1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TIỂU LUẬN MÔN GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CÁC TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C

19 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 905,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

L/C là một cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành NHPH về việc thanh toán khi chứng từ phù hợp được xuất trình, do vậy, trong mua bán quốc tế, hầu hết các bên liên quan đều ưu tiên ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-o0o -

TIỂU LUẬN MÔN GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

CÁC TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ

BẰNG L/C

NHÓM 7 LỚP TMA302(2-1819).1LT

NHÓM TRƯỞNG Nguyễn Kế Trung 1711110749

SĐT 0378210000 Email ketrungpro@gmail.com THÀNH VIÊN Đỗ Trung Hiếu

Nguyễn Thị Bắc Đào Thị Hồng Hà Đặng Phương Hà Nguyễn Thị Vân

1711110255

1711110076

1711110182

1711110180

1711110779

GV HƯỚNG DẪN ThS Trần Bích Ngọc

Trang 2

BIÊN BẢN PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

THỰC HIỆN BÀI TẬP NHÓM Nhóm: 7 Lớp: TMA302(2-1819).1

Trưởng nhóm: Nguyễn Kế Trung SĐT: 0378210000 Email: ketrungpro@gmail.com

Giai đoạn 2 Học kỳ II Năm học 2018-2019

Tên đề tài : Các tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C

STT Mã SV Họ và tên Phân công công

việc

Nhận xét của thành viên nhóm, đánh giá mức độ hoàn thành công việc

Ký xác nhận

Ghi chú

1 17111101749 Nguyễn Kế

Trung

Nhóm trưởng

Làm chương 2;

Chỉnh sửa tổng thể

Có ý thức tốt, tinh thần trách nhiệm cao

Phân chia công việc hợp

Đóng góp nhiều ý kiến cho đề tài

2 1711110255 Đỗ Trung

Hiếu Làm phần 2.1

Nghiêm túc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

Hoàn thành đúng hạn, đóng góp nhiều ý kiến cho đề tài

3 1711110076 Nguyễn Thị

Bắc Làm chương 1

Nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao

Tham gia họp đầy đủ

Có ý thức tìm kiếm và xây dựng nội dung cho nhóm

4 1711110182 Đào Thị

Hồng Hà

Làm chương 2.1 Chỉnh sửa tiểu luận

Có ý thức tốt

Hoàn thành công việc đúng hạn

Nhiệt tình giúp đỡ các thành viên khác hoàn thành tiến độ

Trang 3

5 1711110180 Đặng Thị

Phương Hà

Viết phần Mở đầu, Kết luận, Chương 3

Nhiệt tình

Có ý thức đóng góp xây dựng đề tài

Hoàn thành công việc đúng hạn

6 1711110779 Nguyễn Thị

Vân Làm phần 2.2

Cẩn thận, tỉ mỉ

Hoàn thành công việc được giao

Biết lắng nghe ý kiến của các thành viên khác

Tinh thần trách nhiệm cao

Các yếu tố thưởng điểm :

File PPT thuyết trình : Có

Video Không

Bản Hợp đồng sưu tập được Có

Bộ chứng từ sưu tập được Có

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ L/C 3

1.1 Khái niệm và tính chất của L/C 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Tính chất 3

1.2 Trình tự thanh toán 4

1.3 Một số bộ chứng từ liên quan 4

1.3.1 Hóa đơn thương mại 4

1.3.2 Chứng từ vận tải 5

1.3.3 Chứng từ bảo hiểm 5

1.3.4 Một số loại chứng từ khác 5

CHƯƠNG 2 CÁC TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN BẰNG L/C 6

2.1 Các tranh chấp liên quan đến xuất trình chứng từ 6

2.1.1 Tranh chấp liên quan đến vận tải đơn đường biển 6

2.1.2 Tranh chấp liên quan tới hóa đơn thương mại 7

2.1.3 Tranh chấp liên quan đến chứng từ bảo hiểm 8

2.1.4 Các vấn đề khác liên quan tới chứng từ xuất trình 8

2.2 Các tranh chấp liên quan tới trách nhiệm của các bên liên quan 9

2.2.1 Các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người xuất khẩu 9

2.2.2 Các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người nhập khẩu 11

2.2.3 Các tranh chấp liên quan tới trách nhiệm của ngân hàng 12

CHƯƠNG 3 NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C 13

3.1 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong thanh toán bằng L/C 13

3.1.1 Nguyên nhân khách quan 13

3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 13

3.2 Các giải pháp ngăn ngừa các tranh chấp phát sinh trong thanh toán quốc tế bằng L/C 13

3.2.1 Phổ cập các kiến thức cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ 13

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống luật pháp về quản lý ngoại hối, thanh toán quốc tế và kinh doanh xuất nhập khẩu 14

3.2.3 Giải pháp đối với các bên tham gia giao dịch tín dụng chứng từ 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, trong bối cảnh chung của thế giới, thanh toán quốc tế là hoạt động chủ yếu của một quốc gia trong sự phát triển của đất nước Đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi quốc tế, là mắt xích không thể thiếu được trong cỗ máy thương mại quốc tế với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể Trong thanh toán quốc tế (TTQT), phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất là phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) (thanh toán bằng thư tín dụng - L/C) L/C là một cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành (NHPH) về việc thanh toán khi chứng từ phù hợp được xuất trình, do vậy, trong mua bán quốc tế, hầu hết các bên liên quan đều ưu tiên chọn L/C làm phương thức thanh toán Mặc dù vậy, phương thức thanh toán bằng L/C vẫn thường xảy ra tranh chấp do kỹ thuật áp dụng tương đối phức tạp, nguồn luật điều chỉnh đa dạng, các bên tham gia lại thiếu sự am hiểu rõ ràng các thông lệ, tập quán, luật pháp quốc tế cũng như một số quy định trong L/C

Khi có tranh chấp các bên tham gia vào hợp đồng đều muốn tìm mọi cách thức giải quyết có hiệu quả nhất mà vẫn đảm bảo quyền lợi bên mình Tuy nhiên không phải lúc nào và bao giờ các vụ kiện cũng giải quyết một cách thoả đáng, quyền lợi của các bên không phải lúc nào cũng được đảm bảo như kỳ vọng

Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế với sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế nhưng thực chất phần lớn các doanh nghiệp của Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ so với quy mô các doanh nghiệp trên thế giới Có thể nói rằng, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phương thức tín dụng chứng từ là một trong những phương thức thanh toán an toàn nhất Do vậy việc tìm hiểu và tranh chấp phát sinh trong thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ và cách giải quyết các tranh chấp này có vai trò hết sức quan trọng đối với Việt Nam

Xuất phát từ thực trạng trên, nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Các tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C” làm đề tài tiểu luận Ở bài tiểu luận này nhóm em sẽ tổng hợp các dạng tranh chấp thường phát sinh trong TTQT bằng thư tín dụng L/C dưới góc độ các doanh nghiệp có kinh doanh xuất nhập khẩu , phân tích các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và gợi ý một số biện pháp nhằm giúp các doanh nghiệp giảm thiểu các rủi ro cũng như giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả

Trang 6

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ L/C

1.1 Khái niệm và tính chất của L/C

1.1.1 Khái niệm

Tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C) là một cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của một tổ chức tài chính (ngân hàng phát hành tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở tín dụng chứng từ) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) hoặc chấp nhận hối phiếu do người hưởng lợi ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người hưởng lợi xuất trình cho ngân hàng các chứng từ phù hợp với những quy định của tín dụng chứng từ

1.1.2 Tính chất

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ liên quan đến hai hợp đồng độc lập: Một là thỏa thuận xin mở thư tín dụng giữa người mở thư tín dụng (người nhập khẩu) và ngân hàng phát hành; hai là thư tín dụng: cam kết trả tiền có điều kiện của ngân hàng phát hành đối với người hưởng lợi L/C không phụ thuộc, độc lập với hợp đồng cơ sở (hợp đồng mà xuất phát từ hợp đồng đó, người

ta tiến hành mở L/C) Các ngân hàng không liên quan hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế ngay cả khi L/C có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó

L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ Các ngân hàng làm việc với nhau trên cơ sở chứng từ chứ không quan tâm đến hàng hóa/dịch vụ Cho dù rủi ro xảy ra như người bán giao hàng thiếu, sai hay kém chất lượng nhưng trên bề mặt chứng từ thể hiện phù hợp với L/C, Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) thì ngân hàng phát hành phải thanh toán cho người hưởng thụ Các bên tham gia L/C không được lợi dụng vào tình trạng hàng hóa/dịch

vụ được giao để trì hoãn việc thanh toán

Mặc dù người đề nghị mở L/C tham gia với tư cách là người mua hàng hóa/dịch vụ, nhưng ngân hàng phát hành mới là người thanh toán, cho nên người thụ hưởng ký phát hối phiếu đòi tiền thì phải đòi tiền ngân hàng phát hành L/C

L/C yêu cầu tính tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ

L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro, đảm bảo một cách tương đối quyền lợi của người bán

và người mua trong hoạt động ngoại thương

Trang 7

1.2 Trình tự thanh toán

Phương thức thanh toán bằng L/C có quy trình nghiệp vụ phức tạp:

(1) Người mua xin mở L/C

(2) Ngân hàng phát hành L/C

(3) Ngân hàng thông báo xác minh tính chân thực bề ngoài rồi gửi L/C cho người hưởng lợi (4) Người bán kiểm tra L/C Nếu không chấp nhận thì yêu cầu người mua sửa đổi bổ sung, nếu chấp nhận thì tiến hành giao hàng

(5) Người bán lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu

(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ Nếu chứng từ phù hợp với L/C thì trả tiền cho người bán, nếu không phù hợp thì từ chối trả tiền và thông báo cho các bên liên quan để giải quyết

(7) Ngân hàng mở L/C chuyển chứng từ cho cho người xin mở với điều kiện người này trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền

(8) Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp thì hoàn tiền cho ngân hàng mở L/C, nhận chứng từ để đi nhận hàng; nếu phát hiện chứng từ có sai sót so với quy định của L/C thì có quyền từ chối hoàn trả tiền, khi đó trách nhiệm thuộc về ngân hàng mở L/C

1.3 Một số bộ chứng từ liên quan

1.3.1 Hóa đơn thương mại

Hóa đơn thương mại được xem như là trung tâm của bộ chứng từ xuất trình đòi tiền theo L/C vì trong trường hợp không dùng hối phiếu thì hóa đơn là căn cứ để thanh toán tiền hàng Hóa đơn thương mại thường liệt kê rõ danh mục hàng hóa xuất giao cho người nhập khẩu, quy cách, phẩm chất, số kiện, số lượng, trọng lượng, đơn vị hàng hóa cùng đơn giá và số tiền

Một số tranh chấp liên quan đến hóa đơn thương mại thường liên quan đến hai vấn đề sau:

- Trị giá hóa đơn: tiền của thư tín dụng có thể là 100% trị giá hóa đơn hoặc lớn hơn Nếu số tiền ghi trên hóa đơn vượt quá giá trị của L/C thì ngân hàng có quyền từ chối hóa đơn đó

- Mô tả hàng hóa trên hóa đơn: Điều 37 UCP 500 qui định: việc mô tả hàng hóa trong hóa đơn thương mại phải phù hợp hoàn toàn với mô tả hàng hóa trong thư tín dụng

Trang 8

5

1.3.2 Chứng từ vận tải

Vận đơn đường biển:

- Là chứng từ làm bằng chứng cho một hợp đồng chuyên chở bằng đường biển và cho việc người chuyên chở đã nhận hàng để chở hoặc xếp hàng xuống tàu và bằng vận đơn này người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng khi xuất trình vận đơn (Công ước Brussel 1924)

- Sau khi giao hàng và nhận được vận đơn, người bán có thể fax cho người mua để thông báo là

đã giao hàng, đồng thời tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán, trong đó vận đơn là chứng từ quan trọng không thể thiếu

- Vận đơn hàng không: là chứng từ vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không và là bằng chứng của việc ký hợp đồng, việc đã tiếp nhận hàng hóa và các điều kiện của hợp đồng

- Chứng từ vận tải đường sắt, đường bộ và đường sông

- Chứng từ vận tải đa phương thức

1.3.3 Chứng từ bảo hiểm

Thư tín dụng sẽ yêu cầu xuất trình chứng từ bảo hiểm trong trường hợp người bán chịu trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu, ví dụ như trường hợp mua bán với điều kiện CIF, CIP

Thực tiễn thanh toán tín dụng chứng từ tại Việt nam trong thời gian qua cho thấy các vụ tranh chấp liên quan đến chứng từ bảo hiểm thường phát sinh từ những nguyên nhân sau:

- Chứng từ bảo hiểm không bao gồm loại rủi ro quy định trong L/C

- Loại tiền tệ ghi trên chứng từ bảo hiểm khác với loại tiền tệ của L/C

- Bảo hiểm có hiệu lực sau ngày ghi trên vận đơn hoặc trên các chứng từ vận tải khác

- Số tiền bảo hiểm nhỏ hơn 110% giá CIF của hàng hóa

1.3.4 Một số loại chứng từ khác

- Phiếu đóng gói hàng hóa là loại chứng từ thể hiện cách thức đóng gói của lô hàng Qua đó, người đọc có thể biết lô hàng có bao nhiêu kiện, trọng lượng và dung tích thế nào

- Tờ khai hải quan là chứng từ kê khai hàng hóa xuất nhập khẩu với cơ quan hải quan để hàng

đủ điều kiện để xuất khẩu hoặc nhập khẩu vào một quốc gia

- Chứng từ kiểm dịch là loại chứng nhận do cơ quan kiểm dịch (động vật hoặc thực vật) cấp, để xác nhận cho lô hàng xuất nhập khẩu đã được kiểm dịch Mục đích của công việc này là để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ

Trang 9

CHƯƠNG 2 CÁC TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN BẰNG L/C

2.1 Các tranh chấp liên quan đến xuất trình chứng từ

2.1.1 Tranh chấp liên quan đến vận tải đơn đường biển

Hiện nay, khoảng 90% lượng hàng hóa giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức vận tải đường biển, chính vì vậy vận đơn đường biển (B/L) cũng chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số chứng từ vận tải đang được sử dụng Do đó, các tranh chấp xảy ra trong vận tải đường biển là phổ biến nhất

Đây là tranh chấp phát sinh do chứng từ lập không phù hợp với điều khoản quy định của L/C Loại vận đơn thường được yêu cầu xuất trình theo L/C là vận đơn theo lệnh, sạch, và đã bốc hàng Vì L/C yêu cầu 1 vận đơn đường biển nên điều 23 UCP 500 được vận dụng để kiểm tra B/L khi xuất trình, cụ thể là:

- Vận đơn phải được cấp bởi một trong 3 đối tượng sau: ngưồi chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý của ngưồi chuyên chở hoặc thuyền trưởng

Người ký vận đơn, ngoài việc ghi rõ tên thì còn phải ghi rõ năng lực của họ

Theo đánh giá tổng kết của ICC, đại đa số các sai biệt dễ dẫn đến tranh chấp liên quan tới vận đơn là do cách thể hiện không đúng về năng lực tư cách của ngưồi ký phát hành vận đơn

- Vận đơn phải ghi rõ hàng hoa đã được bốc lên một con tàu đích danh (Shipped on board) Qui định này chỉ phù hợp với việc giao hàng theo các điều kiện FOB, CIF và do vậy nó chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều hiếu lầm làm phát sinh tranh chấp trong hình thức sử dụng B/L vận tải đa phương thức, hoặc khi điều kiện cơ sở giao hàng là FCA thì người chuyên chở chỉ cấp cho người gửi hàng vận đơn nhận để xếp (Received for shipment B/L) Trong trường hợp đó nếu L/C yêu cầu trên B/L nhất thiết phải ghi chú để thể hiện rõ là hàng đã bốc lên một con tàu đích danh thì sẽ gây khó khăn cho người bán và phát sinh tranh chấp

- Vận đơn phải chỉ rõ được việc gửi hàng từ cảng tới cảng trên một con tàu chỉ định theo yêu cầu của L/C Yêu cầu thứ ba này cũng đã gây khó khăn cho người gửi hàng trong trường hợp hàng hóa phải chuyển tải dọc đường Bởi vì trên vận đem chỉ có ô ghi “cảng bốc hàng” và “cảng dỡ hàng” chứ không có ô ghi “cảng chuyển tải” Trong thực tiễn thanh toán bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam, đã có nhiều vụ tranh chấp phát sinh từ nguyên nhân vận đơn đường biển không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ hàng, về vận tải và về phương thức vận chuyển

Tình huống:

Tháng 8/2007 Công ty Dược phẩm T xuất một lô hàng sang Ấn Độ, trị giá lô hàng là 6.400 USD, phương thức thanh toán bằng L/C không hủy ngang, trả ngay, được phép chuyển tải, tuân thủ UCP600 NH mở L/C là Standard Chactered Bank (SCB), NH thông báo là NH A L/C có yêu cầu:

• Trọn bộ 3 bản gốc B/L đã bốc, hoàn hảo

• Gửi hàng được tiến hành từ bất kỳ cảng nào của Việt Nam đến cảng Bombay, Ấn Độ

Công ty Dược phẩm T đã tiến hành gửi hàng bằng đường biển từ một cảng của Việt Nam đến cảng Cancutta, sau đó hàng được vận chuyển tiếp bằng xe tải đến cảng Bombay, Ấn Độ Sau khi gửi hàng, công ty Dược phẩm TW1 lập bộ chứng từ và xuất trình cho NH A để gửi tới SCB yêu cầu thanh toán Trên vận đơn xuất trình có ghi:

• Cảng bốc hàng (Port of loading): Cảng Hải Phòng, Việt Nam

Trang 10

7

• Cảng dỡ hàng (Port of discharge): Cảng Cancutta, Ấn Độ

• Nơi đến cuối cùng (Place of final destination): Cảng Bombay, Ấn Độ

SCB đã từ chối thanh toán bộ chứng từ trên với lý do B/L không thể hiện việc gửi hàng từ một cảng của Việt Nam tới cảng Bombay, Ấn Độ như yêu cầu của L/C Theo điều 19a UCP600, yêu cầu chứng từ vận tải đa phương thức phải chỉ rõ nơi gửi hàng, nhận hàng để chở hoặc giao hàng và nơi hàng đến cuối cùng quy định như trong L/C Trong trường hợp này, L/C quy định việc gửi hàng từ

“một cảng Việt Nam” đến “cảng Bombay, Ấn Độ” Do đó, chứng từ vận tải được chấp nhận phải chỉ

rõ được bốc hàng tại cảng Hải Phòng, Việt Nam và dỡ hàng tại cảng cuối cùng là Bombay, Ấn Độ Tuy nhiên, B/L được xuất trình ghi cảng dỡ hàng là cảng Cancutta, Ấn Độ là không phù hợp với yêu cầu của L/C Hơn nữa, điều 19b UCP600 cũng định nghĩa “chuyển tải là dỡ hàng xuống từ phương tiện vận tải này và lại bốc hàng lên một phương tiện vận tải khác (dù cho phương thức vận tải có khác nhau hay không) trong quá trình vận chuyển từ nơi gửi, nhận hàng để chở hoặc nơi giao hàng đến nơi đến cuối cùng quy định trong tín dụng” Trong khi đó, công ty Dược phẩm T lại hiểu sai rằng chuyển tải là chuyển sang một phương thức vận chuyển khác Vì thế, công ty đã gửi hàng bằng đường biển đến cảng Cancutta và vận chuyển tiếp bằng đường bộ (xe tải) đến cảng Bombay Do tất

cả những lỗi trên nên NH mở L/C đã từ chối thanh toán và phải mất rất nhiều thời gian thương lượng, chi phí tốn kém NH A mới thuyết phục được đối tác chuyển sang phương thức nhờ thu

2.1.2 Tranh chấp liên quan tới hóa đơn thương mại

Trong thanh toán quốc tế bằng L/C, hoá đơn thương mại là một loại chứng từ thương mại do người thụ hưởng L/C tạo lập cho người yêu cầu mở L/C sau khi người thụ hưởng hoàn thành nghĩa

vụ giao hàng

Thực tế thanh toán quốc tế bằng L/C tại Việt Nam thường xảy ra các tranh chấp liên quan đến hóa đơn thương mại do 2 vấn đề: trị giá hóa đơn và mô tả hàng hóa trên hóa đơn thương mại

- Về trị giá hóa đơn:

Số tiền của L/C có thể bằng 100% trị giá của hóa đơn hoặc lớn hơn Nếu số tiền ghi trên hóa đơn vượt quá giá trị của L/C thì ngân hàng có quyền từ chối thanh toán Nếu ngân hàng chấp nhận một hóa đơn thương mại như thế thì chỉ có trường hợp số tiền cao nhất được ấn định trong L/C sẽ được thanh toán và quyết định đó sẽ ràng buộc các bên có liên quan Tuy nhiên, việc giao chứng từ có thể không được thực hiện vì còn phụ thuộc vào việc thanh toán khoản tiền chưa trả Trong trường hợp này, khoản tiền vượt thường được chuyển sang nhờ thu Ngược lại, nếu ngân hàng không chấp nhận thanh toán và người mua lại không hợp tác thì trị giá hóa đơn vượt quá không được thanh toán sẽ gây

ra tranh chấp

- Về mô tả hàng hóa trên hóa đơn thương mại:

Việc mô tả hàng hóa trên hóa đơn thương mại cũng được các ngân hàng kiểm tra kỹ lưỡng Theo UCP 600 quy định, việc mô tả hàng hóa trong hóa đơn thương mại phải phù hợp với mô tả trong L/C Bằng việc mô tả chính xác hàng hóa được nêu trong L/C, người bán xác nhận rằng hàng hóa đã được gửi đi đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng Chỉ cần một sự khác biệt nhỏ giữa mô tả hàng hóa trong hóa đơn thương mại và trong L/C cũng có thể khiến ngân hàng từ chối thanh toán và xảy ra tranh chấp

Tình huống: Công ty Packexim, Việt Nam bán cho công ty Jet Tide, Trung Quốc 600 chiếc áo

dài nữ, trị giá hóa đơn là 3.780 USD, thanh toán bằng thư tín dụng không hủy ngang vào tháng

Ngày đăng: 17/09/2022, 16:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w