Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI1 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG VỤ, ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ, SỰ LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ 1 1 1 Các công trình nghiê
Trang 1SỰ LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
Ở MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2022
Trang 2SỰ LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
Ở MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Trang 4MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1 1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến công vụ, đạo đức công
vụ, sự lệch chuẩn đạo đức công vụ
1 2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng lệch chuẩn đạo
đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh
tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục
1 3 Giá trị khoa học của các công trình đã tổng quan có liên quan đến
đề tài và những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LỆCH CHUẨN
ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
2 1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận án
2 2 Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức
Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường - khái niệm, tiêu chí
đánh giá
Chương 3: SỰ LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở MỘT BỘ PHẬN
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN
3 1 Thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ,
công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
3 2 Nguyên nhân của thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở
một bộ phận cán bộ, công chức hiện nay
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU KHẮC PHỤC SỰ
LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
4 1 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa nhằm khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị trường tác
động đến đạo dức công vụ
1
6 6
23 30
32 32
68
76 76 100
114
114
Trang 54 3 Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống
cho cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay
4 4 Nâng cao ý thức tự rèn luyện đạo đức công vụ của cán bộ,
công chức
4 5 Mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân, coi dư luận xã
hội, truyền thông, báo chí là một kênh thông tin để ngăn ngừa,
điều chỉnh, khắc phục lệch chuẩn đạo đức công vụ
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
128 141
148 149 151 152
Trang 6Cán bộ, công chức Chuẩn mực đạo đức công vụ Đạo đức công vụ
Kinh tế thị trường
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cấu trúc nhân cách của con người nói chung, người cán bộ, côngchức (CB, CC) nói riêng, thành tố đạo đức đóng một vai trò hết sức quan trọng Đạo đức được coi là “nền tảng”, là “hạt nhân”, là yếu tố “chưng cất” của nhâncách con người nói chung, người CB, CC nói riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh từngnói rằng, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cáchmạng thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Trung thành vớinhững chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong công tác cán bộ, Đảng ta coitrọng cả đức và tài, “trong đó đức là gốc”
Để đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền vớixây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tại Hội nghị lần thứ tư BanChấp hành Trung ương khoá XIII, Đảng ta rất coi trọng việc “xây dựng Đảng vềđạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạođức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầucác cấp”
Bên cạnh đại đa số CB, CC có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trịvững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên địnhmục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có đạođức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rènluyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao v v thì hiện vẫn còn không ít CB, CC làm việc thiếu tính chuyên nghiệp; ýthức tổ chức kỷ luật không cao; ý thức, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dânthấp; không tích cực phòng, chống tham nhũng, lãng phí Đặc biệt một số CB,
CC vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật Đảng, Nhà nước đến mức phải kỷluật, xử lý hình sự Tại Đại hội lần thứ XIII (năm 2021), một lần nữa Đảng ta chỉ
rõ “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức suy thoái đạo đức, lối sống và viphạm đạo đức công vụ (ĐĐCV)” [34, tr 78]
Để có được đội ngũ CB, CC “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầunhiệm vụ mới; Để nâng cao chất lượng dịch vụ công; Để xây dựng nền hành
Trang 8chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trong sạch,vững mạnh, công khai, minh bạch có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính,phục vụ nhân dân, trên cơ sở những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng
về đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân v v đòi hỏi phảiđẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng; nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rènluyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức; thực hiện thường xuyên, sâu,rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ ChíMinh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị; khắc phục tình trạng lệchchuẩn đạo đức theo xu hướng xấu, tiêu cực đang diễn ra trong một bộ phận CB,
CC nước ta hiện nay
Trong những năm gần đây, vấn đề ĐĐCV đã thu hút sự quan tâm của cácnhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý ở nhiều nước với các chế độ chính trịkhác nhau Đã có không ít cuốn sách, các bài đăng trên các tạp chí khoa học bànđến các vấn đề liên quan đến ĐĐCV Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một côngtrình nào nghiên cứu về sự lệch chuẩn ĐĐCV một cách hệ thống - nhất là trongđiều kiện phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa
Với ý nghĩa đó, tác giả luận án lựa chọn vấn đề “Sự lệch chuẩn đạo đức
công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ triết học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2 1 Mục đích
Trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng sự lệch chuẩnĐĐCV của một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Nam, luận án đềxuất một số giải pháp chủ yếu để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục lệch chuẩnĐĐCV ở một bộ phận CB, CC ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Thứ ba, phân tích thực trạng sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC
trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thực trạng
Thứ tư, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc
phục sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở ViệtNam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 1 Đối tượng nghiên cứu
Sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ởViệt Nam
3 2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: từ năm 2001 đến nay1
- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: trên phạm vi cả nước
- Phạm vi khảo sát: luận án chủ yếu tập trung phân tích thực trạng sự lệch
chuẩn ĐĐCV (theo chiều hướng tiêu cực) của CB, CC trong lĩnh vực dân sự
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
4 1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về: đạo đức, đạo đức cộng vụ, chuẩn mực đạo đức công vụ (CMĐĐCV)của CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay
Luận án kế thừa các kết quả, tư tưởng, quan điểm của các công trìnhnghiên cứu đã được công bố có liên quan trực tiếp đến luận án
4 2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi sửdụng nhất quán và có hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ
một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay
Trang 10duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin để ngiên cứu về sự lệch chuẩnĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp lịch sử và lôgíc: Phương pháp này được sử dụng trong luận
án để nhằm luận giải vấn đề sự lệch chuẩn ĐĐCV một cách nhất quán và có hệthống, đó là việc nêu ra khái niệm CMĐĐCV, sự lệch chuẩn ĐĐCV; biểu hiện
và thực trạng sự lệch chuẩn ĐĐCV trong nền KTTT định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam; các giải pháp gắn với nguyên nhân và thực trạng
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp phổ biến trongnghiên cứu khoa học, việc sử dụng phương pháp phân tích giúp cho chúng tôilàm rõ các tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn ĐĐCV, làm rõ được thực trạng sựlệch chuẩn ĐĐCV, từ đó đề xuất các giải pháp một cách có hệ thống dựa trênthực trạng và nguyên nhân, từ đó xây dựng được kết luận của từng vấn đề, từngchương trong luận án và kết luận chung toàn bộ luận án
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng trong chương 1 và 3 của luận ánnhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thực trạng
sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Namhiện nay
- Phương pháp dự báo khoa học: Được sử dụng chủ yếu trong chương
4 nhằm đưa ra các giải pháp trong việc ngăn chặn, hạn chế, khắc phục sự
lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt
Nam hiện nay
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn ĐĐCV ở
một bộ phận CB, CC (theo chiều hướng tiêu cực) trong điều kiện KTTT ở ViệtNam hiện nay; nêu lên các tiêu chí và chỉ ra biểu hiện của sự lệch chuẩn ĐĐCV
ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay;
Thứ hai, luận án chỉ ra thực trạng lệch chuẩn ĐĐCV theo xu hướng tiêu
cực ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay
Thứ ba, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục sự
lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Namhiện nay
Trang 116 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận án làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về CMĐĐCV, sự lệch chuẩnĐĐCV trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay Luận án nêu lên thực trạng,
đề xuất giải pháp khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức ở một bộ phận CB, CC trongđiều kiện KTTT ở nước ta hiện nay
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu,giảng dạy các môn đạo đức học nói chung, ĐĐCV nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học đã đượccông bố của tác giả có liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận án gồm 4 chương 12 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG VỤ, ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ, SỰ LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
1 1 1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến công vụ, đạo đức công
vụ, chuẩn mực đạo đức công vụ
Vấn đề công vụ, ĐĐCV, CMĐĐCV đã và đang được nhiều nhà nghiêncứu cũng như chính phủ nhiều nước khác nhau trên thế giới quan tâm Không ítkết quả nghiên cứu liên quan đến các vấn đề này đã được công bố Trong số đó,
có thể kể đến một số công trình sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đến công vụ
Cuốn Thuật ngữ Hành chính của Học viện Hành chính Quốc gia [56] là
công trình khoa học của Trường Đại học tổng hợp Stellenbosch, Nam Phi có đềcập đến khái niệm công vụ Theo đó, công vụ “bao gồm các cơ quan khác nhaucủa chính phủ, như các bộ, ngành của nhà nước, các tổ chức doanh nghiệp, cáctập đoàn và doanh nghiệp của chính phủ là các cơ quan chịu trách nhiệm về việctạo điều kiện và thực thi pháp luật, chính sách công và các quyết định của chính
phủ” [56, tr 1] Quan niệm này tiếp cận khái niệm công vụ ở góc độ các hoạt
động của chính phủ, hoạt động của bộ máy hành chính
Công trình “Đạo đức công vụ của CB, CC, viên chức hiện nay” của Thân
Minh Quế [103], tác giả khẳng định, “công vụ là một loại hoạt động mang tínhquyền lực- pháp lý được thực thi bởi đội ngũ CB, CC nhà nước hoặc nhữngngười khác khi được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước trong quá trình lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xãhội” [103, tr 14]
Cuốn “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” của tác giả Ngô Thành
Can [12], tác giả cho rằng, “công vụ có thể được xem là một loại lao động mangtính quyền lực và pháp lý do đội ngũ công chức thực hiện, sử dụng ngân sáchnhà nước để tiến hành các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong việc quản
lý toàn diện các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của một
Trang 13quốc gia” [12, tr 34] Quan niệm này khẳng định chủ thể của hoạt động công vụ
là công chức Nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước
Các quan niệm trên về công vụ cho thấy, công vụ là hoạt động tác độngđến mọi mặt của đời sống xã hội, do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền đảm nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước, nhằm phục vụ xã hội và nhân dân
Thứ hai, các công trình nghiên cứu đến ĐĐCV
Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra nguyêntắc tối thượng của hành vi công vụ, đó là thượng tôn pháp luật Song điều đókhông đồng nghĩa với việc hạ thấp vai trò của ĐĐCV Hơn nữa, trong điều kiệnKTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt ra nhiều yêu cầu về năng lực và phẩmchất đạo đức của đội ngũ CB, CC Vì vậy, vấn đề ĐĐCV được phản ánh khá sâusắc qua nhiều công trình nghiên cứu sau đây:
Cuốn Nghiên cứu, so sánh quy định về ĐĐCV của một số quốc gia và Việt
Nam của Đỗ Thị Ngọc Lan [66], gồm ba chương, tác giả đưa ra các khái niệm
công vụ, ĐĐCV ở chương 1 Những nghiên cứu này tập hợp, so sánh ĐĐCV củamột số quốc gia và khuyến nghị cho hệ thống quản lý công vụ ở Việt Nam Tác giảcũng nêu ba thành tố của bộ quy tắc ứng xử của ĐĐCV ở Việt Nam bao gồm: giátrị cốt lõi, các nguyên tắc ĐĐCV, cụ thể hóa các quy tắc ứng xử Đây là tài liệutham khảo cho chúng tôi trong việc nghiên cứu về nội dung các CMĐĐCV
Cuốn “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” của Ngô Thành Can
[12] gồm năm chương Trong chương 2, các tác giả nêu lên khái niệm đạo đứccông chức và khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng đạo đức công chức trongnền KTTT ở nước ta; chương 3 làm rõ thực trạng đạo đức trong thực thi công vụ,chương 4 nêu lên những chuẩn mực và nguyên tắc xây dựng đạo đức công chứcViệt Nam; chương 5 nêu một số giải pháp chủ yếu xây dựng đạo đức trong điềukiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, trong chương 4, các tác giả nêulên các giá trị ĐĐCV là trung thành, đáng tin cậy; tinh thần đoàn kết; có lòng tựtrọng, có trách nhiệm; thái độ, và hành vi ứng xử tích cực Điều này thể hiện tínhphổ biến của ĐĐCV Chúng tôi nhận thấy đây là cuốn sách có nhiều kiến thứcphong phú, trình bày có hệ thống và có nhiều giá trị lý luận và thực tiễn
Trang 14Cuốn “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền KTTT với việc xây
dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý nước ta hiện nay” của Nguyễn Chí Mỳ
[91], tác giả đề cập đến một nội dung cấu thành của ĐĐCV, đó là đạo đức mới đạo đức cách mạng Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng đạo đứcmới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý có sự tác động sâu sắc của nền KTTT Điềunày giúp cho tác giả luận án nhận thức rõ ngoài tính phổ biến của các chuẩn mựcđạo đức, còn có tính đặc thù của các chuẩn mực đạo đức cho các đối tượng CB,
-CC Tính đặc thù này thể hiện rõ hơn trong đạo đức nghề nghiệp của CB, -CC
Cuốn “Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay” của Nguyễn
Thế Kiệt [64] đã chỉ ra thực trạng biến đổi, suy thoái đạo đức của cán bộ quản lý,lãnh đạo ở nước ta trước sự tác động của KTTT Từ đó, việc nâng cao đạo đứccho đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn đổi mới
Cùng một góc nhìn về ĐĐCV, bài "Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ
lãnh đạo chính trị hiện nay" của tác giả Trần Văn Phòng [99] nghiên cứu về đặc
thù của đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị, tác giả nêu ra các tiêu chuẩncủa người cán bộ, lãnh đạo quản lý trong bối cảnh hiện nay, trước những yêu cầucủa sự nghiệp cách mạng và sự tác động củ nền KTTT Trong khuôn khổ bàiviết, tác giả đề ra các tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của người cán bộ lãnh đạo chínhtrị hiện nay, làm căn cứ cho việc tuyển chọn, đánh giá cán bộ, xây dựng Đảng,phát triển Đảng
Ba công trình nghiên cứu trên của các tác giả Nguyễn Chí Mỳ, NguyễnThế Kiệt, Trần Văn Phòng tuy chỉ đề cập đến đạo đức của cán bộ quản lý, lãnhđạo nhưng đã gợi ý cho chúng tôi, trong việc đề cập đến sự lệch chuẩn ĐĐCVnói chung, cần xem xét đến tính đặc thù của sự lệch chuẩn đó Bởi hoạt độngcông vụ gắn với quyền lực, vì vậy yêu cầu về tính chuẩn mực đạo đức của ngườicán bộ lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo chính trị càng phải cao hơn rất nhiều
Nhưng nếu xây dựng, gìn giữ chuẩn mực đạo đức từ những chuẩn mực phổ biếnnhất, thì sẽ đồng thời hạn chế được những lệch chuẩn mang tính đặc thù đó
Trong bài “Hoàn thiện thể chế ĐĐCV trong giai đoạn hiện nay” của tác
giả Trần Quốc Hải [44] cho rằng, chúng ta đã có nhiều văn bản quy phạm phápluật quy định về ĐĐCV, công chức, song việc vi phạm ĐĐCV vẫn rất nặng nề
Trang 15Do đó, cần phải hoàn thiện thể chế ĐĐCV, trong đó cần ban hành các quy định
cụ thể về tiêu chuẩn đạo đức cho các loại CB, CC Quan điểm này là cơ sở giúpcho tác giả luận án kế thừa trong việc xây dựng các giải pháp nhằm khắc phụclệch chuẩn ĐĐCV
Với bài “Về ĐĐCV trong Luật công vụ” của tác giả Lưu Kiếm Thanh
[113] khẳng định quan điểm của mình, ĐĐCV cần phải có vị trí tương xứngtrong Luật công vụ Bởi vì, khi các tiêu chuẩn đạo đức không được phản ánh mộtcách cụ thể trong khuôn khổ pháp lý và các quy định thì thật khó mà xác địnhđâu là tiêu chuẩn, đâu là nguyên tắc bắt buộc về hành vi của tất cả công chức Nócho thấy tính phức tạp của ĐĐCV Vì hoạt động công vụ mang tính quyền lực -pháp lý cho nên CB, CC thực hiện ĐĐCV trong Luật công vụ là điều phải làm,thực hiện ĐĐCV được xã hội thừa nhận là điều nên làm Đây là mảng nghiêncứu khá cụ thể và cần thiết, chúng tôi cũng coi đây là một căn cứ để đưa ra cácCMĐĐCV của CB, CC và các tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn ĐĐCV
Cùng quan điểm với Lưu Kiếm Thanh, Bùi Huy Tùng có bài“Phát huy
vai trò của pháp luật đối với ĐĐCV” [114] Tác giả cho rằng, ĐĐCV là giá trị
được thể hiện ở cả hai phương diện: chuẩn mực đạo đức và quy phạm pháp luật Theo tác giả, cần thể chế hóa các quy phạm đạo đức thành pháp luật và tăngcường giáo dục ý thức pháp luật gắn với ĐĐCV cho CB, CC Đồng thời cần phảiđấu tranh kiên quyết với các vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức của CB, CC Bài viết nhấn mạnh vai trò điều chỉnh hành vi của cả pháp luật và đạo đức đốivới CB, CC, đề cao công tác giáo dục ý thức đạo đức và ý thức pháp luật cho
CB, CC Những quan điểm của các tác giả là cơ sở lý luận để chúng tôi thamkhảo, làm rõ các đặc điểm của ĐĐCV trong luận án Đồng thời, bài viết cũng gợi
mở cho chúng tôi những suy nghĩ khi nghiên cứu về các giải pháp nhằm ngănchặn, hạn chế, khắc phục sự lệch chuẩn ĐĐCV trong điều kiện KTTT Muốntăng cường kiểm soát quyền lực của CB, CC trong điều kiện KTTT, cần phảităng cường vai trò của pháp luật, bằng cách xây dựng đồng bộ hệ thống phápluật, đề cao tính thượng tôn pháp luật trong thực thi công vụ
Về bài “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” của tác giả Cao Minh
Công [19] đã nêu lên quan điểm để xây dựng nền hành chính hiệu quả cần có đội
Trang 16ngũ công chức chính quyền chuyên nghiệp và có đạo đức Công chức cần có cáccam kết đạo đức cụ thể; có ý thức phục vụ lợi ích cộng đồng; đảm nhận các tráchnhiệm nghiệp vụ của mình với nhân dân, với đồng nghiệp, với người đồng
nhiệm; cam kết nâng cao chất lượng phục vụ Bài viết giúp chúng tôi nhận ra vaitrò to lớn của điều chỉnh đạo đức trong thực thi công vụ Những ranh giới giữacái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác, cái nên làm và không nên làm, cái lợi íchvật chất đơn thuần và các giá trị về phẩm hạnh trong điều kiện KTTT thường rấtmỏng manh Do đó, cơ chế điều tiết từ bên trong, suy nghĩ về sự hổ thẹn khi cáctiêu chuẩn đạo đức không đạt được của cá nhân CB, CC luôn có thế mạnh riêng,giúp họ đạt tới việc hoàn thành nhiệm vụ
Với bài “Tiêu chuẩn công chức và vấn đề năng lực trong quá trình tiếp
tục cải cách công vụ, công chức” của tác giả Trần Anh Tuấn [121] đã nêu lên
tiêu chuẩn công chức và những vấn đề đặt ra đối với tiêu chuẩn cụ thể của côngchức, đồng thời nêu lên một số ý kiến nhằm hoàn thiện tiêu chuẩn công chức gắnvới các yếu tố năng lực Tác giả phân định các yếu tố năng lực chung như: nănglực soạn thảo văn bản, năng lực xây dựng chính sách, năng lực phối hợp trongcông vụ, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo nhóm ; các yếu tố năng lựcchuyên biệt của công chức lãnh đạo, quản lý như: năng lực lãnh đạo, điều hành
và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; năng lực tham mưu chiến lược và điều hành côngviệc, năng lực bao quát với năng lực biết tập trung cho công việc chính yếu, quantrọng; năng lực tập hợp, đoàn kết công trong cơ quan được gia lãnh đạo, quản
lý Bài viết thể hiện khá rõ về các tiêu chuẩn của người công chức, cũng là gócnhìn để chúng tôi tiếp cận nghiên cứu về lý luận CMĐĐCV
Trong bài, “Bàn thêm về đạo đức và ĐĐCV” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan
[65] đã nêu các khái niệm “đạo đức” và “công vụ” Tác giả cho rằng, công vụ làhoạt động công quyền, còn ĐĐCV là đạo đức của công chức thể hiện qua
hành vi ứng xử đúng của công chức trong mối quan hệ với đồng nghiệp, với
tổ chức và công dân trong khi thực thi công vụ Tác giả cũng đã trình bày cácđặc điểm của ĐĐCV, đó là một dạng đạo đức xã hội, thể hiện bản chất chínhtrị của giai cấp cầm quyền, các nguyên tắc của ĐĐCV phải được đề ra cụ thểtrong mối quan hệ với pháp luật Công trình này làm rõ thêm các lý luận về
Trang 17ĐĐCV, giúp cho tác giả luận án có cơ sở xây dựng quan điểm của mình trongphần lý luận về ĐĐCV
Bài “Đạo đức công vụ” của nhóm tác giả Minh Hoàng, Thu Hường, An
Nhiên, Khôi Nguyên và Tâm Thành [54] nêu lên các quan điểm về CB, CC,công vụ, đạo đức và ĐĐCV, hệ thống quản lý ĐĐCV, mối quan hệ giữa nềncông vụ và các lĩnh vực khác Nhóm tác giả lấy ví dụ về nền công vụ hoạt độnghiệu quả, đó là nền công vụ Đức, trên các mặt như tổ chức hành chính, nhân sựhành chính, quyền và nghĩa vụ của công chức, hệ thống chức nghiệp và chínhsách đãi ngộ Theo nhóm tác giả, ĐĐCV là những giá trị đạo đức và chuẩn mựcpháp lý được áp dụng cho CB, CC hoạt động trong lĩnh vực công vụ Nhữngnghiên cứu này giúp cho tác giả luận án có những kiến giải về ĐĐCV, nhữngtrăn trở trong việc xác định nội hàm của khái niệm ĐĐCV Theo đó, cần làm rõxem chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp lý là hai chuẩn mực khác biệt rõràng, hay đồng quan điểm với tác giả trên, rằng ĐĐCV bao gồm cả những giá trịđạo đức và chuẩn mực pháp lý Nhưng theo chúng tôi, đặc trưng của đạo đức làđiều chỉnh bằng lương tâm, đặc trưng của pháp luật là điều chỉnh bằng cưỡngchế Do đó, trong nội hàm của khái niệm ĐĐCV vẫn là những điều nên làm vàmong muốn được làm vì lợi ích chung Đạo đức công vụ không xâm phạm “biêngiới” của pháp luật, không bao gồm các quy định bắt buộc phải làm Khi thựchiện đúng các chuẩn mực pháp lý trong thực thi công vụ tức là CB, CC đã thựchiện đúng ĐĐCV Khi các điều bắt buộc phải làm trong quy phạm pháp luậtđược thực hiện bởi lương tâm, trách nhiệm và động cơ tốt đẹp từ bên trong của
CB, CC, đó là ĐĐCV Đạo đức công vụ chỉ là những giá trị đạo đức, nhưng giátrị tối thiểu của ĐĐCV là thực hiện pháp luật về công vụ Cũng như quan điểm
“pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa”, thực hiện pháp luật
là nền tảng của ĐĐCV
Bài “Đạo đức công vụ trong cải cách hành chính” của tác giả Phạm Nhẫn
[95], bài viết khẳng định vấn đề công vụ và ĐĐCV là một trong những nội dungchính của cải cách hành chính Tác giả cho rằng, biện pháp để cải cách hànhchính là luật hóa, thể chế hóa, cụ thể hóa nội hàm và biện pháp chế tài liên quanđến công vụ, ĐĐCV Thậm chí, nhiều nước có hẳn cả luật về ĐĐCV Như vậy,
Trang 18tác giả đã phân tích đạo đức và ĐĐCV dưới góc độ hẹp, trong vấn đề thuộc vềNhà nước, là công việc của Chính phủ Do đó, tác giả cho rằng ĐĐCV được đềcao thì uy tín Nhà nước cũng gia tăng Chúng tôi hoàn toàn tán thành quan điểmnày, bởi đây cũng là quan điểm chung, cái nhìn có tính phổ biến trong nghiêncứu ĐĐCV trên phạm vi toàn cầu Nói tới công vụ là nói tới nền hành chính, nóitới công việc phục vụ người dân thông qua việc giải quyết các vấn đề về đất đai,hôn nhân, kinh doanh, lao động v v Những thủ tục hành chính cần được đổimới để tránh phiền hà cho người dân Nhưng theo chúng tôi, ở Việt Nam, do tínhđặc thù về thể chế chính trị, các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chứcchính trị - xã hội là một hệ thống chính trị thống nhất, dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, cho nên việc sử dụng quyền lực có sự liên kết và thống nhấtvới nhau Trên cơ sở đó, có thể thấy rằng công vụ không chỉ là công việc củacông chức trong các cơ quan của Nhà nước và Chính phủ, mà phạm vi được mởrộng hơn Công vụ là hoạt động do CB, CC trong các cơ quan của Đảng, Nhànước, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện Điêu 2 của Luật CB, CC đã quyđịnh cụ thể điều này
Bài “Trung Quốc và nỗ lực nâng cao ĐĐCV” của Trung Sơn [110] đã
phân tích tình hình chống tham nhũng, lãng phí, cải thiện ĐĐCV trong ĐảngCộng sản Trung quốc và quan chức Chính phủ, cũng như vai trò của nhân dân và
dư luận xã hội trong cuộc chiến chống tham nhũng Bài viết cho thấy một biểuhiện của suy thoái đạo đưc công vụ, đó là tệ nạn tham nhũng Tác giả nêu lênthực trạng, năm 2013, Trung Quốc đã xử lý 3657 vụ tham nhũng, trong đó có
1481 vụ liên quan đến việc không làm tròn nhiệm vụ, lạm dụng quyền lực Các
nỗ lực nâng cao ĐĐCV được đề cập đến là: đội ngũ kiểm tra, kỷ luật của ĐảngCộng sản Trung Quốc; sự hợp tác, hỗ trợ từ người dân thông qua các trang mạng
xã hội, sự hỗ trợ từ các cơ quan truyền thông như Tân Hoa xã, Nhân dân nhật báo,các cổng thông tin điện tử như Sina, Sohu, Netease [110, tr 26] Bài viết chothấy tình trạng vi phạm đạo đức khá nặng nề ở Trung Quốc những năm gần đây
Trong bài “Thực hành ĐĐCV theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả
Bùi Đình Phong [98] đã nêu lên sự cần thiết và nội dung của việc thực hànhĐĐCV theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tác giả nhấn mạnh, tùy theo tính
Trang 19chất nghề nghiệp, vị trí công tác, chức vụ được giao mà ĐĐCV có những yêucầu, đòi hỏi khác nhau Chẳng hạn, đạo đức của người cán bộ, lãnh đạo, quản lýkhác đạo đức của người cán bộ không giữ chức vụ Đạo đức của cấp tướng khácđạo đức của chiến sĩ bài viết nhấn mạnh một nội dung trong các CMĐĐCV, đó làhọc tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Chúng tôi chorằng đây cũng là một tài liệu tham khảo tốt cho việc nghiên cứu của chúng tôi
Bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức và phẩm chất người
lãnh đạo” của Trương Quỳnh Hoa [51] có hai nội dung chính: tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức công chức nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chấtcủa CB, CC lãnh đạo Tác giả khẳng định, trong quá trình học tập và làm theo tưtưởng Hồ Chí Minh, CB, CC cần nắm rõ những tư tưởng đạo đức của Người,vận dụng cho phù hợp với vị trí và công việc của mình, đi tới hành động cụ thể Bài viết là cơ sở cho tác giả luận án làm rõ nội dung của CMĐĐCV, trong đó cócác tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐCV
Trong bài “Yếu tố ảnh hưởng và yêu cầu xây dựng đạo đức công chức ở
Việt Nam hiện nay” của tác giả Trương Quốc Chính [13] phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến xây dựng đạo đức công chức bao gồm kinh tế, chính trị, truyềnthống - văn hóa, đồng thời, nêu lên yêu cầu đảm bảo hài hòa giữa tính nhân văntrong đạo đức công chức với đòi hỏi tính pháp quy của việc thực hiện công vụ Những vấn đề lý luận trong bài viết cũng là động lực để chúng tôi tìm hiểu sâuhơn về lý luận ĐĐCV Bài viết cũng giúp cho chúng tôi xác định nội dung cầntrình bày trong luận án Đó là, chúng tôi nghiên cứu sự lệch chuẩn trong điềukiện KTTT, với ý nghĩa những lệch chuẩn ĐĐCV biểu hiện ra trong điều kiệnKTTT như thế nào, nặng nề hơn so với thời kỳ bao cấp ra sao, gây thiệt hại vềkinh tế - xã hội như thế nào, chứ không nghiên cứu theo chiều hướng sự tác độngcủa KTTT gây lệch chuẩn ĐĐCV Sự lệch chuẩn ĐĐCV là trung tâm nghiên cứucủa chúng tôi, nhưng sự lệch chuẩn ĐĐCV chỉ được xét trong điều kiện KTTT Kinh tế thị trường không phải là chủ thể nghiên cứu, mà chỉ là phạm vi nghiêncứu, tuy nhiên những đặc điểm, mối liên hệ giữa nền KTTT ở Việt Nam, và từnăm 2001 được Đảng ta gọi là nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa cũng
được đề cập đến, để làm rõ hơn sự lệch chuẩn ĐĐCV
Trang 20Cũng với chủ đề này, tác giả Nguyễn Tiến Hiệp có bài viết “Những yếu tố
tác động đến ĐĐCV ở nước ta hiện nay” [47] Tác giả nêu lên mười một yếu tố
tác động đến ĐĐCV và mười đề xuất nhằm nâng cao ĐĐCV ở nước ta hiện nay Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐĐCV có thể kể đến như nền KTTT, tâm lý xã hội,
dư luận xã hội, bản thân cán bộ công chức, sự tác động của gia đình
Bài “Nâng cao ĐĐCV cho đội ngũ công chức hiện nay” của tác giả Trần
Sỹ Phán [96] đã nêu lên yêu cầu cấp thiết của việc nâng cao ĐĐCV cho đội ngũcông chức và đề xuất các giải pháp nâng cao ĐĐCV cho đội ngũ công chức ởViệt Nam hiện nay Công trình này là tài liệu cho tác giả tham khảo phần thựctrạng và đề xuất các giải pháp khắc phục lệch chuẩn ĐĐCV Bài viết chú trọngcung cấp các giải pháp để nâng cao ĐĐCV của đội ngũ công chức, cũng là tàiliệu tham khảo cho chúng tôi trong việc đề xuất các giải pháp ngăn chặn, khắcphục sự lệch chuẩn ĐĐCV
Cùng góc độ nghiên cứu với bài viết trên, bài “Đạo đức công vụ và một số
giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ĐĐCV cho CB, CC nước ta hiện nay” của tác
giả Vũ Văn Điệp [35], đưa ra quan niệm về công chức, công vụ, ĐĐCV và cácgiải pháp cơ bản nhằm nâng cao ĐĐCV cho CB, CC nước ta hiện nay Hai bàiviết này đã cung cấp những cơ sở lý luận, để từ đó chúng tôi tham khảo khi đề
xuất các giải pháp ngăn chặn, hạn chế, khắc phục sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một
bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, chúng
tôi cho rằng có sự khác biệt giữa các giải pháp nâng cao ĐĐCV của CB, CC với
giải pháp ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục sự lệch chuẩn ĐĐCV Giải pháp nângcao ĐĐCV có tính bao quát hơn so với giải pháp ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục
sự lệch chuẩn ĐĐCV
Công trình “Đạo đức công vụ của đội ngũ CB, CC Việt Nam hiện nay
-Thực trạng và giải pháp” của tác giả Hồ Trọng Hoài và cộng sự [55] là một
công trình công phu trong việc trình bày lý luận về ĐĐCV, chỉ ra các nguyênnhân gây biến đổi ĐĐCV và đề xuất những giải pháp khắc phục các nguyênnhân đó Đây là công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, với nhiều kiến giải cósức thuyết phục Tuy các tác giả không đi sâu nghiên cứu sự lệch chuẩn ĐĐCVnhưng chúng tôi coi đây là tài liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu của
Trang 21chúng tôi Các công trình khoa học cấp Bộ khác như:“Đạo đức công vụ của đội
ngũ CB, CC ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp” của Bùi Thị Long
[69], “Cơ sở khoa học nâng cao ĐĐCV của CB, CC ở Việt Nam hiện nay” của
Trần Thị Hạnh [43] đã cung cấp rất nhiều lý luận về ĐĐCV, thực trạng và giảipháp nâng cao ĐĐCV ở Việt Nam hiện nay
Luận án “Giáo dục ĐĐCV cho học viên trường Chính trị cấp tỉnh khu vực
miền núi phía Bắc” của Hứa Thị Kiều Hoa [52] gồm ba chương, trong đó, phần
1 “Cơ sở lý luận của giáo dục ĐĐCV cho học viên trong quá trình đào tạo và bồidưỡng ở trường Chính trị cấp tỉnh” trình bày một số khái niệm cơ bản, cũng như cácyếu tố cơ bản cấu thành ĐĐCV, các yếu tố ảnh hưởng đến ĐĐCV, nội dung giáodục ĐĐCV Đây là những vấn đề lý luận có liên quan đến luận án của chúng tôi Tuy nhiên, ở đây, tác giả luận án tập trung làm rõ vấn đề giáo dục ĐĐCV
Cuốn “Đạo đức công vụ trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Trần Thị Thu Hường [61] đã đề cập đến ĐĐCV
ở cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn Tác giả làm rõ các khái niệm công vụ,
ĐĐCV, thực trạng ĐĐCV của CB, CC hiện nay và các giải pháp nâng cao ĐĐCV Đây là công trình công phu, mới mẻ về ĐĐCV trong những năm gần đây, là tài liệutham khảo cho tác giả trong quá trình nghiên cứu phần lý luận ĐĐCV
Thứ ba, các công trình nghiên cứu đến CMĐĐCV
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, vấn đề ĐĐCV có rất
nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng các công trình nghiên cứu về CMĐĐCV thì hạnchế hơn Trong nỗ lực tìm kiếm tài liệu để tổng quan, chúng tôi xin liệt kê cáccông trình tiêu biểu sau đây:
Bài “Vài nét về ĐĐCV của CB, CC” của Nguyễn Tiến Trung [119], tác
giả khẳng định vai trò to lớn của CMĐĐCV Tác giả chỉ ra, CMĐĐCV của CB,
CC Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước ta coi là cái gốc của đội
ngũ CB, CC, và được gói gọn trong bốn chữ “cần”, kiệm”, “liêm”, “chính”, suyrộng ra là “nhân, nghĩa, liêm, trí, dũng, tín” Tác giả đã khái quát những chuẩnmực cơ bản mà bất cứ CB, CC nào cũng cần có, không phân biệt đó là cán bộ
chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược hay CB, CC không giữ vị trí lãnh đạo Điều nàyhoàn toàn phù hợp với đối tượng nghiên cứu trong đề tài của chúng tôi Chúng
Trang 22tôi chủ ý đề ra các chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất của CB, CC để làm căn cứcho việc xác định sự lệch chuẩn ĐĐCV của CB, CC
Bài “Từ lời dạy của Bác đến chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp” của Hoàng
Chí Bảo [8], tác giả bài viết cho rằng, trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của
CB, CC, phải có nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Những bài nói, bàiviết của Người về đạo đức người CB, CC là cơ sở cho các chuẩn mực đạo đứccủa người CB, CC trong quá trình thực thi công vụ Chúng tôi côi coi đây là mộtbài viết có ý nghĩa thiết thực với đề tài nghiên cứu của mình
Trong bài “Văn hóa chính trị xã hội chủ nghĩa với ĐĐCV trong nền
KTTT” của tác giả Đặng Khắc Ánh [1] đã nêu ra sáu chuẩn mực của ĐĐCV ở
nước ta hiện nay đó là: tôn trọng pháp luật; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vôtư; có tinh thần phục vụ nhân dân và xã hội; có tinh thần chấp hành pháp luật vàtinh thần sáng tạo trong thi hành công vụ; có ý chí cầu tiến bộ, luôn phấn đấutrong công việc; có tinh thần thân ái, hợp tác với đồng nghiệp Rõ ràng, đây lànhững chuẩn mực cơ bản của người CB, CC, thể hiện yêu cầu của hoạt động
công vụ: phục vụ nhân dân, chấp hành pháp luật, có phẩm chất đạo đức cách
mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hợp tác với cá nhân, tổ chức liên quan để
hoàn thành nhiệm vụ Chúng tôi đồng ý với các quan điểm trên đây, coi đây là
cơ sở để chúng tôi nghiên cứu về CMĐĐCV
Bài, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công chức và phẩm chất của
người lãnh đạo” của Trương Quỳnh Hoa [51], trong bài viết này, tác giả nêu ra
bốn CMĐĐCV theo tư tưởng Hồ Chí Minh: tuyệt đối trung thành với sự nghiệpcách mạng; thành thạo công việc; phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân; dámphụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm Bốn CMĐĐCV này được cụ thểhóa thành năm phẩm chất của CB, CC lãnh đạo: một là: cần, kiệm, liêm, chính, chícông vô tư; hai là, tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc; ba là, chấp hành
kỷ luật và có tinh thần sáng tạo trong công việc; bốn là, có ý chí cầu tiến bộ; năm
là, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp trong thực thi công việc
Cuốn “Đạo đức công vụ của CB, CC, viên chức hiện nay” của tác giả Thân
Minh Quế [103] đề cập đến các chuẩn mực cơ bản của đạo đức công chức ViệtNam, bao gồm: trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
Trang 23tư, có trách nhiệm cao với công việc và tinh thần làm việc đúng mực; giữ vữngtính nguyên tắc và tuyệt đối chấp hành kỷ luật; có tinh thần hợp tác với đồngnghiệp và những người có liên quan trong thực thi công vụ; làm việc với tinhthần sáng tạo Đây là tài liệu tham lkhaor cho chúng tôi trong việc xây dựng lýluận về chuẩn mực đạo đức
Bài “Xây dựng và thực hiện CMĐĐCV ở nước ta hiện nay” của tác giả
Nguyễn Minh Tuấn [122], tác giả nêu lên kết cấu của CMĐĐCV bao gồm:chuẩn mực đạo đức xã hội nói chung, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viênnói riêng và chuẩn mực đạo đức của từng ngành nghề Đồng thời, tác giả chorằng, ĐĐCV ở Việt Nam có đặc thù riêng là phản ánh bản chất Nhà nước, là Nhànước của dân, do dân, vì dân được quy định ở nhiều văn bản pháp luật Trên cơ
sở đó, tác giả đã tập trung phân tích việc xây dựng CMĐĐCV ở nước ta hiện nay
và đề xuất các giải pháp cơ bản để CB, CC thực hiện tốt những CMĐĐCV Đâycũng là tài liệu hữu ích cho đề tài luận án của chúng tôi, chúng tôi đồng quanđiểm với tác giả về kết cấu CMĐĐCV Điều này có cơ sở từ đặc điểm của
ĐĐCV, ĐĐCV là một dạng đạo đức xã hội, là một dạng đạo đức nghề nghiệp vàmột bộ phận của đạo đức cách mạng
Trong cuốn “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” của Ngô Thành
Can [12] nêu lên sáu chuẩn mực cơ bản của đạo đức công chức Việt Nam, baogồm: thứ nhất, Trung với nước, Hiếu với dân; thứ hai, cần, kiệm, liêm, chính, chícông vô tư; thứ ba, có trách nhiệm cao với công việc và tinh thần thái độ làmviệc đúng mực; thứ tư, giữ vững tính nguyên tắc và tuyệt đối chấp hành kỷ luật;thứ năm, có tinh thần hợp tác trong thực thi công vụ; thứ sáu, làm việc với tinhthần sáng tạo [12, tr 290-302] Đây là công trình nghiên cứu công phu, đem lạicho chúng tôi những cơ sở lý luận về lĩnh vực nghiên cứu
1 1 2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến sự lệch chuẩn đạo đức công vụ, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với sự lệch chuẩn đạo đức công vụ
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu liên quan đến sự lệch chuẩn ĐĐCV
Vấn đề lệch chuẩn ĐĐCV được các tác giả nghiên cứu thông qua các cấp
độ lệch chuẩn với nhiều thuật ngữ khác nhau như suy thoái đạo đức, vi phạm đạo
Trang 24đức, xuống cấp đạo đức và với nhiều biểu hiện cụ thể như tham nhũng, mất dânchủ, chủ nghĩa hình thức
Bài “Cơ chế, chuẩn mực đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức cá
nhân” của tác giả Đỗ Huy [59], tác giả phân tích sự lệch chuẩn đạo đức trong
nhiều thời kỳ phát triển của đất nước Trong cơ chế quan liêu, bao cấp tạo ranhiều hiện tượng tiêu cực về đạo đức Cũng từ đó, trong lĩnh vực nông nghiệpxuất hiện hiện tượng “khoán chui”, buộc nhà nước phải dỡ bỏ bao cấp, chuyểnsang “khoán 10” rồi “khoán 100” Hiện tượng này được coi là lệch chuẩn đạođức trong cơ chế bao cấp, nhưng tác giả gọi đây là lệch chuẩn trưởng thành Khiđất nước chuyển sang cơ chế thị trường, cũng có nhiều sự biến động của chuẩnmực đạo đức Tác giả cho rằng: “các chuẩn mực cũ mất đi, các chuẩn mực mới
ra đời, song nhiều chuẩn mực đã trở nên lạc hậu và không ít sự lệch chuẩn đãxuất hiện trong đời sống đạo đức Trong các sự lệch chuẩn ấy, có sự lệch chuẩnkhông đúng đắn, có sự lệch chuẩn trưởng thành, một số lĩnh vực các chuẩn còn
mờ nhạt hoặc rơi vào vô chuẩn” [59, tr 26] Do đó, theo tác giả, cần phải giáodục việc nhận diện các quan hệ đạo đức Tác giả nêu ra hai hướng của thực trạnglệch chuẩn ĐĐCV: một là lệch chuẩn theo hướng suy thoái đạo đức, hai là lệchchuẩn theo hướng tích cực Như vậy, bài biết cho thấy cách nghiên cứu lệchchuẩn đạo đức rộng, đa chiều của tác giả Chúng tôi coi đây là một tài liệu thamkhảo phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình
Bàn sâu hơn về biểu hiện suy thoái đạo đức, tác giả Nguyễn Quốc Sửu có
bài “Về tham nhũng và ĐĐCV” [111] Tác giả cho rằng, tham nhũng là một hiện
tượng gắn liền với quyền lực công và việc sử dụng các nguồn lực công Thamnhũng và ĐĐCV có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau, ĐĐCV xuống cấp thì thamnhũng phát triển và ngược lại Tác giả cũng coi thực trạng tham nhũng là sự biếnchất của ĐĐCV Như vậy, tác giả phân tích một biểu hiện cụ thể của sự lệchchuẩn ĐĐCV và coi đây là một biểu hiện điển hình, đã tồn tại lâu dài trong xãhội Từ nhận định: sự xuống cấp, suy thoái ĐĐCV là nguyên nhân chủ yếu vàtrực tiếp gây ra tham nhũng, tác giả đề xuất các giải pháp chống tham nhũng,nâng cao ĐĐCV, bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh công tácgiáo dục ĐĐCV, thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật Chúng tôi coi đây là
Trang 25tài liệu tham khảo về một trong những biểu hiện sự lệch chuẩn ĐĐCV, do chúngtôi nghiên cứu
Bài “Đạo đức công chức trong nền công vụ ở nước ta hiện nay” của Lý Thị
Huệ, Đặng Văn Luận [57] đã phân tích bốn biểu hiện suy thoái đạo đức của côngchức, đó là: tham nhũng; bệnh “chạy chọt”; bệnh quan liêu, vô cảm; bệnh lãngphí Những biểu hiện này cho thấy CB, CC đã vi phạm đạo đức cách mạng,không thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong thực thi công vụ Tác giả khẳngđịnh, cần phải nâng cao hiệu quả của giáo dục ĐĐCV cho CB, CC ở nước tahiện nay
Bài “Xây dựng ĐĐCV theo chuẩn mực đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh”
của tác giả Nguyễn Duy Hạnh [42], tác giả nêu lên những biểu hiện lệch chuẩnĐĐCV như: sự yếu kém, hạn chế về phẩm chất đạo đức của đội ngũ CB, CC nhưtham nhũng, lãng phí, thái độ phục vụ nhân dân của CB, CC chưa cao, “không ít
CB, CC giải quyết công việc cho dân còn mang nặng dấu ấn của quan hệ cai trịkiểu cũ, tức là quan hệ thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng đối với công dân và tổchức, tình trạng nội bộ mất đoàn kết, có biểu hiện bè phái ” [42, tr 26]
Với bài “Mối quan hệ giữa ĐĐCV với dân chủ xã hội chủ nghĩa” của tác
giả Nguyễn Tiến Hiệp [48] cho rằng, khi dân chủ được thực thi nghiêm chỉnh thì
sẽ kịp thời phát hiện những yếu kém, lệch lạc, sai phạm của CB, CC, đồng thờitạo ra dư luận xã hội để lên án sự sai lệch, vi phạm pháp luật hoặc suy thoáiĐĐCV Ngược lại, nếu chỉ là dân chủ giả hiệu sẽ dẫn đến tình trạng ĐĐCV bịsuy giảm
Bài “Sự lệch chuẩn hành vi trong thực thi công vụ của CB, CC” của tác giả
Ngô Thành Can [11] đề cập sâu đến lệch chuẩn ở góc độ lệch chuẩn hành vi Theo tác giả, hành vi hợp chuẩn hay lệch chuẩn của con người là do là nhữnghành vi phù hợp hay không phù hợp với môi trường, với yêu cầu chung của tổchức, cộng đồng, xã hội Hành vi lệch chuẩn gồm hai loại: thứ nhất, lệch chuẩnthụ động, cá nhân có sai lệch do nhận thức chưa đầy đủ, nhận thức sai các chuẩnmực đạo đức; thứ hai, lệch chuẩn chủ động, cá nhân cố ý làm khác so với ngườikhác Tác giả phân tích bốn nguyên nhân dẫn đến lệch chuẩn hành vi của CB,
CC là: do cá nhân nhận thức sai các chuẩn mực; do quan điểm riêng nên các
Trang 26nhân không chấp nhận những chuẩn mực chung; do cá nhân cố tình vi phạm cácchuẩn mực; do sự biến dạng của các chuẩn mực không còn phù hợp với điềukiện xã hội, lịch sử cụ thể Từ đó, tác giả nêu lên hậu quả của lệch chuẩn hành vicủa CB, CC Sự lệch chuẩn hành vi của CB, CC dẫn đến tình trạng vi phạm phápluật; tham ô lãng phí, tham nhũng, gây mất lòng tin của nhân dân vào công vụ; viphạm chuẩn đạo đức, ảnh hưởng đến công việc, chất lượng hiệu quả thực thicông vụ
Trong bài “Sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận công chức Việt Nam hiện
nay” của tác giả Trần Sỹ Phán [97] cho rằng, lệch chuẩn ĐĐCV - tức là sai lệch
với các chuẩn mực ý thức và chuẩn mực hành vi cũng như quan hệ ĐĐCV - cái
đã trở thành khuôn mẫu, mực thước để xem xét, đánh giá và điều chỉnh ý thứccũng như hành vi đạo đức của đội ngũ công chức trong việc thực thi công vụ Nói cách khác, lệch chuẩn ĐĐCV là sự sai lệch, chệch hướng về ý thức, hành vi,quan hệ đạo đức của người công chức so với các CMĐĐCV đã được xác định
Trong cuốn “Vấn đề suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên từ Đại hội VI
đến Đại hội XII” của tác giả Trần Sỹ Dương [22] đã phân tích nguyên nhân
khách quan và chủ quan của sự suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên Trongnguyên nhân khách quan, tác giả nhấn mạnh đến sự tác động của nền KTTT đếnđạo đức của cán bộ, đảng viên Bài viết là tài liệu phù hợp cho chúng tôi trong quátrình nghiên cứu và luận giả về các yếu tố tác động đến sự lệch chuẩn ĐĐCV
Bài “Nhận diện về suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên - Những yếu tố
tác động và giải pháp phòng ngừa” của tác giả Nguyễn Chí Mỳ [92] đã chỉ ra
các biểu hiện suy thoái của đạo đức trong cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là quanliêu, tham nhũng, lãng phí Từ đó, tác giả cũng nêu ra các yếu tố tác động vàcác giải pháp chủ yếu phòng ngừa suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên
Thứ hai, các công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa KTTT và sự lệch
chuẩn ĐĐCV
Bài “Sự thay đổi chuẩn mực đạo đức từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang
nền KTTT” của tác giả Vũ Văn Gầu [38] đề cập đến đạo đức, chuẩn mực đạo
đức, một số nhận xét về sự thay đổi chuẩn mực đạo đức trong nền KTTT Tácgiả cho rằng, KTTT làm biến đổi các CMĐĐCV theo hai hướng, tích cực và tiêu
Trang 27cực Về sự biến đổi theo hướng tích cực, nền KTTT làm biến đổi các chuẩn mựcthiện, ác…cái thiện đã được bổ sung những cái mới cả về nội dung và hình thứccủa nó, cái thiện mang ý nghĩa thiết thực, cụ thể và sâu sắc hơn Chẳng hạn,
“kinh tế thị trương đề cao chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến chủ nghĩa trách nhiệm cánhân, đó là chuẩn mực đạo đức của người cán bộ quản lý, trách nhiệm đượcđánh giá thông qua hiệu quả công tác quản lý, nó khắc phục được cách xem xétđánh giá tinh thần chung chung trừu tượng” Về sự biến đổi tiêu cực, “nền kinh
tế lấy lợi ích (nhấn mạnh lợi ích kinh tế, coi trọng lợi ích cá nhân), vì lợi ích cánhân là động lực, một chất men kích thích mà không ít cán bộ quản lý kinh tế
“lao vào” bất chấp thủ đoạn, bất chấp pháp luật, bất chấp lương tâm, nảy sinhchủ nghãi cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ cực đoan…” [38, tr 32-33] Đây là nhữngphân tích sâu sắc về thay đổi của ĐĐCV do sự thay đổi cơ chế kinh tế, cũng làtài liệu cho chúng tôi tham khảo, so sánh lệch chuẩn ĐĐCV (gây cản trở sự pháttriển đạo đức xã hội, cản trở sự tiến bộ xã hội) trong điều kiện chuyển từ nềnkinh tế tập trung, bao cấp sang nền KTTT
Bài “Lợi ích và đạo đức trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay” của
Nguyễn Trọng Chuẩn [17] phân tích thực trạng lệch chuẩn ĐĐCV ở Việt Nam Tác giả bài viết cho rằng, Việt Nam vẫn chưa dứt bỏ hoàn toàn được di sản củathời kinh tế tập trung, bao cấp, đặc biệt là cơ chế xin - cho, quan hệ thân quen Tác giả phân tích rất sâu sắc rằng: “không nên chỉ nhìn vào những gì tiêu cực đểhoài niệm về một thời kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, cái thời mà lợiích các nhân bị xếp ở hàng cuối cùng trong hệ thống các lợi ích Tuy nhiên, cũngkhông nên quá thờ ơ với những tiêu cực đang hiện hữu trước mắt chúng ta, càngkhông nên giữ quan niệm cho rằng những tiêu cực đó sẽ mất đi khi KTTT pháttriển” [17, tr 17]
Trong bài “Biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta trước
tác động của nền KTTT” của Trần Văn Bính [9], ngoài việc phân tích lệch chuẩn
đạo đức nói chung trong xã hội, tác giả chỉ ra những lệch chuẩn của cán bộ, đảngviên Tác giả sử dụng thuật ngữ “suy thoái” và cho rằng: “Cố nhiên, đối với cán
bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền, thì sự suy thoái về đạođức còn có những biểu hiện tha hóa riêng” [9, tr 64] Tác giả chỉ ra biểu hiện tha
Trang 28hóa riêng là: tệ quan liêu, thói đam mê quyền lực, thói hách dịch, tham nhũng,hối lộ, hủ hóa, lời nói không đi đôi với việc làm, thiếu trung thực với người khác
và với chính mình Sự suy thoái, sự tha hóa đạo đức của cán bộ, đảng viên màtác giả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quý báu cho chúng tôi trong quá trìnhnghiên cứu luận án
Tác giả bài viết “Tha hóa đạo đức trong điều kiện KTTT ở Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền [60] phân tích biểu hiện của sự tha hóa đạođức là quan hệ con người bị thao túng bởi đồng tiền, là sự phổ biến của lối sốngthực dụng, không tình nghĩa, tôn thờ đồng tiền, bất chấp đạo lý, nhiều lĩnh vựccủa xã hội bị “thương mại hóa” - theo nghĩa xấu là sự tha hóa đạo đức xã hội Biểu hiện sự tha hóa đạo đức là chủ nghĩa các nhân vị kỷ Tác giả cho rằng, “một
bộ phận không nhỏ CB, CC có chức quyền đã rơi vào tình trạng tha hóa về đạođức, họ lợi dụng chức quyền để mưu lợi ích riêng” [60, tr 54] Biểu hiện trực tiếpnhất của tình trạng tha hóa đạo đức của một bộ phận CB, CC là “quan liêu, xadân, hống hách, sách nhiễu nhân dân, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, lảngtránh trách nhiệm mà mình phụ trách, lợi dụng quyền lực để tham nhũng, là lốisống cơ hội, chạy chức, chạy quyền, chạy danh, chạy lợi ” [60, tr 55] Tất cảnhững sự tha hóa này phần lớn do mặt trái của nền KTTT tác động
Bài “Quan hệ giữa KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với ĐĐCV” của
Nguyễn Tiến Hiệp [49] phân tích sự tác động qua lại giữa nền KTTT định hướng
xã hội chủ nghĩa và đạo đức của CB, CC Tác giả Nguyễn Tiến Hiệp cho rằng,
sự tác động qua lại này thể hiện ở chỗ chúng vừa thúc đẩy, hỗ trợ lẫn cản trở,kìm hãm, “giữa nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với đạo đức của CB, CC
ở Việt Nam luôn có mối quan hệ mật thiết, giữa chúng có mối quan hệ tác độngqua lại lẫn nhau (cả hỗ trợ, thúc đẩy lẫn cản trở, kìm hãm)” [49, tr 39] NềnKTTT định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra những vấn đề hoàn toàn mới đối vớiđạo đức của CB, CC Ngược lại, đạo đức của CB, CC là một trong những điềukiện cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của nền KTTT định hướng xã hội chủnghĩa Tác giả nêu lên thực trạng có không ít CB, CC “có những hoạt độngkhông phù hợp với ĐĐCV như: Ban hành văn bản để đặt ra những quy địnhphiến diện, cục bộ; chỉ vì lợi ích kinh tế mà cho triển khai thực hiện những dự án
Trang 29gây hại nghiêm trọng cho môi trường sống; vận động các chủ trương, chính sáchmột cách tùy tiện để duy trì sự “ưu ái” đối với các doanh nghiệp nhà nước” [49,
tr 40] Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu ra bảy đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiệnĐĐCV trong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, có thể kể đến nhưhoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý kinh tế, tiếp tục cải cách bộ máy, đẩymạnh công tác thanh tra, kiểm tra Công trình nghiên cứu có nhiều đóng gópsâu về mặt lý luận về quan hệ giữa KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưngchưa làm rõ các nội dung của ĐĐCV Tuy vậy, tài liệu này đã gợi mở cho tác giảnhững vấn đề trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nền KTTT định hướng xãhội chủ nghĩa và ĐĐCV
1 2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
1 2 1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Thực tiễn của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta cho thấy sự sự tácđộng hết sức sâu sắc của nền KTTT đến ĐĐCV Do đó, đã có không ít côngtrình nghiên cứu về vấn đề này
Tác giả Trần Văn Bính có bài “Biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội
ở nước ta trước tác động của nền KTTT” [9] Tác giả cho rằng: “Để hình những
chuẩn mực đạo đức và lối sống tốt đẹp, đòi hỏi một thời gian khá dài, có khi phảivài ba thế hệ Nhưng để phá bỏ những chuẩn mực có giá trị và thay vào đó
những phản giá trị thì chỉ cần một thời gian rất ngắn” [9, tr 61] Tác giả khẳngđịnh, nói đến những biến đổi, biến động trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ởnước ta hiện nay thực ra là bàn về tác động của KTTT đối với đạo đức xã hội
Bài “Về tham nhũng và ĐĐCV” của tác giả Nguyễn Quốc Sửu [111] đã
phân tích mối quan hệ giữa trách nhiệm và ĐĐCV ở Việt Nam hiện nay, coi đây
là hai vấn đề đang được xã hội quan tâm và có mối quan hệ theo tỷ lệ nghịch:
“ĐĐCV xuống cấp thì tham nhũng phát triển và ngược lại” [111, tr 19] Tác giả
Trang 30đã nêu ra một số vụ điển hình về tham nhũng minh chứng cho thực trạng, đó làtham nhũng đất công ở Hải Phòng, dự án Quán Nam, Hải Phòng, vụ bê bối đề án
112 Đề án tin học hóa cải cách hành chính, vụ “rút ruột” công trình Tượng đàiChiến thắng Điện Biên Phủ, vụ Vinashin để lại món nợ 80 ngàn tỷ đồng choquốc gia Đây là bài viết phản ánh khá rõ thực trạng lệch chuẩn ĐĐCV
Thực trạng tham nhũng cũng được tác giả Cao Minh Công phân tích và
minh chứng cụ thể trong công trình “Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức
ở nước ta hiện nay” [20]: “Thiệt hại do tham nhũng gây ra tính từ tháng 8/2010
đến hết tháng 7/2011 lên tới 11 400 tỷ đồng, trong đó tội tham ô chiếm 50% số
vụ và 45% số bị can, tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản trên15% số vụ và 13% bị can ” [20, tr 108] Như vậy, những minh chứng trên chothấy, thực trạng suy thoái ĐĐCV đã gây thiệt hại về kinh tế - xã hội rất lớn, ảnhhưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và Nhà nước
Bài “Đạo đức công chức trong nền công vụ ở nước ta hiện nay” của Lý Thị
Huệ, Đặng Văn Luận [57] nêu lên thực trạng suy thoái đạo đức của công chức
mà trước hết là tham nhũng, nói chính xác hơn là tham nhũng “vặt” Các tác giảchỉ ra đây là một biểu hiện của tình trạng suy thoái ĐĐCV trước tác động củanền KTTT, đòi hỏi phải có những biện pháp ngăn ngừa, khắc phục hiệu quảnhằm nâng cao uy tín của đội ngũ CB, CC và hiệu quả của hoạt động công vụ
Cuốn “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” của Ngô Thành Can
[12] đề cập đến thực trạng đạo đức công chức trong thực thi công vụ cả mặt tíchcực và mặt hạn chế Về mặt hạn chế, các tác giả viết: “Đôi khi công chức chưalấy việc phục vụ nhân dân làm thước đo chủ yếu nhất cho mức độ và kết quảthực thi công vụ của mình Chính điều này dẫn tới tình trạng quan liêu, sáchnhiễu, gây phiền hà đối với nhân dân, lợi dụng quyền hạn, chức trách mà nhândân ủy thác để tham nhũng, làm biến dạng những chuẩn giá trị của người côngchức - phục vụ nhân dân” [12, tr 208] Các tác giả đi sâu phân tích tình trạngtham nhũng của CB, CC, coi đó là “biểu hiện tổng hợp của sự tha hóa về đạođức, vừa thể hiện sự bất lương, vô cảm, vô trách nhiệm và thói đạo đức giả” và
“điều đáng lo ngại nhất là tệ tham nhũng diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, từTrung ương đến địa phương và thậm chí ở ngay các cơ quan thực thi pháp luật”
Trang 31[12, tr 209] Những quan điểm này cho thấy, các tác giả đã đánh giá mức độ lệchchuẩn ĐĐCV đã ở mức cao, mức tha hóa đạo đức
1 2 2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp khắc phục lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay
Từ thực tế sự lệch chuẩn ĐĐCV hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiềubiện pháp để khắc phục lệch chuẩn và nâng cao ĐĐCV cho CB, CC Bên cạnh
đó, về mặt lý luận, có nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp khắcphục sự lệch chuẩn ĐĐCV Có thể kể đến các công trình sau đây:
Các tác giả bài “Đạo đức công vụ trong nền công vụ ở nước ta hiện nay” của
Lý Thị Huệ, Đặng Văn Luận [57] cho rằng, để khắc phục những biểu hiện suy thoáitrên của CB, CC, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp: thứ nhất, phải giáo dục,bồi dưỡng đạo đức cho công chức; thứ hai, tiếp tục xây dựng các chuẩn mực đạođức công chức; thứ ba, chú trọng chủ thể quản lý nhà nước về vai trò, nhiệm vụ của
CB, CC, cách thức đào tạo tuyển dụng công chức Đây cũng là tài liệu mà tác giảcho rằng cần thiết để tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án
Bài “Về tham nhũng và ĐĐCV” của tác giả Nguyễn Quốc Sửu [111] đã nêu
lên một số nhóm giải pháp nâng cao ĐĐCV hiện nay: thứ nhất, hoàn thiện hệ
thống pháp luật, chính sách; thứ hai, đẩy mạnh công tác giáo dục ĐĐCV, thứ ba,công tác khen thưởng và kỷ luật Công trình nghiên cứu này đã đề cập cụ thể vềmột biểu hiện của suy thoái ĐĐCV, đó là tham nhũng Đây cũng là tài liệu thamkhảo giúp cho tác giả luận án tham khảo trong việc phân tích biểu hiện của sựlệch chuẩn ĐĐCV
Trong bài “Những yếu tố tác động đến ĐĐCV ở nước ta hiện nay” của tác
giả Nguyễn Tiến Hiệp [47] đề xuất mười giải pháp nhằm nâng cao ĐĐCV ở
nước ta hiện nay: hoàn thiện quy định về ĐĐCV; đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính; hoàn thiện cơ chế quản lý; thực hiện chủ trương tinh giản biên chế;cải cách chế độ tiền lương; đẩy mạnh giáo dục ĐĐCV; dân chủ hóa hoạt độngcông quyền; đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, giám sát; tạo hành lang pháp lý choviệc cung cấp thông tin về hành vi vi phạm ĐĐCV; đẩy mạnh phong trào học tậptấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Trên cơ sở các yếu tố tác động, bài viết nàynêu ra khá đầy đủ các giải pháp để nâng cao ĐĐCV
Trang 32Đề cập đến giải pháp nâng cao ĐĐCV ở phạm vi hẹp hơn, trong bài “Mối
quan hệ giữa ĐĐCV với dân chủ xã hội chủ nghĩa” của tác giả Nguyễn Tiến
Hiệp [48] nêu lên một số giải pháp để nâng cao ĐĐCV gắn với dân chủ xã hộichủ nghĩa là: tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tự do, dân chủ củanhân dân; sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật nhằm hạn chế kẻ hở trongpháp luật; đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra công vụ
Trong bài “Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong công vụ”, tác giả
Nguyễn Tiến Hiệp [50] đề xuất một số giải pháp để kết hợp thật sự có hiệu quảgiữa đạo đức và pháp luật trong điều chỉnh công vụ ở nước ta hiện nay Các giảipháp đó là: thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật công vụ, hạn chếmức thấp nhất kẽ hở trong pháp luật; thứ hai, xóa cơ chế xin cho trong quản lýnhà nước, minh bạch trong quản lý kinh tế, quản lý công sản; thứ ba, mở rộngdân chủ; thứ tư, xử lý kịp thời mọi vi phạm pháp luật chung, nâng cao năng lựclãnh đạo của Đảng; thứ năm, tạo cơ chế kiểm soát thu nhập của cán bộ côngchức, đổi mới về chế độ tiền lương của CB, CC
Tác giả bài “Văn hóa chính trị xã hội chủ nghĩa với ĐĐCV trong nền
KTTT” của Đặng Khắc Ánh [1] cho rằng, trong số các yếu tố ảnh hưởng đến
ĐĐCV, văn hóa chính trị là yếu tố có vai trò rất quan trọng Đồng thời, tác giả
đề ra năm giải pháp để nâng cao chất lượng ĐĐCV trong bối cảnh KTTT: một
là, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho độingũ cán bộ, đảng viên; hai là, nâng cao chất lượng các quy phạm pháp luật vềĐĐCV; ba là, đổi mới và cải cách công tác quản lý CB, CC ở tất cả các khâu;bốn là, tăng cường khả năng kiểm soát đối với hoạt động công vụ của CB, CC;năm là, thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng đối với CB, CC
Bài “Quan hệ giữa KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với ĐĐCV” của
Nguyễn Tiến Hiệp [49] đã nêu sự tác động qua lại giữa nền KTTT định hướng
xã hội chủ nghĩa và đạo đức của CB, CC ở Việt Nam hiện nay theo cả hai chiềuhướng hỗ trợ, thúc đẩy và cản trở, kìm hãm Từ các phân tích về các chiều
hướng này, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện ĐĐCVtrong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa như: hoàn thiện hệ thốngpháp luật về quản lý kinh tế; tiếp tục cải cách bộ máy; đẩy mạnh công tác kiểm
Trang 33tra, thanh tra; lựa chọn, sử dụng đúng người tài vào các vị trí quản lý kinh doanh
và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thừa hành Các nội dungtrên đây đều có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận trong quá trình tác giả nghiêncứu đề tài
Việc đề xuất các giải pháp xây dựng nâng cao ĐĐCV theo tư tưởng đạođức Hồ Chí Minh đã có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Tác giả Bùi Đình Phong nêu lên sự cần thiết phải thực hành ĐĐCV trong
bài “Thực hành ĐĐCV theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [98] Đồng thời tác giả nêu
lên ba nội dung là: thứ nhất, nâng cao ý thức trách nhiệm của CB, CC đối vớinhân dân; thứ hai, nắm vững đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của nhànước; thứ ba, phải thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu
Với bài “Xây dựng ĐĐCV theo chuẩn mực đạo đức cách mạng Hồ Chí
Minh” của tác giả Nguyễn Duy Hạnh [42] tập trung làm rõ các giải pháp để nâng
cao chất lượng ĐĐCV của CB, CC gắn với việc vận dụng sáng tạo tư tưởng vềđạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: thứ nhất, nâng cao năng lực,phẩm chất đội ngũ CB, CC; thứ hai, xây dựng CMĐĐCV mới theo tư tưởng đạođức cách mạng Hồ Chí Minh, thứ ba, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chốngtham nhũng, lãng phí; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật đối với cáctrường hợp vi phạm Bài viết này góp phần xây dựng chuẩn ĐĐCV của CB, CClàm căn cứ xây dựng tiêu chí lệch chuẩn đạo đức của một bộ phận CB, CC ởnước ta hiện nay
Trong bài “Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng và thực
hành ĐĐCV tại Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương” của tác giả Trần Hồng
Hà [40] nêu lên năm nội dung chủ yếu để tập trung thống nhất thực hành ĐĐCVtrong toàn Đảng bộ Khối các cơ quan trung ương, đó là: thứ nhất, tổ chức họctập chuyên đề, hội nghị, hội thảo, hội thi, tọa đàm về ĐĐCV; thứ hai, chi bộ lànền tảng để cán bộ, đảng viên thực hiện, việc học tập, làm theo tư tưởng Hồ ChíMinh về ĐĐCV; thứ ba, xây dựng và thực hiện chuẩn mực theo tư tưởng, tấmgương, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơquan, đơn vị, hướng vào trọng tâm là ĐĐCV; thứ tư, đẩy mạnh thực hiện tráchnhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên Đảng bộ Khối, nhất là cán bộ lãnh đạo
Trang 34chủ chốt; thứ năm, gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh với những công việc hàng ngày của CB, CC
Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng ĐĐCV, xâydựng CMĐĐCV, nâng cao ĐĐCV
Trong bài “Đạo đức công vụ và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
ĐĐCV cho CB, CC nước ta hiện nay” của tác giả Vũ Văn Điệp [35] đã đưa ra
một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ĐĐCV cho CB, CC nước ta hiện nay:một là, đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; hai là, tăng cường kiểm tra,giám sát và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời và công bằng những sai phạmcủa CB, CC; ba là, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách phápluật, xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực, nguyên tắc ĐĐCV; bốn là, phát huy tínhtích cực chủ động tự giác của đội ngũ CB, CC trong việc nâng cao ĐĐCV
Bài “Những nguyên tắc xây dựng đạo đức công chức theo tư tưởng Hồ Chí
Minh - Giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Khuyên [63]
chỉ ra những nguyên tắc xây dựng đạo đức công chức theo tư tưởng Hồ ChíMinh gồm: một là, nói phải đi đôi với làm và phải nêu gương về đạo đức; hai là,xây đi đôi với chống và phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi; ba là, rènluyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời
Bài “Xây dựng và thực hiện CMĐĐCV ở nước ta hiện nay” của tác giả
Nguyễn Minh Tuấn [122] đề ra giải pháp để cán bộ công chức thực hiện tốtnhững chuẩn mực đạo đức, nhất là ĐĐCV bao gồm: thứ nhất, xây dựng và thựchiện tốt các quy định về chuẩn mực đạo đức của cơ quan, đơn vị; thứ hai, tăngcường giáo dục, nâng cao đạo đức và ý thức tu dưỡng đạo đức của CB, CC, viênchức; thứ ba, thường xuyên tự phê bình và phê bình; thứ tư, xây dựng và hoànthiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lýnghiêm minh những CB, CC, viên chức vi phạm [122, tr 41-43]
Trong cuốn “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” của Ngô Thành
Can và cộng sự [12] các tác giả đưa ra sáu giải pháp xây dựng ĐĐCV trong điềukiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là: đẩy mạnh giáo dụcđạo đức công chức ở nước ta hiện nay; xây dựng hệ chuẩn mực đạo đức côngchức nhằm tiến tới xây dựng Luật đạo đức công chức; tạo môi trường xã hội lành
Trang 35mạnh, điều kiện làm việc tốt nhất và chế độ đãi ngộ thỏa đáng để thu hút người
có tài, có đức; phát huy hiệu quả cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan, đoànthể và nhân dân; nâng cao tính tích cực rèn luyện đạo đức của người công chức;tăng cường xử lý các hành vi vi phạm đạo đức công chức
Bài viết “Nâng cao ĐĐCV của đội ngũ CB, CC ở nước ta hiện nay” của tác
giả Lê Trọng Tuyến [124] đã nêu lên vai trò, vị trí của CB, CC cũng như bảnchất của ĐĐCV và một số hạn chế của chất lượng đội ngũ CB, CC Từ đó, tácgiả nêu lên năm giải pháp để nâng cao ĐĐCV của đội ngũ CB, CC các cấp chínhquyền Bài viết thể hiện những quan điểm rất chặt chẽ, khoa học của tác giả vềvấn đề nâng cao ĐĐCV ở nước ta hiện nay Đây cũng là một trong những tài liệurất quý báu cho chúng tôi tham khảo khi nghiên cứu về đề tài của mình, songchúng tôi cho rằng các giải pháp để ngăn chặn, khắc phục sự lệch chuẩn ĐĐCVtrong điều kiện KTTT có góc độ rộng hơn, phomg phú hơn
Bài “Xây dựng chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh” của tác giả Đỗ Thị Hoàng [53] tập trung làm rõ những kết quả đạt
được trong quá trình xây dựng các chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, Đảng viên ởĐảng bộ Quảng Ninh; một số nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới Đây làcông trình nghiên cứu dưới góc độ xây dựng Đảng, có ý nghĩa thực tiễn rất cao,gắn với tình hình cụ thể của tỉnh Quảng Ninh Tác giả đã phân tích các kết quả
đã đạt được trong việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, đảng viênnhư là Ban thường vụ Tỉnh ủy ban hành khẩu hiệu hành động của cán bộ, đảngviên về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Đoàn kết thốngnhất - Năng động sáng tạo - Dân chủ kỷ cương - Xây dựng Quảng Ninh giàumạnh”, quy định số 01-QĐ/TU “Về việc thực hiện văn hóa công sở của CB, CC,người lao động cơ quan khối Đảng, đoàn thể tỉnh”…Từ đó, tác giả nêu lên bảygiải pháp nhằm xây dựng chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên ở Đảng bộ tỉnhQuảng Ninh Có thể kể đến một số giải pháp như: đổi mới tư duy, tăng cường vaitrò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền; đổi mới công tác tuyên truyền,giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; đổi mớichất lượng sinh hoạt chi bộ…Đây là công trình nghiên cứu khá chặt chẽ về phạm
vi, đối tượng của việc xây dựng ĐĐCV, chủ yếu phân tích kết quả của việc xây
Trang 36dựng Đảng về đạo đức và các biện pháp nâng cao chất lượng xây dựng Đảng củatỉnh Quảng Ninh Do đó, chúng tôi chỉ xem đây là một tài liệu tham khảo về mộtphạm vi hẹp thuộc đề tài nghiên cứu, và tiếp cận công trình ở các giải pháp màtác giả đề ra
1 3 GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ TỔNG QUAN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
1 3 1 Giá trị khoa học của các công trình đã tổng quan
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập và phân tích các vấn
đề lý luận về công vụ, ĐĐCV, chuẩn mực đạo đức, lệch chuẩn đạo đức,
CMĐĐCV, lệch chuẩn ĐĐCV, tác động của KTTT làm biến đổi ĐĐCV Tuynhiên, các tác giả mới đề cập đến các cấp độ lệch chuẩn như suy thoái, tha hóa,chứ chưa có công trình nào làm rõ khái niệm lệch chuẩn ĐĐCV Những quanđiểm khác nhau của các tác giả nêu trên có những đóng góp nhất định cho côngcuộc cải cách hành chính Nhà nước, nâng cao ĐĐCV hiện nay ở nước ta, là cơ
sở cho tác giả tham khảo để xây dựng các khái niệm công cụ của luận án, xácđịnh các nguyên nhân, tiêu chí và biểu hiện của sự lệch chuẩn ĐĐCV hiện nay
Thứ hai, một số công trình đề cập đến thực trạng lệch chuẩn ĐĐCV của đội
ngũ CB, CC trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, các tác giảmới chỉ nghiên cứu thực trạng lệch chuẩn đạo đức ở các cấp độ lệch chuẩn riêng
lẻ như lệch chuẩn hành vi, suy thoái đạo đức, vi phạm đạo đức chứ chưa kháiquát được một cách có hệ thống thực trạng lệch chuẩn ĐĐCV Tuy nhiên, có thểnói rằng đây là những công trình nghiên cứu có giá trị cho tác giả tham khảotrong quá trình thực hiện luận án
Thứ ba, một số công trình đã đề cập đến các giải pháp dưới góc độ các khoa
học khác nhau như Hành chính học, Xã hội học, Triết học, Hồ Chí Minh học,Giáo dục học…nhằm khắc phục suy thoái ĐĐCV hay nâng cao ĐĐCV dưới tácđộng của nền KTTT ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, từ tổng quan tình hình
nghiên cứu liên quan đến đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sựlệch chuẩn ĐĐCV của một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Namhiện nay
Trang 371 3 2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết
Một, hệ thống hóa và làm sáng tỏ vấn đề lý luận về công vụ, ĐĐCV,
CMĐĐCV, sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT
ở nước ta hiện nay
Hai, trên cơ sở lý luận về công vụ, ĐĐCV, CMĐĐCV, sự lệch chuẩn
ĐĐCV, luận án phân tích thực trạng, làm rõ nguyên nhân của sự lệch chuẩnĐĐCV ở một bộ phận CB, CC ở Việt Nam hiện nay
Ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục
sự lệch chuẩn ĐĐCV ở một bộ phận CB, CC trong điều kiện KTTT ở Việt Namhiện nay, góp phần “xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dânchủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai,minh bạch” [33] như Đại hội XIII của Đảng đã đề ra
Trang 38Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LỆCH CHUẨN ĐẠO ĐỨC CÔNG
VỤ Ở MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
2 1 1 Khái niệm công vụ, đạo đức công vụ, chuẩn mực đạo đức công vụ
2 1 1 1 Công vụ và cán bộ, công chức
Khái niệm công vụ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học khác
nhau như triết học, chính trị học, hành chính học, xã hội học, quản lý hành chínhNhà nước…Tuy mỗi khoa học nghiên cứu khái niệm công vụ dưới những góc độkhác nhau, nhưng hiểu một cách đơn giản nhất, “công vụ” là “việc công” [125,
tr 211] Công vụ là những công việc do Nhà nước đứng ra tổ chức, tuyển dụngngười làm và chi trả lương từ ngân sách để thực hiện nhiệm vụ mà Nhà nướctrao quyền Chủ thể quản lý hoạt động công vụ là Nhà nước, chủ thể thực hiệnhoạt động công vụ là CB, CC Đối tượng phục vụ của hoạt động công vụ là nhândân Dưới góc độ hành chính học, công vụ được hiểu là hoạt động gắn với bộmáy nhà nước, với quyền lực nhà nước: “Công vụ là thuật ngữ được sử dụng đểchỉ một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước (gắn với nhà nước hoặcnhân danh nhà nước) do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành theo quyđịnh của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục
vụ lợi ích nhà nước và xã hội” [126, tr 7] hay: “công vụ là lao động đặc thù của
CB, CC trong bộ máy nhà nước, nhân danh quyền lực công để thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước, thi hành pháp luật, hiện thực hóa pháp luật nhằm phục vụnhân dân” [69, tr 3] Tác giả Thân Minh Quế cho rằng, “công vụ là hoạt động docông chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và đượcpháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của công dân và xã hội” [103, tr 13] Tácgiả Cao Minh Công cho rằng, “công vụ là toàn bộ hoạt động của công chức
trong quản lý xã hội theo chức năng được quy định trong pháp luật nhằm mụcđích phục vụ nhân dân, xã hội và nhà nước” [20, tr 42-43] Hoặc
Trang 39công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được thựcthi bởi đội ngũ CB, CC nhà nước hoặc những người khác khi được nhànước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nướctrong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xãhội Công vụ là phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, gắn với quyềnlực nhà nước [41, tr 102]
Mục tiêu của nước ta trong giai đoạn mới là “nhằm xây dựng và từng
bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân
dân […] Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệthống ấy” [24, tr 19-21], nên khái niệm công vụ được hiểu rộng hơn so với một
số nước trong khu vực và trên thế giới Công vụ không chỉ là những hoạt độngcủa công chức trong bộ máy Nhà nước mà còn là hoạt động của Đảng, đoàn thể
Ở góc độ tiếp cận rộng này, đã có những khái niệm được niệm được nêu ra như:
“công vụ là các hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CB, CC làm việctrong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh
đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập” [69, tr 4] Điều 2 Luật CB, CC
khẳng định, “Hoạt động công vụ của CB, CC là việc thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn của CB, CC theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan”
[105, tr 7] Chúng tôi cho rằng: công vụ là những hoạt động mang tính quyền lực
- pháp lý nhằm hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đảm bảo ổn định và phát triển xã hội, đảm bảo thực hiện các quyền lợi hợp pháp của nhân dân, được thi hành bởi đội ngũ CB, CC trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội
Với khái niệm công vụ nêu trên trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án,
có thể hiểu rằng:
Thứ nhất, phạm vi của hoạt động công vụ là “công vụ” nói chung chứ
không phải chỉ “công vụ nhà nước”;
Thứ hai, chủ thể của hoạt động công vụ là các CB, CC - những người
nhân danh Đảng, nhà nước, nhân danh pháp luật làm việc trong các cơ quan củaĐảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội;
Trang 40Thứ ba, nội dung của hoạt động công vụ là việc thực hiện các chủ trương,
đường lối của Đảng; các chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của pháp luật;
Thứ tư, mục đích của hoạt động công vụ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của nhân dân và xã hội
Thứ năm, hoạt động công vụ được đảm bảo bởi ngân sách Nhà nước
Hoạt động công vụ chi phối các lĩnh vực trong quản lý nhà nước, như
quản lý hành chính nhà nước, sản xuất hàng hóa, dịch vụ công, chính sách kinhtế-xã hội, quản lý các dự án và ngân sách nhà nước, ổn định tài chính và phát
triển thể chế
Cán bộ, công chức là những khái niệm chỉ những người làm việc trong
các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập, các đơn vị lực
lượng vũ trang…Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: CB, CC là
những người được tuyển chọn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh trên cơ sở đạt tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công vụ, ĐĐCV để làm việc trong các
tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, được hưởng lương từ ngân
sách Nhà nước
“Hiện nay (đến 2021) cả nước có 2 766 209 người hưởng lương hoặc phụcấp từ ngân sách nhà nước, trong đó đông đảo nhất là lực lượng viên chức với
gần 1,79 triệu người” [45]
Ngày 22/9/2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính phê duyệt biên chế công
chức hưởng lương từ ngân sách của cơ quan hành chính nhà nước và các hội cótính chất đặc thù, theo đề nghị của Bộ trưởng bộ Nội vụ Theo đó, tổng số
256 685 không bao gồm biên chế thuộc Bộ Công an, Quốc phòng và công chứccấp xã Biên chế công các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước chiếm đa số với
247 722 (tăng 378 so với năm 2021) [117]
Về nguyên tắc thi hành công vụ, Điều 3 Luật Cán bộ, công chức quy định
5 nguyên tắc: 1 Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; 2 Bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân; 3 Công khai, minh
bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát; 4 Bảo đảm tính hệ thống,
thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả; 5 Bảo đảm thứ bậc hành chính và
phối hợp chặt chẽ