân bằng chưa làm thay đổi về chất, hình dáng, kết cấu của

sự vật

Trang 37

+ Đứng im là tương đối, tạm thời vì đứng im chỉ xảy ra trong một quan hệ nhất định, đứng im chỉ xảy ra khi xét ở một hình thức vận động xác định.

* Không gian, thời gian là hình thức tồn tại của vật chất

- Không gian: kích thước chiếm chỗ của vật (dài, rộng, cao)

- Thời gian: độ dài tồn tại, mức độ diễn biến (lâu, mau, nhanh, chậm).Vật chất và không gian, thời gian tồn tại không tách rời nhau, không có vật chất tồn tại ngoài không gian, thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại ở ngoài vật chất Vì là những hình thức tồn tại của vật chất, nên không gian và thời gian có tính khách quan, tính vĩnh cửu, vô tận; không gian có 3 chiều, thời gian có 1 chiều

+ Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng

2 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: ý thức là sản phẩm và là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não người; là sự phản ánh chủ động, tích cực, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn

Trang 38

a Nguồn gốc của ý thức

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức ra đời cùng với sự ra đời của con người và xã hội loài người, gồm hai nguồn gốc sau:

Nguồn gốc tự nhiên (điều kiện cần- nguồn gốc gián tiếp): Bộ óc người và sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người

- Bộ óc người: ý thức là thuộc tính, chức năng của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Bộ óc người là cơ quan vật chất sản sinh ra ý thức Do đó, khi bộ óc con người càng hoàn thiện thì năng lực tư duy, ý thức càng phong phú và sâu sắc Ngược lại, khi bộ óc con người bị tổn thương thì năng lực tư duy, ý thức, cũng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực

- Sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc người:

+ Phản ánh là thuộc tính của mọi dạng vật chất

+ Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của hệ thống vật chất này

ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng

Trang 39

Cấu tạo vật chất khác nhau sẽ có khả năng phản ánh khác nhau

Do đó, có thể phân chia các hình thức phản ánh của vật chất từ thấp đến cao như sau:

+ Ở giới tự nhiên vô sinh: Phản ánh vật lý, hóa học (sự phản ánh thụ động, chưa có tính chọn lọc)

+ Ở giới tự nhiên hữu sinh: Phản ánh sinh học (tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ, tâm lý)

+ Ý thức: là hình thức phản ánh cao nhất của giới tự nhiên hữu sinh

=> Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người Ý thức gắn liền với con người và không thể tách rời đời sống xã hội của loài người

* Nguồn gốc xã hội (điều kiện đủ- nguồn gốc trực tiếp): Lao động

và ngôn ngữ

- Lao động và vai trò của lao động đối với sự hình thành ý thức+ Lao động (lao động sản xuất vật chất) là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để cải biến tự nhiên tạo ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của mình

+ Vai trò của lao động đối với sự hình thành ý thức:

Thứ nhất: lao động đã giải phóng con người khỏi thế giới động vật, giúp con người có khả năng sáng tạo ra công cụ lao động và sử dụng những công cụ ấy phục vụ mục đích sống của mình

Thứ hai: lao động đã giúp con người tìm ra lửa và nấu chín thức

ăn, giúp cho bộ não con người ngày càng phát triển và hoàn thiện về mặt sinh học

Thứ ba: nhờ lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm, qua đó con người có thể nhận thức được, từ đó năng lực tư duy trừu tượng của con người ngày càng phát triển

Trang 40

Thứ tư: lao động dẫn tới sự hình thành ngôn ngữ Ngôn ngữ, một mặt là kết quả của lao động, mặt khác lại là nhân tố tích cực tác động đến quá trình lao động và phát triển ý thức của con người.

- Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ đối với sự hình thành ý thức + Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức + Vai trò của ngôn ngữ: Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ để thể hiện, truyền đạt tư tưởng, kinh nghiệm của con người Ngôn ngữ giúp con người phản ánh khái quát những thuộc tính của sự vật, hiện tượng trong thế giới

Như vậy, cùng với lao động là ngôn ngữ, là hai yếu tố chủ yếu và trực tiếp nhất làm cho ý thức hình thành và phát triển

b Bản chất của ý thức

Có thể phân tích bản chất của ý thức dựa trên ba đặc trưng sau đây:

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: ý thức phản ánh thế giới khách quan nhưng nó đã bị cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người, chịu sự tác động của các yếu tố như: nhu cầu, tâm tư, tình cảm, kinh nghiệm, tri thức

- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan: ý thức phản ánh thế giới khách quan không rập khuôn, máy móc mà trên

cơ sở tiếp nhận, xử lý thông tin có chọn lọc, định hướng; đồng thời ý thức không chỉ là sự phản ánh thông tin bề ngoài của thế giới sự vật hiện tượng mà còn khái quát bản chất, quy luật của thế giới

- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội: sự

ra đời, phát triển của ý thức gắn liền với hoạt động lao động của con người, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật tự nhiên mà còn bởi các quy luật xã hội

c Kết cấu của ý thức

Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau

Ngày đăng: 17/09/2022, 17:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w