1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SO SÁNH GIỌT NƯỚC MẮT BÀ CỤ TỨ VÀ GIỌT NƯỚC MẮT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI.

17 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Giọt Nước Mắt Bà Cụ Tứ Và Giọt Nước Mắt Người Đàn Bà Hàng Chài
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại bài luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 35,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH GIỌT NƯỚC MẮT BÀ CỤ TỨ VÀ GIỌT NƯỚC MẮT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI A NỘI DUNG 2 1 Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong tác phẩm “Vợ nhặt” – Kim Lân 2 1 1 Hoàn cảnh dẫn đến giọt nước mắt Truyện.

Trang 1

SO SÁNH GIỌT NƯỚC MẮT BÀ CỤ TỨ VÀ GIỌT NƯỚC MẮT NGƯỜI ĐÀN BÀ

HÀNG CHÀI.

A NỘI DUNG

2.1 Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong tác phẩm “Vợ nhặt” – Kim Lân

2.1.1 Hoàn cảnh dẫn đến giọt nước mắt:

Truyện ngắn Vợ nhặt được đặt trong bối cảnh nạn đói thê thảm năm 1945 với trên hai triệu

đồng bào nước ta bị chết đói Trong cái chết bủa vây ấy, Tràng dẫn cô vợ về nhà ra mắt mẹ

Sự kiện này làm xáo động cả vùng quê, cả xóm ngụ cư nghèo khổ Họ ngạc nhiên vì trong thời buổi đói khát này, Tràng lại liều mạng rước thêm một miệng ăn Là người trong cuộc nhưng chính Tràng cũng ngạc nhiên không kém, anh không thể ngờ được mình lại có vợ, vợ theo, lấy vợ một cách hiển hách Rồi đến cả bà cụ Tứ, dường như bà như không dám tin vào mắt vào tai mình

Việc Tràng dẫn người con gái lạ về ra mắt mẹ đã khiến cho bà cụ Tứ ngạc nhiên Khi vào

nhà, bà băn khoăn ngồi xuống giường Tràng mở lời: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ !” Chữ “nhà tôi” rồi “làm bạn” của anh Tràng nghe mà đứt ruột Đến lúc này bà cụ

mới hiểu ra “cơ sự”, người mẹ nhạy cảm nhận ra cảnh bi hài của câu chuyện, để rồi nỗi tủi

thân đã hóa thành nước mắt “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Lòng bà ngổn ngang trăm mối, chồng chất bao nỗi niềm suy tư.

2.1.2 Ý nghĩa của dòng nước mắt

“Dòng nước mắt” của bà cụ Tứ là biểu hiện của nỗi đau khổ, tủi phận: con lấy vợ vào giữa ngày đói khiến bà lão vừa mừng lại vừa tủi, vừa lo lắng Giọt nước mắt chỉ “rỉ” ra hiếm hoi bởi cả đời đã cạn khô nước mắt trong những tháng ngày khốn khổ dằng dặc “Kẽ mắt kèm nhèm” là sự hiện hình của một bức chân dung đầy khổ hạnh của người phụ nữ nông dân lớn tuổi Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: tình thương con thắt lòng

Đó là nước mắt bà hờn tủi cho mình, xót thương cho các con:

Trang 2

Bà cụ tủi thân vì cho rằng mình chưa làm tròn bổn phận người mẹ:“chao ôi, người ta dựng

vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì…” Với người phụ nữ Việt Nam thì nào đâu chỉ có việc mang nặng

đẻ đau, nuôi con trưởng thành, mà còn phải lo cho con yên bề gia thất Cha mẹ nào chưa lo được tấm chồng, cô vợ cho con thì chết không nhắm mắt được Với quan niệm truyền thống

ấy, bà cụ Tứ cũng hiện lên đầy tâm sự Trong lời độc thoại ở trên, bà đã thầm so sánh

“người ta” với “mình”, nghĩ đến người ta, bà thấy tủi thân mình, vì người ta giàu có, có của

ăn của để lo được cho con, còn bà thì có “dăm ba mâm cơm” cũng không lo được cho con Đằng sau dấu chấm lửng mà Kim Lân cố tình để lại ấy là nỗi lòng, là nước mắt của người

mẹ già tội nghiệp Bà xót thương cho các con: Thứ nhất là xót thương cho “số kiếp đứa

con mình” vì bà hiểu rằng con trai bà không được bình thường, không được may mắn như

con nhà người Nghĩ thế nhưng bà không hề rẻ rúng coi thường cô con dâu mà ngược lại tấm lòng người mẹ ấy trào dâng những tình cảm dành cho người con gái cùng đường lỡ

bước:“Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có được vợ…” Trong suy nghĩ đầy nhân văn ấy, người mẹ đã đồng cảm với cô

con dâu bị nạn đói đẩy cho tới đường cùng buộc phải liều thân theo một anh chàng xấu xí về làm vợ Cũng trong suy nghĩ ấy bà cũng thầm cảm ơn cô con dâu vì nhờ thị mà con trai bà mới có được vợ Tình thương người đàn bà vợ nhặt ấy còn được thể hiện trong hành động vồn vã, ân cần, cử chỉ quan tâm “con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”;

trong suy nghĩ nhân hậu: “bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi”.

Đó là nước mắt “mừng”cho hạnh phúc của các con:

Bao nhiêu nỗi niềm được nén lại của người mẹ trong mấy chữ:“Ừ! thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng” Mẹ chỉ “mừng lòng” chứ không phải là “vui

lòng” Vì một lẽ giản đơn, đặt trong hoàn cảnh đói kém như thế nỗi mừng chưa đủ để gọi là vui Nhưng chính câu nói ấy đã xua tan nỗi phấp phỏng lo âu cho Tràng, xóa đi nỗi bẽ bàng, lo sợ cho người con dâu, thổi vào tâm hồn đôi trẻ một luồng gió mới và mở ra một

hạnh phúc trong tầm tay Bà cụ khuyên nhủ, động viên con những điều chí tình, đôn hậu, tràn đầy niềm lạc quan Là người từng trải, kinh qua bao nỗi nhọc nhằn nên người

mẹ ấy hiểu lắm, cảm thông lắm Khổ đau, đói rét không quật ngã được người mẹ ấy vì mẹ

tin rằng: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Đó cũng là triết lý sống dân gian đã dưỡng nuôi

Trang 3

bao tâm hồn con người Việt Mẹ động viên “Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi may ra ông giời cho khá…” Lời động viên ấy là lời chí tình

là cả niềm tin mãnh liệt của bà Bà dặn dò, bảo ban hai con “Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi” Lời khuyên ấy của người mẹ là món quà vô giá, gói trọn bao tình yêu

thương vô bờ của bà dành cho các con Tấm lòng người mẹ ấy cao đẹp biết nhường nào!

Đó là dòng nước mắt bà lo lắng cho tương lai của các con:

Kim Lân ba lần tả bà cụ Tứ khóc và bốn lần trực tiếp tả nỗi lo lắng của bà: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không ?” Nghĩ về cuộc đời mình bà lại càng lo cho con: “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không ?” Lần thứ hai, người mẹ nghèo khổ ấy để những giọt nước mắt lo lắng, tủi buồn của mình chảy ròng ròng trên khuôn mặt già nua khắc khổ: “Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá” Đến lúc nghe tiếng trống thúc thuế đầu làng, bà cụ lại một lần nữa xót xa: “Giời đất này không biết có sống qua được không các con ạ?” Nỗi lo lắng ấy và nước mắt bao lần chảy xuôi chính là lòng yêu thương con vô bờ

bến của người mẹ Việt Nam Thật đáng tự hào và quý trọng biết bao

Gạt đi nước mắt để sống lạc quan, bà là điểm tựa cho hạnh phúc của đôi vợ chồng son:

Bà dậy sớm cùng con dâu thu dọn nhà cửa như để đón chào một cuộc sống mới tươi vui

hơn “làm ăn có cơ khấm khá hơn” đang mở ra ở phía trước Khuôn mặt bà cụ Tứ có sự thay đổi từ “bủng beo u ám” nay đã “rạng rỡ hẳn lên” Kim Lân đã làm thay đổi mạch cảm xúc

của toàn bộ câu truyện Cái khuôn mặt ấy ngày hôm qua “bủng beo u ám” bao nhiêu thì hôm nay “rạng rỡ” bấy nhiêu đã làm cho sức sống của câu truyện bỗng bừng sáng ở những dòng cuối

Hòa chung trong tâm trạng “lửng lơ êm ái” của Tràng, trong cái dáng điệu “hiền hậu đúng mực” của người vợ nhặt Bà cụ Tứ quả thật đã như được hồi sinh lần thứ hai Bà

đã nhóm lên bếp lửa niềm tin cho các con bằng chính ngọn lửa lạc quan đang thắp sáng cõi lòng bà Bữa ăn đầu đón nàng dâu thật thảm hại nhưng tất cả đều ăn rất ngon, vui vẻ Dù ăn

cả “chè khoán” bằng cám nhưng bà cụ vẫn tươi cười, chuyện trò rôm rả, thân mật với hai

con Bà lão nói “toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này” Bà còn mở ra một

Trang 4

viễn cảnh tươi sáng qua câu chuyện đàn gà: “Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…” Hình ảnh đàn gà trong câu chuyện của bà

cụ Tứ như một liều thuốc tinh thần mở ra bao điều tốt đẹp “Đôi gà – đàn gà” là sự sinh sôi – sự sinh sôi lấn át sự huỷ diệt, sự sống lấn át cái chết Chính câu chuyện ấy đã thổi hồn vào bữa ăn, vào khát vọng hạnh phúc của Tràng và người đàn bà Về điều này, Kim Lân khẳng

định “Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống”.

Đó cũng là tinh thần của nhân dân ta từ bao đời nay “Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”.

(Ths Phan Danh Hiếu)

2.1.3 Đánh giá chi tiết:

Giá trị nội dung: Dòng nước mắt đã thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc:

phơi bày tình cảnh xã hội những năm trước cách mạng và trong nạn đói 1945; cảm thông thương xót; tố cáo xã hội; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người mẹ

Đặc sắc nghệ thuật: chi tiết nhỏ nhưng nội dung ý nghĩa truyền tải lớn; diễn tả nội tâm

nhân vật đặc sắc; tình huống truyện độc đáo; nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, đối thoại sinh động, hấp dẫn; ngôn ngữ mộc mạc giản dị, gắn với khẩu ngữ nhưng được chắt lọc

kĩ lưỡng, tạo sức gợi đáng kể; miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo…; trần thuật hấp dẫn

2.2 Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Chiếc thuyền ngoài xa

2.2.1 Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết giọt nước mắt

Người nghệ sĩ Phùng đang có cơ hội đứng trước một kiệt tác nghệ thuật có một không hai của mình trong sự nghiệp cầm máy ảnh Đó là một bức tranh đẹp, ưng ý, một bức tranh

“cảnh đắt trời cho” Chiếc thuyền ngoài xa trong ống kính của Phùng thật lộng lẫy, thật đẹp

đẽ khiến cho trái tim người nghệ sĩ ấy rung lên, tâm hồn anh thăng hoa cùng những siêu thăng nghệ thuật Cái đẹp làm anh nhận ra “khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn” và chân

lý “cái đẹp chính là đạo đức” Nhưng đằng sau những thăng hoa ấy là sự sụp đổ, sự hụt hẫng

Trang 5

khi anh nhìn thấy bên trong cái đẹp của bức tranh anh vừa chụp là một sự thật trần trụi,

nghiệt ngã Cảnh lão chồng đánh vợ thô bạo, cảnh thằng Phác cứu mẹ: “Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt”.

2.2.2 Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:

Dòng nước mắt ấy là biểu hiện của nỗi đau đớn.

Đi sâu vào tìm hiểu cuộc đời của người đàn bà làng chài ta mới thấy hết được số phận éo le, bất hạnh của chị Chị là nạn nhân của đói nghèo và tình trạng bạo lực gia đình: cái xấu đã đeo đuổi chị như một định mệnh, trận đậu mùa quái ác đã để lại những nốt

rỗ chằng chịt trên khuôn mặt Vì xấu không ai lấy nên chị trót có mang với anh hàng chài vẫn thường đến nhà chị mua bả về đan lưới Từ đấy, chị gắn đời mình với sông nước Cuộc

sống nghèo khổ, thuyền chật con đông:“nhiều lần biển động phải ăn xương rồng luộc chấm muối” Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu… lão chồng của chị từ một anh con trai “hiền lành” đã trở thành một kẻ vũ phu thô bạo Hắn đã lấy phương pháp đánh vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống: “Ba ngày một trận nhẹ Năm ngày một trận nặng” Gia

cảnh nghèo khó bế tắc Cuộc sống đầy tình trạng bạo lực gia đình không lối thoát càng làm cho “dòng nước mắt” ấy thêm đắng cay, nghiệt ngã

Dòng nước mắt của người đàn bà ấy còn là nước mắt của con người giàu lòng tự trọng, là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng, khi chồng đánh không hề có bất kì phản ứng nào, nhưng hành động của thằng con khiến chị như sực tỉnh, như bị một viên đạn xuyên qua tâm hồn để thức dậy nỗi đau tận cùng.

Trận đòn cay nghiệt từ lão chồng không có gì kỳ lạ vì nó vẫn là hình ảnh quen thuộc được tính theo chu kỳ “ba ngày, năm ngày” nhưng kỳ lạ là ở thái độ người đàn bà Trước đòn roi,

chị vẫn lặng im chịu đựng, vẫn lặng yên cam chịu như một thói quen: “Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn” Đặc biệt phía sau trận đòn ấy người đàn bà không nước mắt Thể xác bị

chà đạp, tinh thần bị lăng nhục nhưng chị không khóc Đó không phải là sự vô cảm, lãnh cảm hay mẫn cảm với đòn roi mà phía sau đó là cả một tấm lòng, một đức hi sinh, vị tha cao

Trang 6

thượng của người vợ, người mẹ Nước mắt ấy chỉ rơi xuống khi việc làm của thằng chồng

đã bị con trai và người khách lạ tên Phùng chứng kiến Bấy giờ chị mới khóc, nước mắt ấy vừa xấu hổ, vừa nhục nhã, nhưng trên hết vẫn là nước mắt của con người giàu lòng tự trọng Nỗi khổ đau ấy chị muốn mình âm thầm gánh chịu Chị không muốn ai biết, ai hay Tấm lòng ấy ở người mẹ, người vợ, người phụ nữ thật cao thượng biết bao

Dòng nước mắt lo lắng cho con hay nuốt nước mắt vào trong để sống vì con Nước mắt

ấy là nước mắt của tình mẫu tử sâu nặng.

Nhìn thấy thằng Phác vì thương mẹ mà phạm vào tội ác trái luân thường đạo lí Người mẹ

ấy đã có ứng xử bất ngờ: vái con, ôm con vào lòng Chi tiết người mẹ vái lạy thằng con khiến người đọc không thể không xót xa, ái ngại Chị không biết phải giải quyết như thế nào mới phải đạo, cũng không tìm được giải pháp Đó là nỗi lo lắng về sự phát triển nhân cách lệch lạc của con

Trước đó vì thương con, người mẹ đã gửi thằng Phác lên rừng ở với ông ngoại; xin lão chồng có đánh thì mang lên bờ mà đánh Đó là bởi vì chị thương con, lo lắng cho tương lai của con, không muốn con bị tổn thương tinh thần

Vượt lên trên sự cay đắng và cơ cực ấy, tình mẫu tử của chị tỏa sáng, đó chính là đức

hi sinh cao thượng của thiên chức làm mẹ: Chị gồng mình gánh chịu đòn roi của chồng là

bởi vì những đứa con: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!” Chị hiểu rằng bất kỳ một cuộc hôn nhân tan vỡ nào thì

người tổn thương nhất chính là những đứa con Bởi vậy chị gồng mình gánh lấy những đòn roi của chồng để giữ lại hai chữ Gia Đình cho các con Chính tình mẫu tử thiêng liêng cao thượng đã chắp cánh cho chị, đưa đàn con bay vút lên trên sự cơ cực, đói kém, nhọc nhằn và lam lũ Đã từng trải qua những giông tố của cuộc đời, từ cuộc tình dang dang dở, cuộc sống mưu sinh đầy bấp bênh, khó nhọc đến bi kịch khổ đau trước sự hành hạ của người chồng, có

lẽ hơn ai hết, người phụ nữ miền biển này đã quá thấu hiểu: Cuộc đời này vốn dĩ không đơn giản mà chứa đựng biết bao hiểm nguy và cạm bẫy, đe dọa, rình rập con người Như con chim sợ cành cây cong, chị như con gà mái mẹ đang xòe đôi cánh vững chãi chở che cho đàn con của mình Lo cho chúng từ miếng ăn, giấc ngủ, người phụ nữ ấy biết chắt chiu, giữ gìn những hạnh phúc đời thường Đó là những niềm vui thật nhỏ bé, bình dị, đơn giản chỉ là

Trang 7

những giây phút “vợ chồng con cái hòa thuận, vui vẻ”, là những lúc “con cái được ăn no” cho dù có lẽ những khoảnh khắc ấy là không nhiều trong cuộc sống của chị Nó như

những ánh sao băng vụt sáng qua bầu trời trong thoáng chốc để rồi nhường chỗ lại cho sự thăm thẳm, mờ mịt của vũ trụ Song người đàn bà hàng chài ấy vẫn cứ nhớ, vẫn cứ nâng niu như là điểm tựa tinh thần bình yên cho thị để sống và nuôi đàn con

2.2.3 Đánh giá vấn đề

Giá trị nội dung: Dòng nước mắt của người đàn bà hàng chài đã thể hiện giá trị hiện thực

và giá trị nhân đạo sâu sắc Nhà văn đã phơi bày tình cảnh xã hội những năm sau chiến tranh và đêm trước thời kì đổi mới 1986 Đồng thời bày tỏ niềm cảm thông thương xót trước

số phận đầy nghiệt ngã của người lao động sau chiến tranh; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người mẹ giàu đức hi sinh

Nghệ thuật: tình huống truyện mang tính khám phá, nhận thức, phát hiện đời sống Ngôn

ngữ kể chuyện khách quan, giàu sức thuyết phục Nhân vật được đặt trong những tình huống khác nhau; được khắc hoạ khách quan, chân thực, vừa có cá tính sắc nét vừa có tính điển hình; ngôn ngữ nhân vật sinh động, phù hợp với tính cách

Có thể khẳng định: Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì

đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống, dũng cảm thể hiện những góc khuất của cuộc đời ngay trong chế độ xã hội tốt đẹp của chúng ta Đúng như lời của nhà văn Nguyễn Minh

Châu đã nói: “Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử”.

B SO SÁNH

3.1 Điểm tương đồng

Về nội dung:

Đều là những dòng lệ của người phụ nữ, của người mẹ trong hoàn cảnh nghèo đói và khốn khổ; đều là “giọt châu của loài người”, giọt nước mắt chan chứa tình người trào ra từ tâm hồn những người mẹ giàu lòng vị tha, đức hi sinh; đều góp phần thể hiện giá trị hiện thực và

Trang 8

nhân đạo của tác phẩm: phản ánh hiện thực xã hội trong những thời điểm khác nhau; thể hiện tấm lòng thương cảm đối với bi kịch của con người và sự trân trọng vẻ đẹp tình đời, tình người của tác giả

Về nghệ thuật: Đều cho thấy ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc của hai nhà

văn qua việc lựa chọn chi tiết đặc sắc

3.2 Điểm khác biệt

Về nội dung: Hoàn cảnh riêng của hai nhân vật khác nhau – nước mắt cũng mang những

nỗi niềm riêng

Chi tiết dòng nước mắt của bà cụ Tứ gắn với tình huống anh cu Tràng “nhặt” được vợ giữa lúc đói kém; bà cụ cảm thấy ai oán, xót thương cho số kiếp đứa con mình và cũng xót tủi cho chính thân phận mình Còn dòng nước mắt của người đàn bà hàng chài chan chứa sau

sự việc thằng Phác đánh lại bố để bảo vệ mẹ và hoàn cảnh éo le, ngang trái của gia đình bà

đã diễn ra trước mắt nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng; người phụ nữ vùng biển này thấy đau đớn, nhục nhã vì không thể giấu được bi kịch gia đình, vì thương xót, lo lắng cho con Phía trước chị là một màu mù xám, bế tắc

Về nghệ thuật thể hiện: Để khắc họa chi tiết dòng nước mắt, Kim Lân sử dụng hình thức

diễn đạt trực tiếp, giản dị; Nguyễn Minh Châu dùng cách diễn đạt ví von, hình ảnh

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn văn bà nhận dâu: “Bà lão càng ngạc nhiên hơn nước mắt chảy xuống ròng ròng” ( trích “Vợ nhặt”-Kim Lân)

MẪU 1:

Diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích:

Trang 9

+ Khi hiểu cơ sự, bà cúi đầu nín lặng; lòng ai oán, xót thương cho số kiếp đứa con mình:

“Chao ôi, … Còn mình thì…”; khóc và lo lắng cho số phận của các con: “Biết rằng chúng nó… này không”

+ Bà thở dài, cảm thông với hoàn cảnh của người đàn bà lạ: “Người ta có gặp bước khó khăn,… con mình mới có vợ được…” và mở rộng lòng mình chấp nhận nàng dâu mới

+ Bà mừng cho hạnh phúc của con “Ừ, thôi thì … u cũng mừng lòng…”, khuyên và động viên con bằng những lời đôn hậu, trăn trở cho hoàn cảnh gia đình mình

+ Thương xót, ái ngại cho tình cảnh của nàng dâu mới; xúc động, nghẹn ngào: “nghẹn lời

…chảy xuống ròng ròng”

+ Nghệ thuật: Bằng vài chi tiết miêu tả hành vi, cử chỉ; khắc họa qua ngôn ngữ giản dị, phương ngữ Bắc bộ ngữ, Kim Lân đã thể hiện một cách tinh tế, sinh động tâm trạng phức tạp, đầy mâu thuẫn của một người mẹ nghèo, trải đời

– Tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân: Qua nhân vật bà cụ Tứ, tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn người lao động nghèo Việt Nam nói chung, người phụ nữ nói riêng: nhân hậu, bao dung, vị tha, yêu thương con, lạc quan, sẵn lòng cảm thông và cưu mang những người cùng cảnh ngộ, …

HÀNH VĂN 1:

Lang thang trong cõi ta bà, Basho chợt đón lấy nhành hương mà cất lên tiếng thở nhẹ nhàng:

“Mùi hoa mơ ơi Con đường núi mọc Bỗng nhiên mặt trời.”

Còn ta khi lang thang trong cõi thơ văn ta được gì ? Đó là những khung cảnh , những con người, những câu chuyện của những vùng đất mới lại được cô đọng trong giọng văn dạt dào trầm ấm , tha thiết cho thân phận con người Kim Lân, từ trang văn của mình trong nạn đói

Ất Dậu 1945 đã phác lên những nét vẽ thật tang thương và chết chóc về số phận con người

và lòng bao dung, nhân hậu của con người trong nhân vật bà cụ Tứ Để từ con chữ ấy, người đọc lại thương tiếc cho số phận cùng đường của những con người trong nạn đói khủng khiếp năm ấy

Trang 10

Ngạc nhiên và bất ngờ là tâm trạng đầu tiên ở người mẹ nghèo khi lật đật theo con từ ngõ vào nhà Từ trước đến giờ có bao giờ Tràng mong ngóng mẹ về đến thế đâu, nhất định là phải chuyện gì quan trọng, khác thường Chân bước theo con nhưng lòng bà đang phấp phỏng Rồi “đứng sững lại” khi bà nhìn thấy một người phụ nữ đứng ở đầu giường con trai

bà , mà lại chào bà bằng u Ngạc nhiên đã làm cho bà lão không còn tin vào cảm giác của bà nữa, tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn đi thì phải Nhưng thực sự mắt bà không nhoèn,

và tai bà cũng không đến mức điếc lác như chị vợ nhặt nghĩ ban đầu Bà chưa thể tin, không thể tin rằn con mình lại có người theo và lại chưa bao giờ hình dung nhận dâu trong một tình cảnh trớ trêu, tội nghiệp đến thế

Bà lão cúi đầu nín lặng, đằng sau cái cúi đầu nín lặng ấy là dòng cảm xúc tuôn trào, là cơn bão lòng đang cuộn xoáy với tình thương con vô bờ bến Bây giờ thì bà không chỉ biết sự việc “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ” như lời Tràng thưa gửi mà bà còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của con trai mình Bà tủi thân, tủi phận, bà so sánh người ta với mình “người ta dựng vợ gả chồng cho con những lúc nhà

ăn lên làm nổi, còn mình thì…” Bà lão chua chát, tự trách bản thân mình, càng thương con bao nhiêu bà lại càng tủi phận bấy nhiêu Bà lão đã khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi của người già dưới ngòi bút nhạy cảm của Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc biết bao thương xót, tủi buồn

Bà đã chấp nhận nàng dâu không phải chỉ bằng tình mẫu tử mà lớn hơn đó là tình người, là

sự cảm thông với chị vợ nhặt từ cái nhìn của người cùng giới, cùng là phụ nữ Câu nói đầu tiên mà bà cụ Tứ dành cho chị vợ nhặt “Ừ thôi các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, lời nói của bà như trút đi biết bao gánh nặng tâm trạng đang đè nặng trong Tràng, lời nói ấy như một sự chiêu tuyết cho giá trị của cô vợ nhặt Câu nói ấy của bà làm cuộc hôn nhân của Tràng và thị không còn là chuyện nhặt nhau ở đường và chợ nữa mà

là duyên phận Cách nói giản dị mà chan chứa tình người quả thực đã làm ấm lòng những số phận tội nghiệp Thị và Tràng dường như cũng sẽ ấm lòng hơn khi kinh nghiệm của một người mẹ từng trải nói “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Bà động viên an ủi con trai và con dâu cùng nhau bước qua khó khăn đói khổ trước mắt mà lòng đầy thương xót

Nhưng sau những lời động viên ấy ta lại thấy Kim Lân để nhân vật bà cụ Tứ quay về với chính cuộc đời mình để mà lo lắng cho hạnh phúc thực tại của hai con Điều mà bà lo không

Ngày đăng: 16/09/2022, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w