1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ 1 BÀI THẢO LUẬN 5 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ

20 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Định Chung Về Thừa Kế
Tác giả Lê Thanh Hà
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài Thảo Luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 221,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi ông N chết thì người con cả của ông N chỉ được nhận căn nhà nhỏ trên thành phố, tức đó là tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới.. Để đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ

MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ 1 BÀI THẢO LUẬN 5 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ

GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ

4 Trần Trang Ngọc Linh 2153401020142

Trang 2

I Di sản thừa kế

- Tóm tắt Bản án số 08/2020/DSST Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Yên

- Nguyên đơn: ông Trần Văn Hoà

- Bị đơn: anh Trần Hoài Nam, chị Trần Thanh Hương

- Nội dung: Anh Nam và chị Hương là con đẻ của ông Hoà và bà Mai Tổng giá trị tài sản của 2 ông bà là 5.127.665.000đ Tài sản các đương sự có tranh chấp gồm: tiền cho thuê nhà và lán bán hàng từ tháng 3/2018 đến thời điểm xét xử do ông Hoà quản lí, tiền cho thuê lán bán hàng năm 2017, 2018 do chị ương quản lí Tưqf các lập luận trong bán án, tổng giá trị tài sản chung của ông Hoà và bà Mai là 6.151.614.500đ Năm 2017, bà Mai chết không để lại

di chúc nên di sản của bà được chia theo pháp luật Áp dụng các Điều 213,

612, 613, 614, 649, 650, 651, 660, 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự và Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án quyết định chia cho ông Hoà số tài sản trị giá 4.207.001.000đ, diện tích đất 47,1m2; chia ch chịn Hương số tiền thuê 30.000.000; buộc anh Nma thanh toán chênh lệch về tài sảnt cho ông Hoà là 1.880.412.000đ

- Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL

- Nguyên đơn: Phùng Thị H1

- Bị đơn: Phùng Văn T

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phùng Thị H3

- Nội dung: ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G là bố mẹ ông Phùng Thị H1 (nguyên đơn) có tài sản chung là 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m2 Năm 1984 ông Phùng Văn N chết không để lại di chúc nên bà G và anh T quản lí và sử dụng nhà đất trên Năm 1991 bà G chuyển nhượng 131m2 đất cho ông Phùng Văn K để lo cho cuộc sống củ các con (con bà G đều biết và không ai phản đối gì) Toà ns sơ thẩm xác định di sản

là tổng diện tích 398m2 để chia nhưng Toà án phúc thẩm không đưa phần diện tích đất đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia Bà G muốn cho chị H1 (con gái) 1 phần đất nhưng không chia được vì anh T giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Năm 2010 bà G lập di chúc “để lại cho chị H1 diện tích đất 90m2 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích đất.” nhưng diện tích đất 267m2 được xác định là tài sản chung của ông N và bà G nên bà G chỉ có quyền quyết định ½ diện tích đó, ngoài ra ½ diện tichs đất củ ông N đã hết

Trang 3

thời hiệu chia thừa kế, anh T không đồng ý chia nên không đủ điều kiện để chia vậy nên diện tích đất này ai đang sử dụng, quản lí thì vẫn tiếp tục được

sử dụng, quản lí

1.1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

-Căn cứ vào Điều 612 BLDS năm 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” -Hiện nay quan điểm cho rẳng di sản bao gồm tài sản của người chết để lại mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản được nhiều nhà khoa học đồng ý Quan điểm này được thể hiện trong BLDS năm 2015 Điều 612 và các Điều từ 659 đến 662 BLDS năm 2015 thì hiểu rằng trước khi chia di sản, những người thừa kế phải thanh toán các nghĩa vụ của người chết để lại xong còn lại mới phân chia

1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

-Căn cứ vào khoản 1 Điều 611 của BLDS: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này” -Ngoài ra, Điều 612 của BLDS quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

-Do câu hỏi không đề cập cụ thể nguyên nhân cũng như việc tài sản của người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế nên ta chia vấn đề này thành 2 trường hợp:

a Tài sản bị thay thế vì nguyên nhân khách quan:

-Nguyên nhân khách quan là những tác động của tự nhiên mà con người không thể đoán trước, lường trước được như hỏa hoạn, bão, lũ,

-Tất nhiên thì các tài sản thừa kế đó sẽ bị hư hỏng do ảnh hưởng của nguyên nhân khách quan Lấy ví dụ: Bà M sống ở căn nhà gần vùng biển miền Trung-nơi thường xảy ra bão, lũ lụt nên bà quyết định vào Sài Gòn mua thêm 1 căn nhà khác Đến khi bão kéo vào vùng đất duyên hải miền Trung thì nhà bà M bị sập

và bà M cũng không may thiệt mạng trong cơn bão đó Vậy thì trước thời điểm

mở thừa kế, ngôi nhà trong Sài Gòn đã được bà M xây dựng thay thế ngôi nhà

bà đang sống ở miền Trung Do đó ngôi nhà trong Sài Gòn sẽ được coi là di sản

do bà M để lại

Trang 4

-Vậy tài sản bị thay thế bởi nguyên nhân khách quan được coi là di sản.

b Tài sản bị thay thế bởi nguyên nhân chủ quan:

-Nguyên nhân chủ quan tức là các nguyên nhân có sự tham gia một phần nào đó của con người

-Do tác động của con người là một phạm vi khá rộng nên cần phải xét đến mục đích của thừa kế đó là gì:

+Nếu sự thay thế do tự bản thân cá nhân nào muốn thay thế hay đó là sự thay thế được sự đồng thuận bởi tất cả những người thừa kế và được pháp luật thừa nhận Lấy ví dụ Ông N sống tại căn nhà dưới quê nhưng ông dành dụm tiền mua thêm căn nhà nhỏ trên thành phố để làm di sản cho đứa con cả đang làm việc trên đó, còn căn nhà ông đang ở thì ông muốn để lại cho con út tiếp tục sinh sống tại đây Khi ông N chết thì người con cả của ông N chỉ được nhận căn nhà nhỏ trên thành phố, tức đó là tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa

kế bị thay thế bởi một tài sản mới Việc làm đó của ông N xuất phát từ cá nhân ông muốn nên con cả nhận tài sản bị thay thế đó được pháp luật thừa nhận +Nếu nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế ban đầu đồng thời thay thế bởi một tài sản khác khi đó tài sản mới này sẽ không được coi là di sản thừa

kế Chẳng hạn ông B chết để lại căn nhà biệt thự cho 2 đứa con, nhưng sau đó ông C (con cả) có ý muốn chiếm đoạt toàn bộ căn biệt thự nên ông C đã mua một căn hộ cao cấp buộc ông D (con út) lấy đó làm tài sản thay thế Trường hợp này thì căn hộ cao cấp do ông C mua để làm tài sản thay thế nhằm ý định chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế ban đầu sẽ không được coi là di sản

1.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

-Để được coi là di sản thì quyền sử dụng đất của người quá cố cần phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật

-Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất Đai: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất” Vậy thì người đứng tên trên giấy

Trang 5

chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được pháp luật công nhận là chủ sở hữu hợp pháp

-Bên cạnh đó, Nghị quyết 02/2004/NQ-HDTP có quy định: “Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản” Rõ ràng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

theo luật định là căn cứ xác thật quyền sử dụng đất của chủ sở hữu đó có là di sản hay không Vì đơn giản giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng thư pháp lý để nhà nước xác lập, công nhận và quản lí ai là chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất đó Từ đó thì mới có căn cứ để phân chia thừa kế và để quyền sử dụng đó trở thành di sản cho người thừa kế Thế thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ thiết yếu để xác định việc quyền sử dụng đất có là di sản hay không

1.4 Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản

án có câu trả lời?

-Trong phần nhận định của Tòa án về tài sản các đương sự có tranh chấp có đề cập: “Đối với diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng không được coi là di sản thừa kế” Do phần diện tích tăng 85,5m2 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án đã nhận định đó không phải là di sản căn cứ vào nghị quyết số 02/2004/NQ-HDPT Theo đó, Tòa án đã tạm giao cho ông Hòa có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Như vậy, diện tích đất tăng đó không được xác định là di sản thừa kế và phân chia sẽ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự

1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án

số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

-Hướng giải quyết của Tòa án trong Bản án 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lí

Trang 6

-Thứ nhất, theo phần nhận định của Tòa án thì: diện tích 85,5m2 đó được hình thành năm 1993 trong khi đó “ anh Nam sinh năm 1981, chị Hương sinh năm

1983, thời điểm đó thì cả anh Nam và chị Hương đều còn nhỏ sống phụ thuộc vào gia đình Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định tài sản nên trên là tài sản chung của vợ chồng ông Hòa, bà Mai” Nhận định này của Tòa án là hoàn toàn

đúng đắn vì căn cứ điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” Và phần

diện tích nên trên thỏa mãn các yêu tố của quy định trên nên giờ bà Mai đã chết thì tất nhiên phần đất đó thuộc quyền sở hữu của ông Hòa

-Và ngôi nhà và lán bán hàng được làm và xây dựng lấn cả phần diện tích 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, trừ phần đất

đã bị xây dựng thành nhà thì diện tích còn lại được Tòa án giao cho ông Hòa quản lý, sử dụng nhưng ông Hòa phải có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước Hướng giải quyết này là hợp tình, hợp lý: vì phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tất yếu nó không thể trở thành di sản để tiến hành phân chia di sản theo pháp luật mà phần diện tích 85,5m2 được giao lại cho ông Hòa quản lý, sử dụng là phù hợp

Câu 1.6: Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

- Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì diện tích 398m2 đất tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố N, Vĩnh Phúc có nguồn gốc là tài sản chung vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G

- Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2

- Diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng ông

Trang 7

Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà

- Đối với 1/2 diện tích đất còn lại trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là 133,5m2 là phần di sản của ông Phùng Văn N để lại

Câu 1.7: Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

- Theo Án lệ trên,phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là di sản để chia

- Tại phần nhận định [2] của Toà án có nêu:

- Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2.Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2,ông Phùng Văn K cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mua của bà Phùng Thị G

- Bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của

bà và các con

- Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa

án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ

- Điều này cũng được quy định trong khoản 2 Điều 221 và Điều 223 BLDS 2015:

- Khoản 2 Điều 221 Căn cứ xác lập quyền sở hữu:Quyền sở hữu được xác

lập đối với tài sản trong trường hợp sau đây:

- 2 Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác

- Điều 223 Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng

Trang 8

- Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó

- CSPL : khoản 2 Điều 221 và Điều 223 BLDS 2015

Câu 1.8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

- Theo em,hướng giải quyết của Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K là hợp lí

- Ngày 07-7-1984 ông Phùng Văn N chết không để lại di chúc, bà Phùng Thị

G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng nhà đất với diện tích 38m2 đất thuộc tài sản chung của hai vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G

- Năm 1991,bà G chuyển nhượng cho ông K 131m2 đất và đến năm 1999 ông được cấp quyền sử dụng đất,phần đất còn lại là 267,4m2 cũng được cấp quyền sử dụng đất do bà G đứng tên

- Có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G biết việc bán đất và không ai phản đối, theo khoản 2 Điều 221 và Điều 223 BLDS 2015 có căn cứ để xác lập quyền sở hữu của ông K đối với 131m2 đất

- Vì vậy,Toà án phúc thẩm không đưa diện tích đất bà G bán cho ông K vào phần di sản của bà G là có căn cứ

- CSPL : khoản 2 Điều 221 và Điều 223 BLDS 2015

-Câu 1.9: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

- Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó không được coi là di sản để chia

- Bà G có quyền định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung Nếu bà G tư ý bán 131m2 đất cho ông K mà không có sự đồng ý của các con

và sử dụng số tiền đó cho mục đích cá nhân, thì có thể xem là bà G đã bán một phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của hai vợ chồng

(196m2) Số tiền thu được từ giao dịch trên không được sử dụng vì lợi ích

Trang 9

của các đồng thừa kế khác nên không thể xem như đã chia thừa kế ứng với phần di sản này

-1.10:Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết,di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất là bao nhiêu?Vì sao?

- Vì bà G đã bán phần đất 131m2 cho ông K nên phần đất đó không được coi

là di sản.Phần đất còn lại là 267,4m2 là phần đất thuộc về tài sản chung của 2

vợ chồng.Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt ½ diện tích đất còn lại là 133,5m2.Đó là phần di sản của bà G sau khi chết

1.11:Việc tòa án xác nhận phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43.5 m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

- Hướng giải quyết của tòa là thuyết phục vì mảnh đất là tài sản cung của bà G

và ông N nên bà G chỉ có quyền định đoạt ½ mảnh đất đó Bà G chết để lại

di chúc định đoạt 90m2 trong 133,5m2 cho chị Phùng Thị H Tại thời điểm lập

di chúc, bà Phùng Thị G hoàn toàn minh mẫn khỏe mạnh, có người làm chứng và di chúc đó đã được Ủy ban nhân dân phường M chứng thực (phù hợp với quy định tại điều 630 BLDS 2015)

- Đây không phải là nội dung của Án lệ 16 vì Án lệ số 16/2017/AL: chỉ có nội dung xoay quanh việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng

1.12: Việc tòa án quyết định “còn lại 43,5 m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ 16

không? Vì sao?

- Quyết định của tòa như vậy là chưa thuyết vì: theo như di chúc mà bà Phùng Thị G để lại thì bà chỉ nhắc đến việc để lại 90m2 cho bà Phùng thị H, chứ không nêu thêm gì thêm Vậy nên, 43,5m2 còn lại sẽ được chia theo pháp luật teo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 651 BLDS 2015:

“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Trang 10

Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

- Nếu như chia theo di sản thì bà Phùng Thị G có tất cả 6 người còn là: Phùng Thị N1, Phùng Thị N2, Phùng Thị H2, Phùng Văn T, Phùng Thị P, Phùng Thị H1 Tất cả đều con sống vì thể 43,5m2 còn lại sẽ được chia hết cho 6 người

- Đây không phải là nội dung của Án lệ 16 vì Án lệ số 16/2017/AL: chỉ có nội dung xoay quanh việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng

II Quản lí di sản.

- Tóm tắt Bán án số 11/2020/DS-PT Toà án nhân dân tỉnh Sơn La

- Nguyên đơn: anh Phạm Tiến H

- Bị đơn: anh Phạm Tiến N

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Phạm Tiến T

- Nội dung: ông T là anh ruột ông H, anh N là con ông T Sau khi cha mẹ ông

H qua đời (không để lại di chúc) có để lại 1 ngôi nhà gỗ 04 gian lợp ngói nằm trên diện tích đất 311m2 Sau đó không ai quản lí diện tích đất đó vì những người con khác đã đi xây dựng gia đình riêng, chỉ còn ông H và ông T đều hải đi chấp hành án Nay ông H chấp hành án trở về muốn tu sửa ngôi nhà thì bị anh N (con trai ông T) ngăn cản và xuất trình giấy uỷ quyền cho anh N trông coi ngôi nhà tới khi ông T chấp hành án trở về Tại phiên toà xét

xử, căn cứ khoản 2 Điều 308, 309, khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự

2015, Toà án quyết định giao cho anh H quản lí dia sản thừa kế của cha mẹ mình

Ngày đăng: 17/09/2022, 09:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w