Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia. Mỗi làng nghề một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế; một cách giới thiệu sinh động về đất nước và con người của mỗi vùng miền, địa phương. Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch. Loại hình du lịch làng nghề ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng.
Trang 1BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TRƯỜNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THƯỜNG TÍN – HÀ NỘI
Họ và tên học viên:
Đơn vị công tác:
Hà Nội, tháng 9 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
A PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
B PHẦN NỘI DUNG 5
1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 5
1.1 Khái niệm làng nghề 5
1.2 Đặc điểm của làng nghề 6
1.3 Vai trò của làng nghề 7
2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 9
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình địa phương 9
2.2 Những thành tựu đạt được trong phát triển làng nghề huyện Thường Tín 10 2.3 Những hạn chế và nguyên nhân 13
2.4 Những vấn đề đặt ra đối với phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín 16
3 Giải pháp và kiến nghị 19
C PHẦN KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vịtrí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộcmỗi quốc gia Mỗi làng nghề một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt,độc đáo không thể thay thế; một cách giới thiệu sinh động về đất nước và conngười của mỗi vùng miền, địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là mộthướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sáchquảng bá và phát triển du lịch Loại hình du lịch làng nghề ở Việt Nam ngày cànghấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâuđời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng
Thường Tín là một huyện có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xãhội trong phát triển làng nghề Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng,Nhà nước và chính quyền địa phương, làng nghề huyện Thường Tín có sự pháttriển nhất định về số lượng, quy mô và năng suất lao động Sự phát triển của làngnghề đã đóng góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế của Huyện, tạo công ănviệc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống và góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa.Tuy nhiên, phát triển làng nghề của Huyện chưa bền vững, tốc độ tăng trưởng cònchậm, hiệu quả kinh tế chưa cao và vấn đề môi trường đang là vấn đề nan giải
Nhận thấy những khó khăn trên nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tình hình
phát triển kinh tế các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thường Tín –
Hà Nội” làm đề tài tiểu luận cho môn Nghiên cứu thực tế của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín, từ đóđưa ra những phương hướng, giải pháp chủ yếu để phát triển làng nghề ở huyệnThường Tín trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
4 Phạm vi nghiên cứu
Trang 4Đề tài nghiên cứu làng nghề về phát triển làng nghề trong phạm vi huyện ThườngTín, Thành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:+ Phương pháp sưu tầm tư liệu:
+ Phương pháp phân tích tư liệu và tổng hợp kết quả
+ Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1 Khái niệm làng nghề
Có nhiều quan điểm khác nhau về làng nghề:
– Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người dân trong làng đấyhoạt động theo nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu Với quan niệm này thìlàng nghề đó hiện nay còn không nhiều
– Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đây khôngnhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều khicũng là người làm nông Nhưng do yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra nhữngngười thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phốnghề ở nơi khác Quan niệm này về làng nghề như vậy vẫn chưa đủ Không phảibất kì làng nào có vài ba lò rèn hay vài hộ làm nghề mộc… đều là làng nghề Đểxác định làng đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét tỉ trọng lao động hay
số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỉ trọng thu nhập từ ngànhnghề so với tổng thu nhập của thôn (làng)
– Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ cácnghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sựliên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thốngdoanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tínhchất làng nghề; nó như một thực thể sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển lâuđời trong lịch sử, là một đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp có tác dụng to lớn đốivới đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội một cách tích cực
Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: Làng nghề truyền thống vàlàng nghề mới
Nếu hiểu theo một trong các quan điểm trên, thì dường như làng nghề du lịchkhông phải là một thuật ngữ chính xác, mà nếu có thì nó đang cố gắng biểu đạt vềmột nơi mà mọi người trong “làng” đều thực hiên hoạt động “nghề nghiệp ” dulịch Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả về khái niệm này, thì trong bài viếtnghiên cứu trao đổi, Khai thác giá trị văn hóa làng nghề truyền thống trong việc
Trang 6phát triển du lịch cộng đồng, Tổng cục Du lịch, 2020, có giải thích rằng: “Làngnghề du lịch là một không gian lãnh thổ nông thôn, ở đó người dân không những tổchức sản xuất một hoặc một số sản phẩm thủ công truyền thống mà còn cung cấpcác dịch vụ phục vụ và thu hút khách du lịch.” Và làng nghề được chú trọng nhất
là làng nghề truyền thống
1.2 Đặc điểm của làng nghề
Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp Cáclàng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng xã ở nông thôn Các ngành nghề thủcông nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinhdoanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen nhau Người thợ thủ côngtrước hết và đồng thời là người nông dân Các gia đình nông dân trước hết vừa làmruộng vùa làm thủ công nghiệp
– Công nghệ, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống Nghĩa là có bước tiếp nối,truyền tải, kết tinh giá trị từ thế hệ này sang thế khác Chất lượng sản phẩm củalàng nghề không phụ thuộc vào công cụ sản xuất hiện đại, có năng xuất cao, theodây truyền mà chủ yếu dựa vào kinh nghiêm, bí quyết, tài hoa của người thợ chếtác đồ thủ công
– Đại bộ phận nguyên liệu của làng nghề truyền thống là tại chỗ Hầu hết các làngnghề truyền thống được hình thành xuất phát từ các nguồn nguyên liệu tại chỗ, trênđịa bàn địa phương, đặc biệt các nghề truyền thống sản xuất những sản phẩm tiêudùng như: đan lát mây, tre( mũ, rổ, rá, sọt, cót ) sản xuất vật liệu xây dựng nguyênliệu thường có tại chỗ, trên địa bàn địa phương
– Phần đông lao động trong các làng nghề truyền thống là lao động thủ công Nhờvào kỹ thuật khéo léo, tinh sảo của đôi bàn tay, đầu óc tẩm mỹ và đầy tính sáng tạocủa người thợ, của các nghệ nhân, phương pháp dạy nghề chủ yếu lao động nhờvào kỹ thuật khéo léo, tinh sảo
– Sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao,mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, địa phương, vùng miền
Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề truyền thống chủ yếu ở quy mô hộgia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân
Trang 71.3 Vai trò của làng nghề
Làng nghề có ý nghĩa và tác dụng nhiều mặt trong việc giải quyết việc làm,tăng thu nhập, cải thiện đời sống của cư dân nông thôn, trong việc chuyển dịch cơcấu kinh tế, góp phần quan trọng phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đồng thời có ýnghĩa to lớn về bảo tồn các giá trị v Thứ nhất, là giải quyết việc làm và giảm tìnhtrạng thiếu việc làm, nâng cao điều kiện sống ở nông thôn
Trước hết là giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trong làng nghề Trênthực tế, làm nông nghiệp luôn là một nghề vất vả, nhiều khó khăn gian khổ trongkhi nguồn thu nhập lại thấp và bấp bênh do đặc trưng của nghề làm nông nghiệp làphụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết, khí hậu Bên cạnh đó, ngành nôngnghiệp còn có đặc trưng là mang tính thời vụ cao, vì thế có những khi người nôngdân làm việc mệt nhọc từ sáng đến tối quần quật cho kịp mùa vụ, nhất là vào vụmùa hè thu, ngoài thu hoạch ra còn có vụ gieo cấy…nhưng lại có những khi nôngnhàn, hầu như không có nhiều việc làm Chính vì vậy, việc phát triển làng nghề sẽgóp phần giải quyết được thời gian nông nhàn đó cho đội ngũ lao động
Ngoài ra, hiện nay một số địa phương diện tích đất nông nghiệp ngày càng bịthu hẹp, các làng quê phải tìm kiếm nghề mới để có thể qua đó tăng thêm thu nhậpcho bản thân và gia đình Do đó, các làng nghề mới được hình thành và phát triển,người dân ở đó tập trung vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ làng nghề để cảithiện đời sống
Thứ hai, là góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nôngthôn
Vấn đề giảm bớt chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn luônđược xã hội quan tâm Thông qua việc xem xét mức thu nhập bình quân đầu người
từ làng nghề có thể so sánh với mức thu nhập ở thành thị, từ đó có thể đánh giáđược khoảng cách thu nhập giữa thành thị và khu vực nông thôn Do hầu hết làngnghề ở Việt Nam đều nằm ở nông thôn, mặt khác ở nông thôn nếu làm ở làng nghềthì thông thường sẽ có nguồn thu nhập bình quân cao hơn so với sản xuất nôngnghiệp thuần túy Chính vì vậy mà thông qua phát triển làng nghề cũng có thể gópphần xóa đói giảm nghèo, làm giảm khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông
Trang 8thôn, cùng với đó làng nghề phát triển sẽ góp phần làm giảm dòng lao động di cư
tự do từ nông thôn ra các đô thị đây là một vấn đề mang tính quy luật của quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường
Thứ ba, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế nước ta từ nông nghiệp là chủ yếu chuyển sang cơ cấu mới: tỷ trọng củakhu vực công nghiệp và xây dựng tăng lên dần, nhất là tỷ trọng của khu vực dịch
vụ tăng nhanh, tỷ trọng của nông nghiệp giảm dần Trong nội bộ kinh tế nông thôncũng vậy, tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên, tỷtrọng của nông nghiệp sẽ giảm xuống Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghềchính là con đường chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
đó, chuyển từ lao động nông nghiệp năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao độngngành nghề có năng suất và chất lượng cao với thu nhập cao hơn Mục tiêu nângcao đời sống của cư dân nông thôn một cách toàn diện cả về kinh tế và văn hóacũng chỉ có thể đạt được nếu trong nông thôn, có cơ cấu hợp lý của nông thôn mới,
có nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ vận động và phát triển tốt với hệ thốnglàng nghề tiếp nối truyền thống văn hóa làng nghề với chuỗi đô thị nhỏ văn minh,lành mạnh
Thứ tư, là góp phần giữ gìn phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địaphương
Phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phương là yếu tố quan trọng.Ngoài việc ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh nó còn ảnh hưởng đếntiêu dùng và đời sống của dân cư ở nông thôn Do đó nhân tố này vừa tác động tíchcực lại vừa tác động tiêu cực đến sự phát triển làng nghề
Về mặt tích cực, yếu tố truyền thống sẽ có tác dụng góp phần bảo tồn nhữngnét đặc trưng văn hóa riêng có của làng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm củalàng nghề có tính độc đáo và giá trị cao hơn Đó là đối với các làng nghề truyềnthống, bởi vì ở những làng nghề này bao giờ cũng có những người thợ có trình độtay nghề cao, có trình độ kinh nghiệm sản xuất, có tâm huyết với nghề, và họ cũngchính là người gánh trách nhiệm duy trì, phát triển những bí quyết riêng của làng
Trang 9nghề, và cứ thế, các bí quyết riêng đó sẽ được truyền từ đời này qua đời khác, quacác thế hệ Họ chính là cơ sở cho sự tồn tại, phát triển bền vững làng nghề trướcmọi biến cố và duy trì những nét độc đáo truyền thống của làng nghề.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì ngoài việc truyền kinh nghiệm từthế hệ này qua thế hệ khác cũng cần phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sảnxuất, đó là những công nghệ hiện đại Khi đó lại cần phải có đội ngũ những ngườinăng động, sáng tạo để có thể đưa hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển mạnh
mẽ được Trong điều kiện đó, một số yếu tố truyền thống, phong tục tập quán lạicản trở sự phát triển của làng nghề theo hướng hiện đại Bên cạnh đó, còn cónhững quy định, quy tắc khắt khe, hạn chế trong nghề, tục lệ làng quê đã trở thànhrào cản đến việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề
Chính vì vậy, sự phát triển bền vững của làng nghề góp phần quan trọng vào
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.ăn hóa của dân tộc
2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình địa phương
Thường Tín là một huyện nằm ở phía nam của Thủ đô Hà Nội thuộc vùng châu thổsông Hồng, có diện tích 127 km2 cách trung tâm Hà Nội 18 km
Địa giới hành chính: Phía đông giáp các xã Mễ Sở , Thắng Lợi huyện Văn Giang
và giáp các xã Tân Châu, Tứ Dân, Hàm Tử, Dạ Trạch, Bình Minh, huyện KhoáiChâu của tỉnh Hưng Yên với ngăn cách tự nhiên là sông Hồng Phía nam giáphuyện Phú Xuyên Phía tây giáp huyện Thanh Oai, ngăn cách bởi sông Nhuệ Phíabắc giáp huyện Thanh Trì
Về đất đai đa phần diện tích đất đai là Đông Bằng được bồi đắp bởi hai 2 dòngsông chính là sông Hồng và sông Nhuệ.Diện tích của huyện là 127,59 km2, đaphần diện tích đất đai là đồng bằng mãu mỡ được bồi đắp bởi hai 2 dòng sôngchính là sông Hồng và sông Nhuệ Đất đai bằng phẳng, màu mỡ, tầng lớp canh tácdày, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình; chủ động tưới tiêu bằng độnglực, thuận lợi cho thâm canh tăng vụ, ngoài sản xuất lúa còn trồng rau màu, câycông nghiệp ngắn ngày và sản xuất được nhiều vụ trong năm.Tài nguyên đất đai
Trang 10này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp trồng trọt, thích hợpvới trông cây lúa nước và các loại rau màu, cây ăn quả.
Thường Tín nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnhhưởng của thiên tai; có 4 mùa rõ rệt Giờ nắng trung bình hàng năm là 1.600 -1.700 giờ; lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.300 - 1.700mm; độ ẩm không khítrung bình là 85 - 87% Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,30C Nhìn chung, khíhậu của Huyện thuận lợi cho sự phát triển hệ sinh thái động, thực vật cũng như cáchoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ănquả Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp
Hệ thống sông ngòi, kênh, mương của Huyện cũng tạo điều kiện nhằm phát triểnngành nuôi trông thủy sản khá mạnh trong các năm qua.Tuy nhiên, nước phân bốkhông đều, lượng dòng chảy về mùa hạ lớn (70 - 80%) Tình trạng thiếu nướctrong mùa khô gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và giao thôngđường thủy, phải đầu tư lớn để nạo vét, khơi dòng Chất lượng nguồn nước mặtđang có biểu hiện nhiễm bẩn do tác động của đô thị hóa Trong chất thải đều cóchứa sắt, một số kim loại nặng khác và các chất gây bẩn cần được xử lý triệt để.Nguồn nước phong phú tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng yêu cầu cho phát triểnnông nghiệp theo hướng bền vững của tỉnh Song cũng đặt ra nhiều vấn đề phải xử
lý trong sản xuất về nguồn nước, về an toàn thực phẩm
2.2 Những thành tựu đạt được trong phát triển làng nghề huyện Thường Tín
*Về số lượng làng nghề
Nằm ở cửa ngõ phía nam Thủ đô, huyện Thường Tín là địa phương có truyềnthống lịch sử, văn hóa đặc sắc, vốn được mệnh danh là “đất trăm nghề” với 126làng nghề thủ công rải rác khắp huyện, nổi tiếng với nhiều sản phẩm, cụ thể như:Tiện gỗ ở Nhị Khê, Sơn mài xã Duyên Thái, Thêu ở Quất Động Làm bánh dày ởDũng Tiến, Mây tre đan ở Quán Gánh, Vàng mã ở Văn Bình, Điêu khắc gỗ đá ở xãHiền Giang…
Ngoài ra những làng nghề phát triển gắn bó tại Huyện hàng trăm năm nay cũngxuất hiện một số nghề thủ công mới phát triển mạnh trong mấy chục năm trở lại
Trang 11đây như xương sừng ở xã Hòa Bình, làm bông len ở Tiên Phong, mộc cao cấp ởVạn Điểm, nghề trồng cây cảnh ở Hồng Vân, Vân Tảo…
Trong đó có 43 làng được công nhận làng nghề cấp thành phố như các làng thêu ởThắng Lợi, Quất Động, làng sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái), làng tiện Nhị Khê,làng mây tre đan Ninh Sở (xã Ninh Sở), làng đá Nhân Hiền (xã Hiền Giang) Cáclàng nghề đều có tuổi đời hàng trăm năm và được truyền qua nhiều đời
Quy mô hoạt động của các làng nghề lớn hay nhỏ được thể hiện thông quacác con số thống kê về số lượng các doanh nghiệp và hộ gia đình sản xuất ngànhnghề trong làng nghề
*Về chất lượng sản xuất
Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực
Làng nghề ở huyện Thường Tín hình thành và phát triển từ lâu đời vì thế cómột đội ngũ lao động là các nghệ nhân có trình độ tay nghề cao cũng khá lớn.Huyện cũng đã chú trọng tới việc phát huy sức mạnh của các nghệ nhân này thôngqua hình thức công nhận và phong tặng danh hiệu nghệ nhân cho các nghệ nhânnày Số nghệ nhân được UBND Thành phố công nhận đến nay là 13 nghệ nhân HàNội Hiện nay trên địa bàn có 02 Hiệp hội là Sơn mài Thành phố, Thêu Thành phố,
05 Hội trong đó 01 cấp huyện Hội thêu Thường Tín, 04 hội cấp xã là thêu ren xã
Lê Lợi, thêu thôn Đông Cứu xã Dũng Tiến, gỗ xã Vạn Điểm, sơn mài xã DuyênThái
Thứ hai, ứng dụng khoa học công nghệ vào quy trình sản xuất
Hiện nay tại huyện Thường Tín, đối với các làng nghề sản xuất đồ mộc,sơn mài , trước đây chỉ sử dụng các công cụ đơn giản có thể tự chế, nhưng ngàynay do yêu cầu về năng suất lao động và mẫu mã sản phẩm cao nên bắt đầu có
sự đầu tư mua sắm các loại máy móc hiện đại hơn, chủ yếu thay thế các côngviệc nặng nhọc như xẻ, bào, tiện, đánh bóng,…nhu cầu về vốn cũng không lớnlắm nên rất nhiều cơ sở sản xuất đã thực hiện được Tuy nhiên nhiều công đoạnvẫn phải thực hiện một cách thủ công, do vậy chưa thể thay thế hoàn toàn bằngmáy móc