VỢ NHẶT Kim Lân I Tìm hiểu chung 1 Tác giả Kim Lân là một trong những nhà văn hiện thực lớn của VHVN, chuyên viết về truyện ngắn, về nông thôn, người nông dân Ông một lòng đi về với đất, với thuần hậu.
Trang 1VỢ NHẶT
Kim Lân
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Kim Lân là một trong những nhà văn hiện thực lớn của VHVN, chuyên viết về truyện ngắn, về nông thôn, người nông dân Ông một lòng đi về với đất, với thuần hậu, nguyên thủy cuộc sống nông thôn
- Vợ nhặt là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của KL
2 Tác phẩm
a Xuất xứ: Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập "Con chó xấu xí" (1962).
b Hoàn cảnh sáng tác:
Truyện ngắn Vợ nhặt được viết sau khi hòa bình lập lại (1954) dựa vào tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”
c Tóm tắt:
- Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng dẫn một người đàn bà lạ về xóm ngụ cư khiến mọi người đều ngạc nhiên
- Trước đó, chỉ hai lần gặp, với mấy câu đùa vu vơ, vài bát bánh đúc, thị
theo Tràng về làm vợ
- Về đến nhà, Tràng vẫn còn ngỡ ngàng; mẹ Tràng từ ngạc nhiên đến lo lắng, xót thương, rồi cũng mừng lòng đón nhận người con dâu
- Sáng hôm sau, vợ và mẹ Tràng thu dọn nhà cửa; Tràng thấy thương yêu, gắn
bó với gia đình của mình; trong bữa cơm ngày đói, nghe tiếng trống thúc thuế, hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ hiện lên trong óc Tràng
II Đọc -hiểu văn bản
1 Ý nghĩa nhan đề:
- Giải thích nhan đề: Vợ nhặt là nhặt được vợ, như nhặt cọng rơm, cọng rác
ngoài đường; không cưới hỏi theo phong tục người Việt
+ Nhặt là động từ chỉ hành động ngẫu nhiên, thờ ơ, không chủ tâm để lấy một vật
gì đó, thường là từ dưới đất lên, một vật quá nhỏ bé nên không ai để ý hoặc không còn giá trị nên đã bị vứt bỏ
+ Vợ là một phần quan trọng trong cuộc đời người đàn ông, lấy vợ là một trong những việc lớn của đời người, một việc thường được thực hiện theo phong tục truyền thống của người Việt với các bước mai mối, dạm hỏi, cưới xin…trang trọng
Trang 2- Ý nghĩa nhan đề:
+ Nhan đề tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc
+ Nhan đề vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn đói 1945, vừa bộc lộ sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng hướng tới cuộc sống tốt hơn, niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng
2 Tình huống truyện:
- Tình huống: Tràng thô kệch, xấu xí đang ế vợ, bỗng nhiên nhặt được vợ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945→tình huống bất ngờ, éo le vừa mừng vừa lo
- Ý nghĩa:
+ Cốt truyện phát triển…
+ Góp phần thể hiện rõ giá trị hiện thực và nhân đạo
3 Bức tranh hiện thực về nạn đói:
- Con người:
+ Trẻ con: ủ rũ, không buồn nhúc nhích
+ Người sống: “từ Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”
+ Người chết: “như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”
Bút pháp tả thực qua những so sánh cụ thể nhấn mạnh ấn tượng về ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, giữa cõi dương và cõi âm Người sống cận kề
người chết.
- Thời gian: chiều “chạng vạng”
- Không gian: Xóm ngụ cư, nhà Tràng
+ Cái đói: “tràn đến” sự hiện hữu của cái đói giống như một thảm họa, một trận cuồng phong, càn quét mọi sinh linh
+ Con đường vì cái đói mà “khẳng khiu”, những nếp nhà “úp súp, tối tăm”,
“từng trận gió từ cánh đồng thổi vào ngăn ngắt”
+ Âm thanh: tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết”, “tiếng hờ khóc ở những gia đình có người chết” gợi ám ảnh rợn lạnh, âm khí.
+ Mùi vị: “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người”, “mùi đốt đống rấm theo gió thoảng vào khét lẹt”
Không gian tràn đầy tử khí, cõi âm và cõi dương như hòa làm một
Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Kim Lân đã tái hiện bức tranh năm đói bi
thảm Qua đó, tác giả tố cáo tội ác dã man của Pháp – Nhật, tạo ra bối cảnh cho câu chuyện.
Trang 3+ “Trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo.”
+ Mỗi người được “lưng lưng hai bát”.
+ Nồi chè khoán: cám nấu đắng chát và nghẹn bứ trong cổ
=> Bữa cơm ngày đói là hình ảnh sinh động nhất của sự thảm hại của cái đói Bữa cơm mà bà cụ Tứ cố công chuẩn bị đãi cô dâu mới nhưng nó lại lột tả hết sự nghèo đói đến cùng cực của gia đình Tràng và của nhân dân Bắc bộ
3 Nhân vật
a Nhân vật Tràng:
▲ Hoàn cảnh: Dân ngụ cư, nghèo khổ, ế vợ;
- Dân ngụ cư: mang số phận tha phương cầu thực, không sống nổi ở quê hương mình nên đành tìm nơi khác để kiếm kế sinh nhai -> bị sự kì thị, phân biệt đối xử của dân bản địa, dẫn đến việc không được chia ruộng đất, vô cùng nghèo khổ Không chỉ vậy, dân ngụ cư cũng không được sống trong không gian làng xóm mà phải sống riêng biệt ở rìa làng hoặc ngoài đê, đồng thời cũng không được tham gia bất cứ một sinh hoạt cộng đồng nào của làng xã -> làm nghề kéo xe bò thuê (công việc bấp bênh)
▲Dáng vẻ: xấu, thô kệch
▲Tính cách, phẩm chất của nhân vật
- Hiền lành, vui tính (hay đùa với lũ trẻ)
- Thương người: cho ăn, dẫn Thị về nhà
- Khát khao hạnh phúc gia đình:
+ Câu hò “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”,
“thích lắm” trước cái cười tình của Thị
+ Tràng buông câu nói nửa đùa nửa thật: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” và thị về thật.
+ Ban đầu, Tràng cũng có chút phân vân, do dự: “mới đầu anh chàng cũng chợn, nghĩ: Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”.
+ Nhưng sau một thoáng do dự, Tràng đã tặc lưỡi: “Chậc, kệ!”, rồi đưa thị về
nhà
à Bên ngoài là sự liều lĩnh, nông nổi, nhưng bên trong chính là sự khao khát hạnh phúc lứa đôi Quyết định có vẻ giản đơn nhưng chứa đựng tình thương đối với người gặp cảnh khốn cùng
+ Diễn biến tâm trạng của Tràng
Khi qua xóm ngụ cư về nhà
++ Vẻ mệt mỏi, vẻ mặt đăm chiêu thường thay vào đó “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”.
Trang 4++ Trong khi người vợ càng thêm “ngượng nghịu” trước con mắt tò mò của dân
xóm ngụ cư thì Tràng “lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh vênh tự đắc với mình”
++ Niềm hạnh phúc ngập tràn khiến Tràng quên đi cả hiện tại tối tăm “Trong
một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng
hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới
mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng.”
Niềm khao khát tổ ấm gia đình đã làm cho Tràng có đủ sức mạnh để vượt lên tất
cả, bất chấp cả cái đói và cái chết
Vui mừng khi bà Cụ Tứ chấp thuận nàng dâu mới “Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi”
Buổi sáng hôm sau khi có vợ
++ Tràng lâng lâng trong niềm hạnh phúc tưởng chỉ có trong giấc mơ, vẫn chưa
dám tin vào sự thật “Trong người êm ái lửng lơ như vừa ở trong giấc mơ đi ra”,
“Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”.
++ Sự thay đổi tình cảm và nhận thức của nhân vật Tràng:
Nhưng rồi anh nhận ra sự thay đổi mới mẻ, nhận thức được hạnh phúc vừa có
được “Hắn chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ.”,
“Hắn đã có một gia đình”
Hắn cảm động trước cảnh tượng bình thường: “Ngoài vườn mẹ hắn đang lúi
húi giẫy những bụi cỏ mọc nham nhở Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động”.
Sự thay đổi về tình cảm: “Hắn thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.”
Nhận thức được ý thức bổn phận và trách nhiệm: “Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy.”, “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”.
Hạnh phúc gia đình giản dị, đơn sơ đã làm cho người đàn ông vốn vô tư bỗng nhiên thay đổi: biết yêu thương, nên người, có trách nhiệm
- Khát khao sống, niềm tin vào cuộc sống, tương lai tươi sáng.
+ Khát khao hạnh phúc, xây dựng mái ấm gia đình: khát khao sống
+ Nghe lời mẹ dạy cách làm ăn
+ Ân hận, tiếc rẻ vì hành động kéo xe thóc của Liên đoàn đi lối khác, “Trong
óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới.”
Hạnh phúc làm thay đổi con người Trong tăm tối khốn cùng, khát vọng yêu
thương như một bản năng bất diệt vẫn cháy sáng; “Trong hoàn cảnh khốn
Trang 5mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người" (Kim Lân)
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật Tràng
-Nghệ thuật phân tích diễn biến tâm lí nhân vật: rất chân thật, tinh tế và sâu sắc.
- Tương phản giữa ngoại hình, hoàn cảnh với vẻ đẹp tâm hồn.
- Ngôn ngữ nhân vật: giản dị phù hợp với hoàn cảnh và tính cách
* Ý nghĩa tư tưởng khi xây dựng nhân vật Tràng: Góp phần thể hiện giá trị hiện
thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm
b Người vợ nhặt:
▲Số phận nhỏ nhoi, đáng thương: Không tên, nhà văn chỉ gọi là “người đàn bà”,
“thị”, “cô ả”, không nghề nghiệp: Ai thuê gì làm nấy, ngồi bên vệ đường nhặt thóc
rơi vãi
▲Ngoại hình xấu xí:
- “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, trên khuôn mặt lưỡi cày xám
xịt chỉ còn thấy 2 con mắt.”
- “Thị gầy sọp hẳn đi, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.
=>Cái đói hằn in rõ nhất qua ngoại hình
▲ Tính cách: bộc lộ qua hai lần gặp Tràng
- Lần đầu: thị đùa cợt hồn nhiên, ăn nói bạo mồm, cong cớn gọi Tràng là “nhà tôi ơi” và đẩy xe thóc giúp anh.
- Lần thứ 2:
+ Thị ăn nói chua ngoa, đanh đá, thiếu lễ độ; cử chỉ, hành động thô lỗ thiếu nữ tính
+ Cái đói đã làm thị đánh mất sĩ diện, sự e thẹn, dịu dàng gợi ý để được ăn
“có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”, chỉ cần Tràng đồng ý là“cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc chẳng truyện trò gì”, “Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở”.
+ Người đàn bà này còn từ bỏ lòng tự trọng và danh dự chỉ vì cái đói theo không Tràng sau một lời nói nửa đùa nửa thật nhưng thị về thật
Cái đói đã bào mòn nhân cách của thị =>Niềm khát khao sống mãnh liệt ở
thị (vẻ đẹp tâm hồn)
▲ Sự thay đổi về tính cách của thị:
- Trên đường về: “Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Thị có vẻ rón rén, e thẹn” Khi trẻ con chọc ghẹo: “Người đàn bà có vẻ khó chịu lắm Thị nhíu đôi lông mày lại, đưa tay lên xóc xóc lại tà áo.” Khi nhận thấy những cái nhìn tò mò của người xung quanh: “thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước níu cả vào chân kia.” ngượng ngùng, e thẹn, đầy
nữ tính.
- Về đến nhà Tràng:
Trang 6+ “Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài.” thất vọng, chấp nhận và sự ý tứ Thị lo âu, hồi hộp, tư thế khép nép, chỉ
dám “ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”
+ Khi gặp bà cụ Tứ: Thị chào bà đến 2 lần và lo sợ, lúng túng nên không dám nói
lời nào, không dám ngồi “Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt.” ý tứ,
lễ phép
- Sáng hôm sau:
+ Thị tỏ ra đảm đang, tháo vát: dậy sớm, quét dọn nhà cửa, “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa … đã thấy đem ra sân hong Hai cái ang nước … đã kín nước đầy ăm ắp Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”
+ Trong bữa ăn, khi được bà mẹ đãi món “chè khoán”, “Người con dâu đón lấy cái bát đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng” Ý
tứ, biết thông cảm, chia sẻ và chấp nhận
+ Chính thị thắp lên niềm tin và hi vọng cho mọi người khi thông báo sự kiện
Việt Minh “phá kho thóc của Nhật chia cho người đói”.
Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật dần dần hiện ra qua ngòi bút mang tính phát hiện của Kim Lân: giàu nữ tính, giàu tình cảm và giàu khát vọng
+ Khát vọng sống mãnh liệt; khát khao hạnh phúc gia đình
+ Người vợ, con dâu đảm đang, hiếu thảo “người đàn bà hiền hậu đúng mục”
+ Niềm tin vào cuộc sống tươi đẹp
Bằng biện pháp đối lập, nhà văn giúp người đọc phát hiện vẻ đẹp khuất lấp
như hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người Người vợ nhặt tiêu biểu cho người lao động nghèo, mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời tiêu biểu cho ý tưởng của Kim Lân: Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người nông dân ngụ cư vẫn khao khát hướng về cuộc sống
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật thị:
- Đối lập: Ngoại hình với tâm hồn; hoàn cảnh với khát vọng sống => vẻ đẹp khuất lấp như hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người
- Miêu tả có chọn lọc
- Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật
* Ý nghĩa tư tưởng khi xây dựng nhân vật thị
- Làm bật lên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm;
- Vai trò nhân vật thị: góp phần phát triển kết cấu truyện; thể hiện giá trị tư tưởng tác phẩm; làm bật lên vẻ đẹp tâm hồn ở nhân vật Tràng
c Bà cụ Tứ:
Hoàn cảnh: già yếu, nghèo khổ, sống nương tựa vào con trai
Diễn biến tâm trạng:
* Lúc mới về nhà:
Trang 7- Đến giữa sân nhà, “bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn” Bao nhiêu câu hỏi dội về đầy băn khoăn: "Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ?”
- Khi nghe người đàn chào mình bằng u, bà lão ngạc nhiên hơn nữa: “Ô hay, thế
là thế nào nhỉ?”, “Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải”
Bà lão chưa bao giờ hình dung mình được đón con dâu trong tình cảnh trớ trêu, tội nghiệp như lúc này Sự ngạc nhiên khiến cho bà không tin vào cảm giác của mắt mình Bà cụ Tứ là người nhạy cảm và tinh tế
* Khi được Tràng giải thích, giãi bày: “Bà cúi đầu nín lặng,… hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình.” Đó là một sự
nín lặng chất chứa biết bao nỗi niềm: vừa tủi thân, vừa xót thương lo lắng, vừa mừng vui,…
- Bà so sánh: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì…”, “Trong
kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…” Bà tủi thân cho số kiếp
đứa con phải có “vợ nhặt” và bổn phận làm mẹ chưa tròn của mình Bà lão khóc, nước mắt của sự thương xót, tủi buồn
- Bà lo lắng: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát
này không.”, “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?” Bà lo cho cuộc sống trước mắt của con, lo cho tương lai sau này Một người mẹ nghèo khổ với tình thương con to lớn
- Bà cụ đăm đăm nhìn chị vợ nhặt, “Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt.” Từ chỗ xót xa cho đứa con trai, bà chuyển sang thương xót cho người phụ nữ
xa lạ bỗng trở thành con dâu của mình: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới đến lấy con mình Mà con mình mới có vợ được … ", Bà thương
cho người đàn bà khốn khổ cùng đường mới lấy đến con trai mình mà không tính đến nghi lễ cưới xin Con người nhân hậu, thấu cảm cho hoàn cảnh của thị
- Với một tấm lòng nhân hậu, bà cố gắng giấu đi mọi sự lo lắng để vui lên cho
con cái mình vui Bà nhận người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: "Ừ thôi thì các con
đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…" cách nói giản dị mà chan
chứa tình người, làm ấm lòng những số phận tội nghiệp, trả lại danh dự cho người vợ nhặt.
+ Bà dặn dò, an ủi động viên các con: "Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi may ra mà ông giời cho khá…", “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” niềm tin lạc quan ở tương lai.
Bà gieo hi vọng cho con, hi vọng cuộc đời của con sẽ thay đổi trong tương lai
Tấm lòng của bà cụ Tứ không chỉ là tình thương con mà còn là đức vị tha cao
cả Đó là vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ nghèo khổ Việt Nam
* Sáng hôm sau, trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới:
- Cùng với con dâu, bà thu dọn, quét tước nhà cửa, hi vọng cuộc đời của con thay đổi
Trang 8- Bà “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng
rỡ hẳn lên” Hạnh phúc của con đã làm bà vui hơn, hi vọng hơn
- Trong bữa ăn, bà toàn “nói chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này”: "Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà… ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà
cho xem…" Bà nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng
Bà cụ Tứ là người mẹ có tấm lòng yêu thương vô bờ bến, luôn vun vén hạnh
phúc cho các con, là chỗ dựa tinh thần cho các con.
(Giàu lòng thương con, nhân hậu; niềm tin vào tương lai tươi sáng; trải đời, giàu kinh nghiệm)
Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- phân tích diễn biến tâm lí nhân vật: chân thật, tinh tế, sâu sắc
-
4 Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo:
a Giá trị hiện thực:
* Truyện ngắn VN phản ánh số phận thê thảm của con người trong nạn đói khủng khiếp năm 1945
- Bức tranh ảm đạm của nạn đói:
+ Những người hành khất: “từ Nam Định, Thái Bình đọi chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ” + Không khí chết chóc bao trùm: “Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây năm còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”
+ Đàn quạ săn xác người cứ lượn từng đàn như những đám mây đen
à Sự sống đang bị đặt sát bờ vực cái chết
- Nạn đói còn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời, số phận của mỗi con người:
+ Người đàn bà là vợ Tràng hiện lên như một con ma đói: “áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.”
+ Chuyện tỏ tình của họ chỉ còn trơ trọi là sà vào miếng ăn: “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.”
+ Người đàn bà phải từ bỏ lòng tự trọng và danh dự chỉ vì cái đói: chỉ có bốn bát bánh đúc mà theo không anh chàng xấu trai, gặp tầm phào ngoài đường
- Tràng nhặt được vợ trong khi sự sống đang đặt bên bờ vực cái chết:
+ Lấy vợ là một trong những việc trọng đại nhất đời người, cần có những nghi lễ trang trọng… thì ở đây Tràng lại nhặt được vợ ngoài chợ như một mớ rau
+ Tràng thân mình còn lo không nổi lại còn đèo bòng trong niềm vui hớn hở, khiến mọi người hết sức ngạc nhiên
+ Bà mẹ chồng đãi nàng dâu mới bằng bữa cơm thê thảm, bằng món cháo cám mà
bà gọi là “chè khoán”
+ Cái đói và cái chết vẫn đeo đuổi, đe doạ hạnh phúc mong manh của vợ chồng
Tràng Không khí chết chóc vẫn bao quanh căn nhà: “Mùi đống rấm ở những nhà có
Trang 9* Truyện gián tiếp đề cập đến tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật đã gây nên nạn đói khủng khiếp năm 1945
b Giá trị nhân đạo:
- Tác giả cảm thông thương xót trước số phận của con người trong nạn đói khủng khiếp năm 1945
- Tác giả gián tiếp tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật đã gây nên…
- Tác giả phát hiện, ngợi ca những vẻ đẹp đáng quý của con người trong nạn đói… (Tràng, thị, bà cụ Tứ)
- Tác giả vạch ra con đường hướng nhân vật đến cuộc sống tươi đẹp hơn: con đường đến với cách mạng dù còn mơ hồ
5 Nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm:
a Xây dựng tình huống truyện độc đáo
* Tình huống lạ lùng:
- Tràng là anh nông dân nghèo, xấu trai; lại là dân xóm ngụ cư, gặp nạn đói, cái chết luôn đeo bám, nguy cơ ế vợ đã rõ, vậy mà Tràng “nhặt” được vợ một cách dễ dàng, nhanh chóng ở ngay giữa đường giữa chợ chỉ nhờ bốn bát bánh đúc
- Thời buổi đói khát này, không ngày nào không có người chết đói Bản thân Tràng
đi làm thuê nuôi thân, nuôi mẹ già cũng chẳng xong mà còn dám lấy vợ Lấy vợ là thêm một miệng ăn, đẩy mình gần hơn với cái chết
- Vì thế, Tràng có vợ khiến mọi người đều ngạc nhiên:
+ Cả trẻ con và người lớn trong xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một
người đàn bà xa lạ về nhà trong một buổi chiều ảm đạm “Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem”, còn người lớn “đứng cả trong ngưỡng cửa mà nhìn ra bàn tán”.
+ Bà cụ Tứ, mẹ Tràng, cũng ngạc nhiên khi vừa về đến nhà: “Quái, sao lại có người đàn bà nào trong nhà ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? ”
+ Bản thân Tràng cũng ngạc nhiên, bất ngờ với chính hạnh phúc của mình: “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Thậm chí sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng.
* Tình huống éo le:
- Lấy vợ, lấy chồng là một sự kiện vui mừng lớn lao trong đời mỗi con người Nhưng trong trường hợp của Tràng, niềm vui đó lại diễn ra dưới sự rình rập, đe dọa của cái nghèo, cái đói Vì thế, Tràng có vợ khiến tất cả mọi người không lo nhiều
hơn vui (nỗi lo chung: “có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”)
- Hạnh phúc của đôi vợ chồng mới diễn ra trong không khí thê lương, ảm đạm,
chết chóc: “Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người”,
“Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”,“Giữa
sự im lặng của đôi vợ chồng mới, có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào lúc tỉ tê lúc
to lúc nhỏ”, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết”.
Trang 10- Ngay cả bữa cơm đầu tiên mà bà cụ Tứ đón nàng dâu mới cũng thật thê thảm:
“Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo.” và món ăn mà bà mẹ chồng đãi nàng dâu mới: “chè khoán”
Đánh giá:
+ Tình huống truyện vừa lạ, vừa hết sức éo le, vừa bất ngờ vừa hợp lí, là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật
+ Làm rõ chủ đề, thể hiện giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm
- Thông cảm với tình cảnh thê thảm của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945
- Lên án mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật: đẩy nhân dân ta lâm vào một nạn đói khủng khiếp đến nỗi giá trị của con người không hơn cái rơm cái rác
- Tác giả đã phát hiện được những phẩm chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của con người: Dù bị đẩy vào tình cảnh hết sức bi đát nhưng họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia đình, vẫn đùm bọc cưu mang nhau và hi vọng cuộc đời mình sẽ thay đổi trong tương lai
- Thể hiện niềm tin vào tương lai: Chỉ ra cho người dân nghèo con đường đi đúng đắn: bước theo lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh
b Cách kể chuyện: tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn.
c Nghệ thuật xây dựng nhân vật: các nhân vật có hoàn cảnh chung, nhưng mỗi
người có nét tâm lý, tính cách riêng; ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế nhưng bộc lộ tự nhiên, chân thật; khéo léo làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật
d Nghệ thuật dựng cảnh: chân thật, ấn tượng: bức tranh nạn đói, bữa cơm ngày
đói,…
đ Ngôn ngữ: mộc mạc, giản dị, gần với khẩu ngữ nhưng được chọn lọc kĩ, tạo
nên sức gợi
III Tổng kết:
Truyện Vợ nhặt không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước
ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của họ Ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau Nội dung nhân đạo sâu sắc và cảm động đó được thể hiện qua một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lý khá tinh tế, đối thoại sinh động