1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi

142 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Tự Bảo Vệ Cho Trẻ Mẫu Giáo 5-6 Tuổi
Tác giả Phan Tú Anh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Kim Anh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo Dục Học (Mầm Non)
Thể loại luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó cho thấy nhu cầu tự vệ và giữ an toàncũng là một trong năm nhu cầu cơ bản nhất của tất cả mọi người đặc biệt là trẻ em [56].Trong quá trình phát triển nhân cách, nếu trẻ sớm hình

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trìnhkhác

HỌC VIÊN CAO HỌC PHAN TÚ ANH

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để có được kết quả này, tôi xin chân thành cám ơn sự giảng dạy tận tình, những kiếnthức quý báu của quý Thầy Cô trong Chương trình Đào tạo Sau Đại học Chuyên ngànhGiáo dục Mầm non Tôi cũng xin cám ơn quý Thầy Cô khoa Giáo dục Mầm non và quýThầy Cô thuộc Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư Phạm Huyện Gia Lâm, Hà Nội đã

hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến Sĩ Nguyễn Thị Kim Anh đã tậntâm hướng dẫn, chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn sự hỗ trợ tối đa của Ban Giám Hiệu và Giáo viên cáctrường Mầm non Đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám Hiệu và tập thể Giáo viênkhối lớp Lá trường Mầm non 6, Quận 3 Huyện Gia Lâm, Hà Nội

Cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp xa gần đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ đểtôi đạt được những kết quả tốt nhất

Xin chân thành cám ơn!

HỌC VIÊN CAO HỌC PHAN TÚ ANH

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CÁM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7

4 Giả thuyết nghiên cứu 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Giới hạn đề tài 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Đóng góp của luận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ TẠI LỚP MẦM NON TƯ THỤC 11

1.1 Lịch sử nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi11 1.1.1 Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên thế giới 11

1.1.2 Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở Việt Nam 16

1.2 Lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục 19 1.2.1 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống, kỹ năng sống 19

1.2.2 Một số đặc điểm tâm lí của trẻ tại lớp Mầm non tư thục liên quan đến việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 27

1.2.3 Một số đặc điểm về kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tư thục 30

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI LỚP MẦM NON TƯ THỤC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI TPHCM 43

2.1 Tổ chức nghiên cứu 43 2.1.1 Đôi nét về địa bàn nghiên cứu 43

2.1.2 Khái quát về quá trình tổ chức nghiên cứu thực trạng 45

Trang 6

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho

trẻ tại lớp Mầm non tư thục ở một số trường mầm non, Huyện Gia Lâm, Hà Nội 46

2.2.1 Thực trạng nhận thức của BGH, GVMN về kỹ năng sống với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở một số trường mầm non, Huyện Gia Lâm, Hà Nội 46

2.2.2 Thực trạng thực hiện các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở một số trường Mầm non, Huyện Gia Lâm, Hà Nội 48

2.2.3 Thực trạng sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở một số trường Mầm non, Huyện Gia Lâm, Hà Nội 51

2.2.4 Thực trạng về hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục 62

2.2.5 Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi của BGH và GV các trường Mầm non, Huyện Gia Lâm, Hà Nội 63

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI LỚP MẦM NON TƯ THỤC 67

3.1 Đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục 67 3.1.1 Cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 67

3.1.2 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 67

3.1.3 Đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục 68 3.2 Khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất trên BGH, giáo viên mầm non 81

3.2.1 Quy ước tính hiệu quả của các biện pháp 81

3.2.2 Kết quả khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp 82

3.3 Tổ chức thử nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 86

3.3.1 Mục đích thử nghiệm 86

3.3.2 Nội dung thử nghiệm 86

3.3.3 Nhiệm vụ thử nghiệm 86

3.3.4 Tổ chức thử nghiệm 86

3.3.5 Kết quả thử nghiệm 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

1 Kết luận 94

2 Kiến nghị 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

DANH MỤC PHỤ LỤC 102

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Học để cùng chung sống là một trong những vấn đề then chốt hiện nay của giáo dục.

Xu hướng giáo dục thế giới đang quan tâm đến vấn đề giáo dục và trang bị cho thế hệ trẻcác kỹ năng sống, các kỹ năng giao tiếp, ứng xử để giải quyết các vấn đề quan hệ xã hội, để

tự bảo vệ mình, đồng thời hướng đến môi trường giáo dục sự hòa hợp, hợp tác thân thiệncho trẻ em trên cơ sở các giá trị sống

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEP) – là tổ chức có nhiều công trình nghiên cứusâu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân đã phân loại kỹ năng sốngthành ba nhóm cơ bản, và kỹ năng sống là một trong những kỹ năng thuộc nhóm một –gồm các kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình Vì vậy, nếu xét dưới góc độ tồn tại

và phát triển của cá nhân thì kỹ năng sống là kỹ năng rất cần thiết và quan trọng

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu

cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs) Ông nghiên cứu cấu trúc của

Tháp nhu cầu có 5 tầng: Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý"

(physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi thì Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm,

gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo Qua đó cho thấy nhu cầu tự vệ và giữ an toàncũng là một trong năm nhu cầu cơ bản nhất của tất cả mọi người đặc biệt là trẻ em [56].Trong quá trình phát triển nhân cách, nếu trẻ sớm hình thành và tôn vinh các giá trịđích thực của mình thì các em sẽ có nhân cách phát triển toàn diện, bền vững, có khả năngthích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết tự khẳng định mình trong cuộc sống.Mục tiêu của giáo dục Mầm non trong Chương trình Giáo dục mầm non ban hành kèm theoThông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo (GD&ĐT) cũng đã xác định: “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,

thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời”.

Trang 9

Đặc biệt Chương trình Giáo dục mầm non 2009 đã đưa ra nội dung giáo dục an toàncho trẻ tại lớp Mầm non tư thục Năm 2010 Bộ Giáo dục – Đào tạo Việt Nam đã banhành Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Trong đó, Chuẩn 6 đã đưa ra chỉ số đánh giá

“Trẻ có hiểu biết và thực hành an toàn cá nhân”

Việc giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng sống nói riêng đòi hỏi một quátrình rèn luyện, giáo dục lâu dài Hơn nữa, lứa tuổi mầm non- đặc biệt là giai đoạn cuối tuổimẫu giáo (5-6 tuổi) là giai đoạn học hỏi, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triểnnhân cách và chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa trường phổ thông, do đó cần sớm giáo dục các

kỹ năng sống đặc biệt là kỹ năng sống cho trẻ để trẻ có nhận thức đúng và có hành vi ứng

xử phù hợp ngay từ độ tuổi mầm non góp phần giúp trẻ tự chăm sóc và bảo vệ bản thântránh khỏi những nguy hiểm Trẻ có thể hòa nhập nhanh với cuộc sống xung quanh, pháttriển các mối quan hệ với mọi người, với thiên nhiên từ đó học hỏi và làm giàu thêm vốnkiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của bản thân Khi được trang bị kỹ năng sống phù hợp đứatrẻ được đảm bảo về nhu cầu an toàn, ổn định về mặt tâm lý có cơ hội để phát triểnnhân cách đầy đủ và đúng hướng

Nhưng thực tế hiện nay tình trạng trẻ em thụ động, không biết ứng phó trong nhữnghoàn cảnh nguy cấp, không biết cách bảo vệ bản thân trước các tình huống nguy hiểm, tìmkiếm sự giúp đỡ để lại những hậu quả thật thương tâm và đáng tiếc ngày càng nhiều trong

xã hội Thực tế này khiến cho xã hội, các nhà tâm lý giáo dục, đặc biệt là bậc học giáo dụcmầm non phải suy nghĩ

Bên cạnh đó, thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục ởcác trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Huyện Gia Lâm, Hà Nội) chưa đượckhái quát thành bức tranh toàn cảnh và chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thốngcác biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

Xuất phát từ những lý do trên mà đề tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục ” được xác lập.

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5- 6tuổi, từ đó đề xuất thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹnăng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 10

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu có những biện pháp giáo dục hiệu quả thì sẽ nâng cao kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tư thục

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài.

5.2 Xác định thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm

non tư thục ở một số trường mầm non tại TpHCM

5.3 Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp

Ban Giám Hiệu : 10 người

Giáo viên dạy lớp Mầm non tư thục : 70 người

+Thử nghiệm ở trường mầm non 6, Quận 3-Huyện

Gia Lâm, Hà Nội Nhóm thử nghiệm: 25 trẻ

Nhóm đối chứng: 25 trẻ

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc phân tích, tổng hợp các nguồn tài

liệu khác nhau có liên quan đến đề tài: sách, báo, luận án, tạp chí, trang web…

Trang 11

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 12

7.2.1 Phương pháp điều tra giáo dục

- Điều tra bằng Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho BGH, GVMN (phụ lục 5) Phiếutrưng cầu gồm 8 câu hỏi, trong đó có 5 câu hỏi đóng và 3 câu hỏi mở, nhằm mục đích tìmhiểu nhận thức; thực trạng biện pháp, nội dung, hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tạilớp Mầm non tư thục ; những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng sống; đề xuất củaBGH và GVMN Đặc biệt với câu hỏi số 6 tập trung vào việc khảo sát mức độ sử dụng cácbiện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ hiện nay của GVMN ở các trường MN với 5 mứcđộ: không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, rất thường xuyên

- Phỏng vấn sâu một số GV dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi, BGH ở một số trường mầmnon tại Huyện Gia Lâm, Hà Nội bằng hệ thống gồm 6 câu hỏi (phụ lục 6) nhằm thu thậpnhững thông tin chính xác từ BGH và GVMN Trong quá trình phỏng vấn, để thu thậpthông tin có độ tin cậy cao, chúng tôi tạo bầu không khí trò chuyện thân thiện, cởi mở.Nhờ vậy thu thập được nhiều thông tin quý báu, có giá trị về thực trạng biện pháp giáo dục

kỹ năng sống, đặc biệt những thuận lợi và khó khăn khi triển khai các biện pháp giáodục kỹ năng này trên thực tế

- Điều tra tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất thông qua phiếu khảo sát (phụ lục 7)cho 10 người BGH và 70 GVMN Phiếu khảo sát gồm 2 nhóm câu hỏi về tính cần thiết vàtính khả thi của các biện pháp giáo dục kỹ năng sống do đề tài đề xuất

7.2.2 Phương pháp quan sát

Quan sát một số hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non: giờ học, hoạt động vuichơi trong lớp, ngoài trời để tìm hiểu rõ hơn thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng sốngcho trẻ

7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động trong kế hoạch năm, tháng, tuần

của GVMN ở các trường mầm non thuộc địa bàn khảo sát

7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thử nghiệm một số biện pháp đã đề xuất trên trẻ nhằm hỗ trợ việc kiểm nghiệm tínhhiệu quả của các biện pháp đề xuất

Chọn 2 nhóm: nhóm thử nghiệm (25 trẻ) và nhóm đối chứng (25 trẻ) của trường mầmnon 6, Quận 3- Huyện Gia Lâm, Hà Nội

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Trang 13

Sử dụng phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) 13.0 để xử lý sốliệu nghiên cứu.

Sử dụng kiểm nghiệm T-test cho hai mẫu độc lập để so sánh sự khác biệt ý nghĩa giữatính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Sử dụng kiểm nghiệm chi bình phương để kiểm nghiệm sự khác biệt ý nghĩa giữa thờigian trước và sau thử nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trongnhóm thực nghiệm

Trong những phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra giáo dục làphương pháp nghiên cứu chính, các phương pháp còn lại là phương pháp hỗ trợ

8 Đóng góp của luận văn

- Khái quát được thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớpMầm non tư thục tại một số trường mầm non ở Huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ

NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI LỚP MẦM NON TƯ THỤC

1.1 Lịch sử nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

1.1.1 Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục trên thế giới

1.1.1.1 Các chương trình giáo dục kỹ năng sống của các nước trên thế giới

Các nghiên cứu về kỹ năng sống nói chung và kỹ năng sống của trẻ nói riêng đã đượcnhiều tổ chức cũng như cá nhân trên thế giới thực hiện như Qũy Nhi đồng Liên HiệpQuốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóaLiên Hiệp Quốc (UNESCO)… Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em khẳngđịnh: “Vì chưa đạt đến sự trưởng thành về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em cần phải được bảo

vệ và chăm sóc đặc biệt, trước cũng như sau chào đời Các bậc cha mẹ là người chịu tráchnhiệm chính trong việc nuôi nấng và giáo dục con cái của mình” “Không ai được phép làmtổn hại đến trẻ em Nghĩa vụ của chúng ta là tôn trọng và bảo vệ các em Không ai đượcngược đãi trẻ em trai và gái về mặt thể chất, bằng ngôn ngữ hoặc tình cảm, kể cả cha mẹ,thầy cô giáo hay những người chăm sóc trẻ” [13] “Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ concái của mình tránh mọi nguy cơ xâm hại tình dục dưới mọi hình thức khác nhau Không một

ai, kể cả cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, anh em, họ hàng, thầy cô, hàng xóm hay những người xa

lạ, có thể lạm dụng và xâm hại trẻ em về mặt tình dục Lạm dụng tình dục trẻ em là một tội

ác Nếu cha mẹ hay những người có trách nhiệm chăm sóc các em nhận thấy những điều đó

mà không báo cho các nhà chức trách thì bị con là kẻ đồng phạm” [13]

Trong dự án về “Trẻ em và môi trường gia đình” (1990-1995) của UNESCO phối hợpcùng với UNICEF và WHO tập trung công sức vào những lĩnh vực có ý nghĩa sống còn nhưdinh dưỡng, kích thích trẻ phát triển toàn diện, cách nuôi dạy trẻ an toàn trong hoàn cảnhloạn lạc, về trẻ khuyết tật, về giáo dục tiền học đường bằng cách huy động mọi lực lượng vàtài nguyên cả hiện đại lẫn cổ truyền để cải thiện những năng lực và tiện nghi cho trẻ.UNESCO tìm cách góp phần mình một cách lâu dài và có hiệu quả để giúp trẻ phát triển và

tự tin vào đời

Trang 15

Tại nhiều nước phương Tây, thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng về nhữngtình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, cáchvượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữangười và người Đó là những kỹ năng quan trọng để con người làm việc hiệu quả và có thểthành công trong cuộc sống.

Ngoài ra, ở nước Cộng hoà Liên bang Nga đã có một số chương trình giáo dục kỹnăng xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục kỹ năng sống bản thân trướcnhững tình huống khó khăn trong cuộc sống dành cho trẻ em và phụ huynh Luật bảo vệ antoàn cho trẻ em được ban hành rộng rãi trên cả nước Cộng hoà Liên bang Nga Các địaphương cũng tuyên bố cam kết bảo vệ an toàn cho trẻ em dưới mọi hình thức [45]

Ở các nước trong khu vực Châu Á nói chung và những nước trong khu vực Đông Nam

Á, gần với Việt Nam thì việc nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm giáo dục các kỹ năng sống

cơ bản, trong đó có kỹ năng an toàn và tự bảo vệ cũng rất được quan tâm

Tại Nhật một quốc gia thường xuyên xảy ra động đất và các thảm họa thiên nhiên, nênviệc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được tiến hành từ bậc học mầm non với những bài họctình huống mô phỏng như thực tế giúp trẻ biết cách tự bảo vệ mình Tại Hàn Quốc, học sinhtiểu học được học cách đối phó, thích ứng với các tai nạn như cháy, động đất, thiên tai.Như vậy, một số quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống,đặc biệt kỹ năng sống cho trẻ em từ lứa tuổi mầm non Những chương trình này nhằm hìnhthành cho trẻ em những kỹ năng cơ bản giúp chúng thích ứng và thành công trong cuộcsống tương lai

1.1.1.2 Những tác phẩm về giáo dục kỹ năng sống

Bên cạnh các chương trình giáo dục kỹ năng sống, cũng có nhiều tác phẩm hữu ích

hỗ trợ sự hoàn thiện kỹ năng này cho người học Chẳng hạn: Tuyển tập “Những câuchuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình” của tác giả Bạch Băng cùng các đồng tác giả giúptrẻ nhận thức được tầm quan trọng của việc tự bảo vệ bản thân thông qua các câu chuyệndiễn ra trong chính cuộc sống của trẻ nhỏ [3] Hay trong tác phẩm: “45 cách dạy trẻ tự bảo

vệ mình” của tác giả Yoon Yeo Hong được nhà xuất bản Thông tin và truyền thông dịch vàxuất bản năm 2011 đã trình bày đan xen giữa lý thuyết và thực hành, giúp trẻ nhận biết cácmối nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và bảo vệ an toàn cho chính mình cũng như hướng dẫntrẻ cách đối phó hoặc thoát khỏi nguy hiểm tạm thời Những tình huống trong sách rất gần

Trang 16

gũi với cuộc sống hàng ngày của trẻ Ngôn từ của sách dễ hiểu, cụ thể, không giáo điều,nhiều hình ảnh minh họa, rất phù hợp với trẻ em [13].

Trong cuốn sách: “Protecting the Gift – Keeping Children and Teenagers Safe (andParents Sane)” (Giúp trẻ em và thiếu niên an toàn) của tác giả Gavin De Becker thuộc bảnquyền của nhà xuất bản Dell, New York Cuốn sách chia sẻ cái nhìn sâu sắc, những giảipháp thiết thực giúp phụ huynh hướng dẫn trẻ biết tự bảo vệ mình trước những tình huốngnguy hiểm: Cha mẹ sẽ làm gì nếu con mình bị lạc nơi công cộng; làm thế nào để nhận diệnmột kẻ lạm dụng tình dục; làm thế nào để nhận biết con của mình bị lạm dụng tình dục; làmthế nào để cải thiện sự an toàn cho trẻ [53]

Trong cuốn sách: “Raising the kids who can protect them self” (Nuôi dạy những đứatrẻ có thể tự bảo vệ mình) của tác giả Debbie và Mike Gardnert thuộc bản quyền của công tyMcGraw Hill, Mỹ Hai tác giả đã chia sẻ cho chúng ta phương pháp dạy trẻ xác định vàthoát khỏi những tình huống nguy hiểm; cách nhận dạng những đặc điểm vị trí thoát hiểm

cụ thể từ sân chơi đến những nơi mua sắm; và trẻ làm thế nào có được những quyết địnhthông minh về sự bảo vệ an toàn cho bản thân khi không có người lớn bên cạnh [52]

1.1.1.3 Một số công trình nghiên cứu khoa học về giáo dục kỹ năng sống:

Từ những thập niên 80 của thế kỷ XX những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sốngbắt đầu được quan tâm Người đầu tiên nghiên cứu vấn đề này là Giáo sư Tiến sĩ Gilbert

J Botvin là Giáo sư về sức khỏe cộng đồng, Chuyên gia cao cấp về Tâm lý học, Trưởngkhoa Phát triển kỹ năng sống thuộc trường Đại học Cornell, Mỹ Từ năm 1979, ông và cộng

sự đã lập nên một chương trình giáo dục kỹ năng sống cho giới trẻ từ 17-19 tuổi Lúc đó, kỹnăng sống cho người học cũng được quan tâm Một chương trình được lập ra nhằm giúpngười học có khả năng từ chối những lời rủ rê sử dụng chất gây nghiện, nâng cao sự tựkhẳng định bản thân, kỹ năng ra quyết định và tư duy phê phán [11]

Năm 2002, nhóm tác giả người Mỹ: Ellen J.Hahn, Urelody Power Noland, MaryKayRayens, Dawn Myers Christie đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về kỹ năng sống vàchỉ ra hiệu quả của giáo dục và độ tin cậy của việc thực hiện những chương trình giáo dục

kỹ năng sống Tuy nhiên, chương trình mới chỉ dừng lại ở góc độ giáo dục và đánh giáchương trình giáo dục kỹ năng sống chứ chưa có những đánh giá về mức độ của từng kỹnăng cụ thể

Trang 17

Năm 2003, tác giả Elizabeth Dunn và J.Gordo Arbuckle của trường Đại học Missourithuộc Colombia đã công bố kết quả nghiên cứu về kỹ năng sống của trẻ có cha mẹ phạm tội

và chỉ ra những thiếu hụt về kỹ năng sống của chúng trước các tình huống nguy hiểm

Năm 2005, tác giả Barry L.Boyd trong đề tài: “Developing life skills in youth” (Pháttriển kỹ năng sống trong giới trẻ) đã nghiên cứu các kỹ năng sống cần thiết cho thanh thiếuniên hiện nay là: kỹ năng tự ứng phó, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ…Như vậy, đề tài cũng đã đề ra những biện pháp giáo dục kỹ năng sống thông qua kỹ năng

tự ứng phó và kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ trong giới trẻ

Trong đề tài: “Teaching personal safety skills to young children” (Phương pháp dạy kỹnăng an toàn cho trẻ nhỏ) của tác giả Sandy K Wurtele và Julie Sarno Owens thuộc khoaTâm lý, Đại học Colorado tại Colorado Springs, CO, Mỹ Công trình đã nghiên cứu trên 406trẻ mẫu giáo nhằm xác định mức độ kỹ năng an toàn cá nhân, phòng chống lạm dụng tìnhdục ở trẻ từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao kỹ năng an toàn cho trẻ [19]

Vượt qua biên giới các nước phương Tây, chúng ta có thể điểm qua một số công trìnhnghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở Cộng hoà Liên bang Nga Các tácgiả Н Авдеева, О Князева, Р Стеркина đã nghiên cứu đề tài khoa học “Cơ sở lý luận vềgiáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn” với lập luận rằng, việc giáo dục kỹ năngsống cho trẻ mẫu giáo là rất quan trọng đến sự phát triển của trẻ trong xã hội, nhưngngười lớn cần quan tâm, hỗ trợ, giáo dục trẻ đạt được những kỹ năng này trong điều kiện

xã hội hiện đại

Đề tài “Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn” đượcnghiên cứu trên cơ sở đề án Chuẩn quốc gia về Giáo dục mầm non của Cộng hoà Liên bangNga năm 2010 Dựa trên những thành tựu giáo dục mầm non truyền thống của Nga, đề tàinghiên cứu đưa thêm vào những nội dung mới phản ánh những thay đổi trong đời sống xãhội hiện đại (ví dụ: mục «Trẻ em và những người xung quanh») Trong đề tài đã thể hiệnnhững giờ học mẫu và những biện pháp tổ chức các giờ học nhằm hỗ trợ trẻ em lĩnh hộikiến thức, kỹ năng sống cá nhân phù hợp với cách tiếp cận tâm lý- giáo dục học hiện đại[46]

Bằng việc xác định các nội dung cơ bản và định hướng phát triển của trẻ em, các tácgiả của chương trình đã nghiên cứu nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục kỹ năngsống cho trẻ mẫu giáo lớn ở tất cả các cơ sở giáo dục mầm non sao cho phù hợp với đặc

Trang 18

điểm cá nhân và độ tuổi của trẻ em, sự khác biệt văn hóa xã hội, bản sắc và điều kiện sốngcủa gia đình, cũng như tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương Phương châm giáodục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn dựa trên những vốn kinh nghiệm sống, sở thích vàđặc điểm hành vi của từng trẻ

Phần cuối cùng của đề tài nghiên cứu bao gồm các nguyên tắc cơ bản giáo dục kỹnăng sống cho trẻ, những kiến nghị đối với các giảng viên, cán bộ quản lý và giáo viênmầm non, cũng như các đề xuất hợp tác với phụ huynh học sinh

Các tác giả phân loại chương trình thành sáu chủ đề chính:

- Trẻ em và những người xung quanh

- Trẻ em và thiên nhiên

- Đứa trẻ ở nhà

- Sức khỏe của trẻ em

- Những cảm xúc tích cực ở trẻ

- Trẻ em trên các đường phố của thành phố

Mỗi chủ đề bao gồm nhiều đề tài nhỏ Ví dụ: trong chủ đề "Đứa trẻ ở nhà", bao gồmcác đề tài sau đây:

- Nhận diện người lạ, người quen;

- Tình huống nguy hiểm trong cuộc sống hàng ngày

Sau khi phân tích một số chủ đề, các tác giả đã đưa những kinh nghiệm thực tiễn làmnền tảng cho Chương trình của Н.Н Авдеевой, О.Л Князевой, Р.Б Стеркиной "Cơ sở lýluận về giáo dục kỹ năng sống của trẻ mầm non” Kết quả của đề tài nghiên cứu được xemnhư một tài liệu hỗ trợ giáo viên mầm non trong giáo dục trẻ em thể hiện nhu cầu và cách

xử lý trong các tình huống nguy hiểm [46]

Vào năm 2012, đề tài “Giáo dục các kỹ năng an toàn cho trẻ mẫu giáo” của các tác giả

là giảng viên trường Đại học Sư phạm Ulianov đã đưa ra những nhận định: báo cáo đáng sợcủa tội phạm đối với trẻ em đã chứng minh về sự thụ động của trẻ khi đối mặt với sự nguyhiểm Nhiệm vụ chính của giáo viên và phụ huynh là lựa chọn các hình thức, nội dung, biệnpháp giáo dục phù hợp với sự phát triển của trẻ Qua đó, dạy cho trẻ cách phòng tránhnhững mối đe doạ, sự nguy hiểm trong thực tế, nếu gặp phải thì trẻ có thể biết cách xử lý và

tự bảo vệ mình

Biện pháp trò chơi được lựa chọn đầu tiên để tiến hành giáo dục hình thành các kỹnăng an toàn của trẻ An toàn cho trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo có thể là một chủ đề chơi

Trang 19

trong các trường mầm non ở Cộng hòa Liên Bang Nga Trong trò chơi, trẻ em sẽ được họcnhững mẫu hành vi tự tin để xử lý tình huống nguy hiểm Trước khi chơi, trẻ em cần phảinói về tình huống nguy hiểm với những đứa trẻ khác, phân tích lựa chọn hành vi đúng đểkhông dẫn đến một hậu quả đáng tiếc Do đó, việc giáo dục các kỹ năng an toàn cho trẻ mẫugiáo là rất cần thiết nhằm giúp trẻ ứng phó với những tình huống xảy ra trong thực tế cuộcsống hôm nay và trong tương lai [50]

Nhìn chung, phần lớn các công trình nghiên cứu trên thế giới về giáo dục kỹ năngsống cho trẻ mầm non còn hạn chế cả về số lượng, nội dung nghiên cứu chủ yếu về giáodục kỹ năng sống dành cho trẻ tiểu học và vị thành niên

1.1.2 Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục ở Việt Nam

1.1.2.1 Các chương trình giáo dục kỹ năng sống tại Việt Nam

Những năm gần đây, kỹ năng sống là một trong những thuật ngữ được nhắc đếnnhiều trong các câu chuyện giáo dục Với ý nghĩa quan trọng và cần thiết cho mọi người đặcbiệt là trẻ em, nó trở thành vấn đề được cả ngành giáo dục và xã hội quan tâm

Nhiều chương trình, dự án giáo dục kỹ năng sống do các Tổ chức phi chính phủ phốihợp với Chính phủ Việt Nam đã được thực hiện Dự án: “Giáo dục phòng tránh tai nạn bommìn cho học sinh tiểu học” được tiến hành với sự phối hợp giữa Sở giáo dục và đào tạo tỉnhQuảng Trị với Tổ chức Cứu trợ - Phát triển Mỹ Cathilic Relief Services Dự án giúp cáctrường tiểu học trong khu vực tiếp nhận kỹ năng để thực hành và tuyên truyền các thôngđiệp giáo dục phòng tránh bom mìn và đối xử thân ái với người khuyết tật đến cộng đồng[9]

Chương trình “Phòng tránh tai nạn thương tích” do Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ emphối hợp với Tổ chức UNICEF triển khai Chương trình nhằm giúp giảm thiểu tỉ lệ trẻ em bịchết và tàn tật do tai nạn thương tích ở Việt Nam

Chương trình “Bạn hữu trẻ em” được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình hợp tácquốc gia giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2010-2016 Đây là chương trìnhkết hợp các chương trình giáo dục, phát triển và sống còn của trẻ em, bảo vệ trẻ em và chínhsách xã hội của UNICEF hỗ trợ cung cấp các dịch vụ lồng ghép cho trẻ em ở Đồng Tháp,Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, giáo dục kỹ năngphòng chống xâm hại trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, “Kỹ năng từ chối –

Trang 20

nói không” với những cám dỗ của cuộc sống; trang bị cho trẻ những kỹ năng sống mìnhtrước những nguy cơ như ma túy, lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động, biết làm chủchính mình, kỹ năng nhận thức và quản lý cảm xúc, kỹ năng điều hành sinh hoạt nhóm…[44].

Bộ Giáo dục đã phối hợp với Ngành Công An, Ủy ban An toàn giao thông quốc giađưa ra “Chương trình giảng dạy thí điểm và tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu luật an toàn giaothông” cho trẻ em các trường từ mẫu giáo đến phổ thông trung học để trang bị những kiếnthức ban đầu về luật giao thông Tuy nhiên, chương trình này mới chủ yếu đưa ra các thôngđiệp về an toàn mà chưa chú trọng sử dụng các phương pháp giáo dục làm thay đổi hành vingười học [9]

Nhìn chung, các chương trình trên đã giúp trẻ em, thanh thiếu niên nhận thức kỹ năngsống là cần thiết đối với bản thân và bước đầu giáo dục hình thành kỹ năng này cho bảnthân Đồng thời nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc thực hiệnquyền trẻ em Tuy nhiên, các chương trình này phạm vi triển khai còn cục bộ, thời gian thựchiện ngắn, không thường xuyên vì vậy đối tượng thụ hưởng lợi ích của chương trình cònhạn chế Hơn nữa, khi các dự án kết thúc thì chưa có các biện pháp để duy trì các nội dungcủa dự án cũng như chưa có những khảo sát đánh giá sự kết nối các nội dung của dự án,chương trình Mặt khác, đối tượng chủ yếu của các chương trình, dự án là học sinh tiểu học,trung học cơ sở, trung học phổ thông và chưa thật sự có nhiều chương trình, dự án dành chotrẻ mẫu giáo

1.1.2.2 Những tác phẩm về giáo dục kỹ năng sống

Tác giả Huyền Linh trong cuốn sách: “Cẩm nang tự vệ an toàn trong nhà” và “Cẩmnang tự vệ an toàn ra ngoài” của nhà xuất bản Thanh niên, năm 2011 đã hướng dẫn trẻ rấtchi tiết cách xử lý các tình huống thiếu an toàn với bản thân Với những tình huống rất đadạng và gần gũi với cuộc sống của trẻ nhỏ [22], [23] Trong tác phẩm: “Cẩm nang tự vệ chocon bạn” và “Cẩm nang an toàn cho con bạn” của tác giả Lâm Trinh do nhà xuất bản VănHóa Thông Tin phát hành năm 2011 đã đưa ra những cách giúp trẻ biết ứng phó trongnhững tình huống nguy hiểm, những hoàn cảnh thiếu an toàn [37], [38]

Từ năm học 2011- 2012 khi Bộ giáo dục và Đào tạo chính thức đưa nội dung giáo dục

kỹ năng sống vào chương trình chính khóa cho học sinh tiểu học thì cũng đã có nhiều tàiliệu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học được biên soạn chẳng hạn tài liệu: “Hoạt

Trang 21

động thực tiễn tìm hiểu kỹ năng sống dành cho học sinh” của nhóm tác giả Trần Thời Kiến(Chủ biên), Đường Lệ, Đường Phương của nhà xuất bản Giáo dục đã trình bày những cáchxác lập chủ đề hoạt động, lập kế hoạch hoạt động, kế hoạch hoạt động cụ thể nhằm hìnhthành kỹ năng sống phù hợp với học sinh tiểu học, trong đó có kỹ năng an toàn, giúp trẻ họcđược cách tự bảo vệ và tự cứu lấy mình.

Tác giả Vũ Thị Ngọc Minh và Nguyễn Thị Nga trong cuốn sách: “Giúp bé có kỹ năngnhận biết và phòng tránh một số nguy cơ không an toàn” của nhà xuất bản Dân trí, năm

2012 cũng đã đưa ra 9 tình huống phổ biến trong cuộc sống mà trẻ có thể gặp nguy hiểmcùng với những biện pháp giúp phụ huynh và giáo viên hướng dẫn, giáo dục cho trẻ [24].Trong bộ sách: “Tủ sách trường học an toàn” của nhóm tác giả Nam Hồng, DươngPhong, Ngọc Lan của nhà xuất bản Đại học Sư phạm Bộ sách gồm 4 cuốn: Ngôi nhà antoàn cho trẻ, An toàn cho trẻ trên đường phố và nơi thiên nhiên, An toàn cho trẻ trong cộngđồng xã hội, Sơ cấp cứu các loại tổn thương do tai nạn ở trẻ em Bộ sách giúp trẻ đối mặt cóhiệu quả trước những nguy hiểm có thể xảy ra khi tự mình tiếp xúc với môi trường thiênnhiên và bên ngoài xã hội cũng như giúp trẻ biết rõ nguyên nhân của các tai nạn có thể xảy

ra đối với trẻ ở nơi công cộng

1.1.2.3 Một số công trình nghiên cứu khoa học về giáo dục kỹ năng sống ở Việt Na

m

Hiện nay, tại Việt Nam những công trình nghiên cứu khoa học độc lập về kỹ năng tựbảo vệ và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ còn hạn chế về số lượng Tuy nhiên, kỹ năngsống cũng được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học về kỹ năngsống của trẻ Chẳng hạn, trong đề tài nghiên cứu về: “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam”của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn đãkhái quát những kỹ năng sống đặc thù với từng lứa tuổi trong đó với trẻ mầm non có kỹnăng phòng tránh tai nạn, thương tích Đề tài đã khái quát được những nội dung giáo dục kỹnăng sống đã được triển khai tại Việt Nam bao gồm nội dung giáo dục kỹ năng phòng chốngtai nạn, thương tích cho trẻ em, các kỹ năng thực hiện quyền trẻ em [7] Tuy nhiên, đề tàichưa có những đánh giá cụ thể biểu hiện thực trạng kỹ năng sống của trẻ mầm non

Tác giả Mai Hiền Lê trong đề tài: “Kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn trường mầmnon Thực hành Thành Phố Hồ Chí Minh” năm 2010 cho thấy kỹ năng giữ an toàn cá nhâncủa trẻ còn ở mức độ thấp [18]

Trang 22

Tác giả Lê Thị Thanh Thúy trong đề tài nghiên cứu: “Biện pháp giáo dục kỹ năngsống cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi” đề tài được triển khai nghiên cứu tạimột số trường mầm non tại Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tự phục vụ và tựbảo vệ mình… đạt ở mức độ thành thạo chiếm tỉ lệ thấp [35].

Năm 2012, trong đề tài nghiên cứu cấp cơ sở: “Kỹ năng tự vệ cho trẻ 5-6 tuổi trongtrường mầm non tại Thành Phố Hồ Chí Minh” của tác giả Mai Hiền Lê cho thấy mức độhình thành kỹ năng sống của trẻ còn thấp [19]

Hiện nay, các công trình nghiên cứu một cách hệ thống, dựa vào những cơ sở giáo dụchọc để tìm hiểu thực trạng giáo dục cũng như đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượnggiáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục hầu như chưa có Vì vậy, việc xácđịnh các nội dung, biện pháp giáo dục kỹ năng này là việc làm cần thiết

Như vậy, kỹ năng sống là một trong những kỹ năng quan trọng và cần thiết của trẻ,tuy nhiên việc nghiên cứu kỹ năng này còn hạn chế, mới chỉ dừng lại trong các chươngtrình triển khai giáo dục kỹ năng này

Tại Việt Nam, những tài liệu biên soạn cho kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tưthục còn ít Những công trình nghiên cứu khoa học về giáo dục kỹ năng sống của trẻchưa nhiều, do vậy chưa có những đánh giá cụ thể và mang tính khái quát về thực trạng củaviệc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục kỹ năng này cho trẻ

1.2 Lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục 1.2.1 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống, kỹ năng sống

1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng

Nhắc đến kỹ năng sống, chúng ta nên bắt đầu tìm hiểu thuật ngữ kỹ năng, kỹ năng

sống để có một cách nhìn tổng thể và khoa học Khi bàn về khái niệm kỹ năng, các tác giả

đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng Song có thể khái quát lại thành hai cáchđặt vấn đề khác nhau của các tác giả

Cách thứ nhất: xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kĩ thuật hành động

Theo cách đặt vấn đề thứ nhất có các tác giả: Trần Trọng Thủy, V.A.Kruteski,Ph.N.Gonobolin, A.G.Kovaliov…

Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động con

người nắm được cách thức hành động tức là hành động có kỹ năng” [16].

Trang 23

Theo tác giả V.A.Kruteski trong cuốn sách Tâm lý học xuất bản năm 1980, cho rằng:

“Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động- cái mà con người lĩnh hội được”.

A.G.Kovaliov thì nhấn mạnh: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp

với mục đích và điều kiện của hành động” [16].

Các tác giả này cho rằng kỹ năng được xem là phương tiện thực hiện hành động phùhợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững, người có kỹ nănghoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành độngtheo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động

Như vậy, theo quan niệm thứ nhất có thể nhận thấy kỹ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động Họ coi trọng cách thức thực hiện hành động hơn kết quả của hành động đó.

Cách thứ hai: xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người

Theo cách đặt vấn đề thứ hai có các tác giả: K.K.Platonov, G.G.Golubev,N.D.Levitov, Lê Văn Hồng, Vũ Dũng, Huỳnh Văn Sơn…

Tác giả K.K.Platonov và G.G.Golubev cho rằng: “Kỹ năng là năng lực của người thực

hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong khoảng thời gian tương ứng” [43].

N.D.Levitov quan niệm rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào

đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [43].

Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri

thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [10].

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả

một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật mà còn biểu hiện năng lực của con người” [33].

Như vậy, cách xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người để thực hiện cáccông việc có kết quả đã bao hàm cả quan niệm kỹ năng là kĩ thuật hành động trong đó, bởichỉ khi sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần thục thì mới có được kết quả côngviệc đạt chất lượng

Trang 24

Từ hai cách đặt vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy, một người được coi là có kỹnăng trong một lĩnh vực nào đó phải là người:

- Nắm được mục đích hành động, có tri thức về hành động, nắm được cách thức thực hiện và các điều kiện thực hiện hành động

- Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của hành động

- Đạt được kết quả hành động do mục đích đề ra

- Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện đã thay đổi

Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đưa ra các chỉ báo đánh giá mức độ thành thạo của kỹnăng như sau:

+ Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động

+ Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động

+ Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động

+ Hiệu quả của hành động

Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên Nếu chỉ sử dụng mộtchỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn xem người có tri thức, hoặc người cóhành động nhanh hoặc người làm việc hiệu quả là người có kỹ năng) [17]

Do đó, từ các quan điểm trên chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng tri

thức, kinh nghiệm một cách linh hoạt để thực hiện có kết quả một hành động nào đó trong những điều kiện phù hợp.

* Các giai đoạn hình thành kỹ năng:

Khi nghiên cứu về các giai đoạn hình thành kỹ năng cũng có nhiều quan điểm khác nhau Các tác giả chia các giai đoạn hình thành kỹ năng thành nhiều giai đoạn khác nhau.Theo Nguyễn Quang Uẩn, sự hình thành kỹ năng chia thành 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Nắm vững các tri thức về hành động hay hoạt động

- Giai đoạn 2: Thực hiện hành động theo các tri thức đó Để thực hiện được hành động

có kết quả, tránh phương pháp thử và sai thì phải có sự tập dượt, phải có sự quan sát mẫu,làm thử Hành động càng phức tạp, sự tập dượt càng phải nhiều Muốn kỹ năng có sự ổnđịnh và mềm dẻo có thể vận dụng vào các điều kiện tương tự thì sự tập dượt càng đa dạng

và kĩ càng Sau này kỹ năng ổn định có thể vận dụng được trong nhiều tình huống khácnhau [43]

Theo tác giả Hoàng Thị Oanh thì có 4 giai đoạn hình thành kỹ năng:

Trang 25

- Giai đoạn nhận thức: là giai đoạn con người nhận thức đầy đủ mục đích, cách thức,điều kiện hành động Ở giai đoạn này, người ta chỉ nắm lý thuyết, chưa hành động thực sự.Việc nắm lý thuyết cần thiết có thể do tự học hoặc do người khác hướng dẫn Giai đoạn nàyrất quan trọng vì nếu không xác định được mục đích thì sẽ không có hướng hành động được

và để hành động có hiệu quả con người phải thực hiện được các điều kiện cần thiết của hànhđộng đó

- Giai đoạn làm thử: là giai đoạn bắt đầu hoạt động Có thể người ta hoàn toàn làmtheo mẫu trên cơ sở đã nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động Cóthể người ta tự hành động theo hiểu biết của mình Ở giai đoạn này hành động vẫn cònnhiều sai sót, các thao tác còn lúng túng, hành động có thể đạt kết quả ở mức độ thấp hoặckhông đạt kết quả

- Giai đoạn bắt đầu hình thành kỹ năng: Ở giai đoạn này người ta có thể hành độngđộc lập, ít sai sót, các hành động thuần thục hơn, hành động đạt kết quả trong những điềukiện quen thuộc

- Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện: Là giai đoạn hành động được thực hiện có kếtquả không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện khác nhau, các thao tácthuần thục, các hành động được thể hiện có sáng tạo [28]

Tóm lại, mặc dù có nhiều cách phân chia các giai đoạn hình thành kỹ năng Nhưngchung quy lại để hình thành một kỹ năng nào đó, cần phải bắt đầu từ giai đoạn nắm được trithức về kỹ năng và sau đó là đến giai đoạn hình thành kỹ năng từ chưa hoàn thiện đến hoànthiện hơn

1.2.1.2 Khái niệm kỹ năng sống

Kỹ năng sống (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổitrong mọi lĩnh vực

Sống là một quá trình hoạt động đòi hỏi con người phải có những kỹ năng nhất định vàrất khó để liệt kê đầy đủ những kỹ năng cần thiết cho con người trong quá trình sống.Nhưng thuật ngữ “sống” ở đây được nhìn nhận dưới góc độ tâm lí và góc độ tâm lí – xã hội.Như vậy, những kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn không được đề cập và phân tíchnhư kỹ năng sống mặc dù nó có mối quan hệ rất chặt chẽ để con người có thể sống, tồn tại

và phát triển Hơn thế nữa, nếu hiểu theo nghĩa hẹp của kỹ năng sống thì sống có nghĩa làtồn tại cho nên những kỹ năng sống được phân tích ở đây là những kỹ năng giúp cho con

Trang 26

người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lí [33] Như vậy, khái niệm “kỹ năng sống” ở đâyđược chọn lọc để hướng đến những kỹ năng cần thiết mà con người, đặc biệt là thế hệ trẻ cóthể tồn tại một cách đúng nghĩa trong cuộc sống xã hội.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng

và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức củacuộc sống hàng ngày

Theo Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), kỹ năng sống là cách tiếp cận giúpthay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về khả năngtiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng

Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho rằng:

“Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia

vào cuộc sống hàng ngày” Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết,

gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức

được hậu quả,…; Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,… ; Học để sống với người khác, gồm các kỹ năng xã hội như:

giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;

Học để làm, gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục

tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…

Theo tác giả Xkomni thì kỹ năng sống là khả năng con người thực hiện những hành vithích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống Kỹ năng sống thể hiện năng lựcsống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã hội,… [33]

Kỹ năng sống còn có nghĩa là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năngphân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó (UNICEF, TháiLan: 1995) Ngoài ra, “kỹ năng sống” còn có nghĩa là khả năng ứng phó với các tình huốngnguy cơ để dự phòng đối với các vấn đề sức khỏe (UNAIDS: 1997) [6]

Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng màcon người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lýnhững vấn đề thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người

Từ những khái niệm trên, có thể kết luận rằng kỹ năng sống là khả năng làm chủ bảnthân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khảnăng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Trang 27

- Đó là khả năng sống cuộc sống hằng ngày của mỗi người (với nhiều tình huống khácnhau) một cách hợp lí và có ích cho người khác.

- Đó là khả năng mà mỗi người ứng xử, ứng phó trước các tình huống trong cuộc sống

- Đó là khả năng của mỗi người làm chủ bản thân, ứng xử với những người khác vàvới xã hội một cách hợp lí trong cuộc sống hằng ngày của mình

Như vậy, có khá nhiều khái niệm rất rõ về kỹ năng sống, nhưng có thể nêu lên một

cách ngắn gọn: Kỹ năng sống là hành động tích cực, có liên quan đến kiến thức và thái độ

trực tiếp hướng vào hoạt động của cá nhân, hoặc tác động vào người khác, hoặc hướng vào những hoạt động làm thay đổi môi trường xung quanh, giúp mỗi cá nhân ứng phó có hiệu quả với các yêu cầu, thách thức của cuộc sống hằng ngày [6].

* Phân loại kỹ năng sống:

Tùy theo những quan niệm khác nhau mà sẽ có nhiều cách phân loại kỹ năng sốngkhác nhau Có thể khái quát lại như sau:

 Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống gồm ba nhóm kỹ năng:

+ Nhóm một: Nhóm kỹ năng nhận thức gồm các kỹ năng cơ bản: tự nhận thức bảnthân, tự đặt mục tiêu và xác định mục tiêu, kỹ năng tư duy, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng raquyết định và giải quyết vấn đề

+ Nhóm hai: Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc gồm các kỹ năng: kỹ năng kiềm

chế và kiểm soát được cảm xúc, kỹ năng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc

+ Nhóm ba: Nhóm kỹ năng xã hội gồm các kỹ năng: kỹ năng cảm thông, kỹ năng chia

sẻ, hợp tác, kỹ năng gây thiện cảm, kỹ năng giao tiếp truyền thông

Theo Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), kỹ năngsống được phân chia thành những nhóm như sau:

+ Nhóm một: Nhóm kỹ năng chung gồm các kỹ năng cơ bản mà mỗi người đều phải

có để có thể thích ứng với cuộc sống chung như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đếncảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội

+ Nhóm hai: Nhóm kỹ năng chuyên biệt gồm một số kỹ năng sống được thể hiện trongcác lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, các kỹnăng liên quan đến giới và giới tính, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các

kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, đến môi trường cộng đồng…

Trang 28

 Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) là tổ chức có những nghiên cứu sâu

về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân Họ phân chia thành ba nhóm

kỹ năng cơ bản dưới đây:

+ Nhóm một: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình gồm một số kỹ năng như: tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống, kỹ

năng bảo vệ bản thân,…

+ Nhóm hai: Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác gồm các kỹ năng như:

kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm,…

+ Nhóm ba: Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả gồm một số kỹ năngnhư: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn đề,…

Ở mỗi góc độ khác nhau, cách phân loại kỹ năng sống có thể khác nhau, tuy nhiên, dù

có phân loại trên góc nhìn nào đi nữa thì kỹ năng sống phải là những khả năng thuộc vềnăng lực cá nhân, giúp bản thân tồn tại và làm chủ cuộc sống của mình cũng như đạt đượcnhững mục tiêu sống một cách hiệu quả [33]

Dưới góc nhìn thực tế, việc giáo dục kỹ năng sống trên bình diện kỹ năng tâm lí hay kĩnăng tâm lí- xã hội luôn cho thấy giữa các kỹ năng có sự liên quan khá mật thiết với nhau.Chính vì lẽ đó, việc quan tâm đến từng loại kỹ năng lại không thực sự có ý nghĩa bằng việcquan tâm đến bản chất của kỹ năng đó cũng như những biện pháp rèn luyện và quá trìnhhình thành từng loại kỹ năng này đối với từng cá nhân cụ thể

Như vậy, chúng tôi nhận thấy rằng, nếu xét dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá

nhân theo cách phân loại kỹ năng sống của UNICEF thì kỹ năng sống là một trong

những kỹ năng cần thiết cho trẻ em nói riêng và con người nói chung Trong sự phát triểncủa cá nhân, mỗi người đều có nhu cầu được đảm bảo về mặt an toàn, cũng như mỗi người

sẽ gặp nhiều thử thách, tình huống khó khăn và nguy hiểm… Việc quan tâm giáo dục, rènluyện kỹ năng sống này cho trẻ em và mọi người sẽ đảm bảo sự an toàn cho cá nhân, giúp

họ vượt qua được những “chướng ngại vật” trong cuộc đời, để có thể tồn tại và phát triểntrong gia đình và cộng đồng xã hội

1.2.1.3 Khái niệm kỹ năng sống

Khi nói đến thuật ngữ “tự bảo vệ” thông thường người ta thường liên tưởng đến việc

một cá nhân nào đó có thể đang gặp nguy hiểm đe dọa đến sự an toàn, sinh mạng và họ phảinghĩ đến việc dùng cách thức nào đó chẳng hạn như: kêu cứu, võ thuật,… để chống trả, ứng

Trang 29

phó với những tình huống khó khăn đó Nói cách khác, “tự bảo vệ” nghĩa là chủ thể hay cánhân nào đó cần có những kiến thức, những cách ứng xử phù hợp nhất trong những hoàncảnh nhất định để tự bảo vệ lấy bản thân Những thuật ngữ gần nghĩa với kỹ năng sống:

* Kỹ năng thoát hiểm

* Kỹ năng sinh tồn

* Kỹ năng sống còn

* Kỹ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm

* Kỹ năng ứng phó với tình huống khẩn cấp

* Kỹ năng tự vệTheo từ điển Tiếng Việt tự bảo vệ có nghĩa là: Tự che chở, tự bảo vệ lấy mình, tựmình giữ lấy mình, chống lại sự xâm hại của kẻ khác [19]

Ngoài những thuật ngữ nêu trên, đôi khi chúng ta còn được nghe đến thuật ngữ “giữ antoàn” Theo tác giả Yayne Dendhire, trong bộ sách Healthy Habits của nhà xuất bản giáo

dục Macmillan, Úc đã đưa ra khái niệm về giữ an toàn (safety) như sau: “Giữ an toàn là

tránh khỏi những nguy hại, khỏi những mối nguy hiểm như bị tổn thương về thể xác hoặc tinh thần” [55].

Như vậy, “giữ an toàn” và “tự bảo vệ” đều cùng mục đích là đem lại sự an toàn cho cánhân nào đó Vì vậy, chúng tôi cho rằng:

“Kỹ năng sống là khả năng con người vận dụng những kiến thức để nhận diện đồng

thời biết cách ứng phó được trước các tình huống bất lợi, những hoàn cảnh nguy hiểm có thể xảy đến để bản thân được an toàn”.

Và: “Kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tư thục là khả năng trẻ 5-6 tuổi vận

dụng những kiến thức, kinh nghiệm của trẻ để nhận diện đồng thời biết cách ứng phó được trước các tình huống bất lợi, những hoàn cảnh nguy hiểm xảy đến để bản thân được an toàn”.

Các giai đoạn hình thành kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tư thục :

Dựa vào cách phân loại các giai đoạn hình thành kỹ năng của tác giả Hoàng Thị Oanh,theo chúng tôi với trẻ tại lớp Mầm non tư thục để hình thành kỹ năng nói chung và kỹ năngsống nói riêng cần trải qua các giai đoạn:

Trang 30

* Giai đoạn nhận thức: là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành kỹ năngsống Giai đoạn này rất quan trọng vì để hành động có hiệu quả con người phải thực hiện

và nắm được những điều kiện cần thiết của hành động đó Ở giai đoạn này, người lớn hoặc

Trang 31

GVMN hướng dẫn trẻ nắm được lý thuyết hành động, nhận thức đầy đủ mục đích, cáchthức, điều kiện hành động chứ chưa hành động thực sự.

* Giai đoạn làm thử: là giai đoạn trẻ bắt đầu hành động Lúc này, trẻ hoàn toàn

có thể làm theo mẫu trên cơ sở nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hànhđộng hoặc trẻ có thể hành động theo hiểu biết của mình Ở giai đoạn này, hành động của trẻvẫn còn nhiều sai sót, các thao tác còn lúng túng, hành động có thể đạt ở mức độ thấp hoặckhông đạt kết quả

* Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành: là giai đoạn trẻ đã có thể hành động độclập, ít sai sót, các hành động tự bảo vệ thực hiện thuần thục hơn, hành động đạt kết quảtrong những điều kiện quen thuộc

* Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện: là giai đoạn trẻ thực hiện hành động tự bảo

vệ có kết quả không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong những hoàn cảnh mới, cácthao tác thuần thục, các hành động đã có sự sáng tạo [19]

1.2.2 Một số đặc điểm tâm lí của trẻ tại lớp Mầm non tư thục liên quan đến việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

1.2.2.1 Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ tại lớp Mầm non tư thục

- Trí nhớ hình ảnh: Trí nhớ hình ảnh đặc biệt phát triển Trẻ nhớ những bức tranh màtrẻ đã vẽ, nhớ phong cảnh mà trẻ đã tham quan Biểu tượng thế giới xung quanh ở trẻ đã gắnkết với nhau, mang tính sinh động và hấp dẫn

- Trí nhớ từ ngữ logic: Vốn tri thức, biểu tượng và những khái niệm ban đầu về thế

giới xung quanh, đòi hỏi trẻ phải nắm vững ngôn ngữ, điều này giúp trẻ phát triển trí nhớ từngữ logic

Trang 32

- Trí nhớ cảm xúc: Trẻ nhớ những cảm xúc vui buồn mà trẻ đã trải qua Trí nhớ cảm

xúc là một dạng của sự hồi tưởng giúp đời sống của trẻ thêm phong phú và tinh tế Sự hồitưởng có liên quan đến tự ý thức của trẻ Trong hồi tưởng của trẻ có những điều liên quanđến những thời điểm quan trọng trong cuộc đời đứa trẻ và trong quan hệ với người khác Trínhớ tác động đến quá trình hình thành nhân cách

* Đặc điểm phát triển tư duy:

Ở trẻ tại lớp Mầm non tư thục , tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình ảnh Khi giảiquyết vấn đề đặt ra, trẻ hay suy nghĩ dựa vào tư duy trực quan hình ảnh Trẻ giải quyết cácvấn đề dựa vào các hình ảnh cụ thể vẫn dễ dàng hơn khi bài toán đó được giao dưới hìnhthức các con số trừu tượng Do đó, các bài tập, các tình huống của giáo viên đưa ra cho trẻthực hiện cần có nhiều hình ảnh minh họa

* Đặc điểm phát triển tưởng tượng:

Trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ Tuổi mẫu giáo là giai đoạnphát cảm về sự phát triển tưởng tượng Trẻ rất hay tưởng tượng Hình ảnh tưởng tượng củatrẻ bay bổng, giàu màu sắc xúc cảm và đôi khi phi hiện thực

Tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủ định Tưởng tượng táitạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn Tưởng tượng có chủ đích dần được hìnhthành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch và thực hiện ý tưởng ấy Trẻ có khả năngtưởng tượng thầm trong đầu, không cần chỗ dựa trực quan ở bên ngoài Tưởng tượng sángtạo dần được phát triển

Do vậy, khi tiến hành các bài tập với các tình huống giả định yêu cầu trẻ đóng vai cácnhân vật trong tình huống thì trẻ hoàn toàn có khả năng thực hiện được

1.2.2.2 Đặc điểm phát triển nhân cách của trẻ tại lớp Mầm non tư thục

* Sự phát triển của các động cơ hành vi:

Ở tuổi này những động cơ “xã hội” bắt đầu chiếm vị trí ngày càng lớn trong số cácđộng cơ đạo đức Lúc này, trẻ đã hiểu rằng những hành vi của chúng có thể mang lại lợi íchcho những người khác và chúng bắt đầu thực hiện những công việc vì người khác theo sángkiến của riêng mình

Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo trở nên đa dạng: động cơ muốn tự khẳng định mình,động cơ muốn nhận thức, muốn khám phá thế giới xung quanh, động cơ thi đua, động cơ xãhội… Cần phải quan tâm đến nội dung động cơ và cần phát huy động cơ tích cực, ngăn chặn

Trang 33

động cơ tiêu cực Ở lứa tuổi này bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của cácđộng cơ Đó là một cấu tạo tâm lý mới trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo.Trong mỗi công việc trẻ đều có một hệ thống thứ bậc động cơ thúc đẩy.

Ở lứa tuổi này, hành vi của trẻ tương đối xác định Nếu động cơ xã hội chiếm ưu thếthì trẻ sẽ thực hiện những hành vi mang tính đạo đức tốt đẹp Ngược lại, nếu động cơ nhằmthỏa mãn quyền lợi riêng tư chiếm ưu thế thì trong nhiều trường hợp trẻ sẽ hành động nhằmtìm kiếm những quyền lợi cá nhân ích kỷ, dẫn đến những vi phạm về chuẩn mực đạo đức xãhội Do vậy, cần phải tạo ra những tình huống để gợi lên những hành vi đạo đức tốt đẹp

* Sự hình thành ý thức:

Đến cuối tuổi mẫu giáo thì ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng Đến lúcnày trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanhđối xử với mình ra sao và tại sao mình có hành động này hay hành động khác Ý thức bảnngã của trẻ được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình,

về những ưu điểm và khuyết điểm của bản thân, về những khả năng hay khiếm khuyết.Đến cuối tuổi này, trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ

sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để noi gương những người tốt,việc tốt

Sự tự ý thức của trẻ còn thể hiện trong việc trẻ nhận ra mình là trai hay gái và cónhững hành vi ứng xử phù hợp với giới tính của mình

Ý thức bản ngã được xác định giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình phùhợp với chuẩn mực xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội

1.2.1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ tại lớp Mầm non tư thục

Các hình thức ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ được hình thành, tính biểu cảm của ngônngữ được phát triển Đứa trẻ nắm được quy luật của tiếng mẹ đẻ, học cách sắp xếp những ýnghĩ của mình một cách logic, chặt chẽ Sự lập luận trở thành phương pháp giải quyết cácnhiệm vụ trí tuệ, ngôn ngữ trở thành công cụ của tư duy và phương tiện của nhận thức.Chức năng điều khiển của ngôn ngữ được phát triển biểu hiện trong sự hiểu các tácphẩm văn học, sự thực hiện hướng dẫn và yêu cầu của người lớn Chức năng lập kế hoạchcủa ngôn ngữ được hình thành khi giải quyết các nhiệm vụ thực hành và nhiệm vụ trí tuệ

Trang 34

Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trở thành hoạt động đặc biệt dưới các hình thức như: sựlắng nghe, đàm thoại, thảo luận và kể chuyện Hoàn thiện quá trình phát triển ngữ âm, xuấthiện những tiền đề nắm vững ngữ pháp [19].

1.2.3 Một số đặc điểm về kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tư thục

Ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là đối với trẻ 5-6 tuổi thì sự nhận thức và quá trình lĩnhhội, tích lũy kinh nghiệm, biểu tượng, vốn sống so với các lứa tuổi trước đã khá phong phúhơn Điều đó giúp trẻ có những nhận biết cơ bản về một số đồ vật không an toàn, những nơinguy hiểm, một số tình huống khó khăn… và có những cách ứng phó và bảo vệ bản thân.Nói cách khác, trẻ tại lớp Mầm non tư thục đã có những hiểu biết nền tảng và có kỹ năngsống cho bản thân trẻ Tuy nhiên, kỹ năng sống của trẻ còn nhiều hạn chế

Thực tế chúng ta thấy rằng, do đặc trưng tâm lí lứa tuổi mẫu giáo, trẻ 5-6 tuổi thườnghay bắt chước các hành động của người lớn Trẻ rất dễ bị mất tập trung bởi những cảnh vậtmới lạ hoặc những đồ vật trong tay trẻ nếu thình lình rơi xuống đất hoặc lăn vào những nơinguy hiểm như hồ, ao, bể chứa nước, giếng, bụi rậm,… Trẻ sẽ tìm cách đuổi theo mà khôngchú ý đến những nguy hiểm trước mắt Hơn nữa, trẻ tuổi mẫu giáo ít khi ghi nhớ những điều

gì nếu chỉ nói một lần với trẻ Để trẻ có thể nhớ những gì người lớn dạy, hãy nhẹ nhàngnhắc đi nhắc lại nhiều lần cho đến khi trẻ nhớ

Nhu cầu khám phá thế giới, môi trường xung quanh là một trong các nhu cầu rất lớncủa trẻ Trẻ luôn khao khát tìm tòi, khám phá mọi thứ xung quanh bất kể chúng có an toànhay không Đặc biệt, đối với những đồ vật hàng ngày bị người lớn cấm đoán, không chophép được tiếp xúc hoặc chơi thì khi không có sự giám sát của người lớn trẻ sẽ tò mò muốnkhám phá xem chúng như thế nào.Vì thế, trẻ không lường trước được những nguy hiểm cóthể gặp phải Các nguy cơ đó có thể đến từ: đồ chơi trơn trượt, đồ chơi bị gãy hỏng một mắtxích nào đó, hoặc chơi các trò chơi nguy hiểm: trèo cây, vin cành, ném cát – đất vào mặtnhau, trêu nghịch các con vật, chạm vào bô xe máy đang nóng…

Ở trẻ tại lớp Mầm non tư thục , tư duy của trẻ vẫn mang tính trực quan, sự quan sát

và đánh giá của trẻ còn mang đậm màu sắc chủ quan, cảm tính rất dễ bị thuyết phục,nếu những người xấu nắm được đặc điểm tâm lí của trẻ như: thích ăn kẹo, thích xemphim hoạt hình, nhận quà, chơi đồ chơi,… là cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng và dụ dỗ trẻ Haytrong những tình huống, hiện tượng bất thường nào đó xảy ra như: đi lạc, đám cháy, động

Trang 35

đất, bắt cóc, một tai nạn hay một vật gì đó bất ngờ đổ sập xuống trẻ … trẻ thường không

đủ bình tĩnh để phán

Trang 36

đoán, để quyết định hành động, xử trí như thế nào trong những tình huống như vậy.

Với những đặc điểm về kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tư thục nêu trên thiếtnghĩ vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là rất cấp thiết

1.2.4 Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

1.2.4.1 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

Giáo dục (theo nghĩa rộng – nghĩa xã hội học) là một quá trình toàn vẹn hình thànhnhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động vàcác quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnhnhững kinh nghiệm xã hội của loài người” [1]

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục) là quátrình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, nhữnghành vi, và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạođức, lao động và học tập, thẩm mỹ, vệ sinh … [1]

Trong mối quan hệ với khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp nêu trên, tácgiả Nguyễn Thị Diệu Hà trong đề tài: “Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáolớn thông qua hoạt động vui chơi” đã trình bày, giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động

có định hướng, có chủ đích phù hợp với tâm lý đối tượng nhằm bồi dưỡng hoặc làm thayđổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng

Với khái niệm về kỹ năng sống của trẻ tại lớp Mầm non tư thục theo tác giả Mai Hiền

Lê là khả năng trẻ 5-6 tuổi vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm của trẻ để nhận diện

và đồng thời biết cách ứng phó trước các tình huống khó khăn, những hoàn cảnh nguyhiểm xảy đến với bản thân và giúp bản thân được an toàn

Giáo dục kỹ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của trẻ từ thóiquen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vimang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân vàgóp phần phát triển bền vững cho xã hội [9]

Có thể thấy rằng, quá trình giáo dục nói chung và quá trình giáo dục kỹ năng sống chotrẻ tại lớp Mầm non tư thục nói riêng là một quá trình giáo dục gồm nhiều thành tố: mụcđích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức Các thành tố có quan hệ mật thiết

và có tính biện chứng với nhau, đặc biệt là với phương pháp giáo dục để thực hiện mụctiêu giáo dục, mục đích của quá trình sư phạm

Trang 37

Và như vậy, theo chúng tôi: “Qúa trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5- 6tuổi là quá trình dưới sự tổ chức, lãnh đạo có mục đích của giáo viên nhằm giúp trẻ trang

bị những kiến thức giữ an toàn và học cách nhận biết, thực hành các hành động đúng và kịpthời để bảo vệ bản thân trước các tình huống nguy hiểm”

1.2.4.2 Các nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi

* Nguyên tắc phát triển toàn diện:

Nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ phải dựa trên sự pháttriển toàn diện 5 lĩnh vực nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm xã hội, thẩm mĩ

* Nguyên tắc hệ thống:

Quá trình giáo dục kỹ năng sống được tiến hành một cách có hệ thống thể hiện quanội dung kế hoạch năm, tháng, tuần, ngày Tổ chức thường xuyên các giờ học có mụcđích, có chủ đề giáo dục an toàn, giáo dục kỹ năng sống trước các tình huống nguyhiểm

* Nguyên tắc vùng miền:

Như chúng ta đã biết, trẻ em ở thành thị và nông thôn với những điều kiện sống khácnhau thì trẻ sẽ có những kinh nghiệm sống và sự tương tác với môi trường sống khác nhau.Trẻ em ở thành thị sẽ gặp khó khăn khi tiếp xúc với các vật dụng ở nông thôn như bếp lò, dichuyển trong rừng, cách cư xử với các con vật nuôi Ngược lại, trẻ em nông thôn khi đi vàothành phố thường gặp khó khăn với cách ứng xử trên đường phố, khi tham gia giao thông,giao tiếp với người lạ Nói cách khác, trẻ có kinh nghiệm riêng của mình khi nhận thức vềmối nguy hiểm Điều này phụ thuộc vào điều kiện cư trú và giáo dục của gia đình Nguyêntắc này nhấn mạnh đến vai trò của quá trình giáo dục có mục đích các kỹ năng sống cho trẻ

* Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm lứa tuổi:

Có 2 cách tiếp cận:

Cách tiếp cận thứ nhất: quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được phân chia rạchròi theo từng độ tuổi: nhà trẻ, mẫu giáo (3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi) với nội dung giáo dục đặcthù

Cách tiếp cận thứ hai: quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được tiến hành theo lớpghép với nhiều độ tuổi Nội dung giáo dục phong phú, đa dạng nhằm tạo ra sự tương tác,trao đổi những kinh nghiệm cá nhân giữa các trẻ không cùng độ tuổi với nhau

Trang 38

* Nguyên tắc phối hợp giữa gia đình và nhà trường:

Mục đích chính của nguyên tắc là GV cần thống nhất nội dung giáo dục kỹ năngsống cho trẻ giữa gia đình và nhà trường Đề cao vai trò của phụ huynh và gia đình cùngtham gia tích cực trong quá trình giáo dục trẻ [48]

1.2.4.3 Vai trò - Ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng sống đối với sự phát triển của trẻ tại lớp Mầm non tư thục

* Vai trò:

 Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội:

- Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của trẻ, có nhận thứcđúng chưa chắc đã có hành vi đúng Việc rèn luyện kỹ năng sống chính là những nhịp cầugiúp trẻ biến kiến thức thành thái độ, hành vi, thói quen tích cực, lành mạnh

- Trẻ có kỹ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thửthách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề, tình huống nguy hiểm một cách tích cực và phù hợphơn Ngược lại, nếu trẻ không có kỹ năng sống sẽ thụ động, có những thái độ, hành vi tiêucực; sẽ chậm trễ trong việc đưa ra quyết định và phải trả giá cho quyết định sai lầm củamình

- Giáo dục kỹ năng sống sẽ thúc đẩy ở trẻ những hành vi mang tính xã hội tích cực;giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề xã hội Giáo dục kỹ năngsống còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền của trẻ em, quyền công dân đượccông nhận trong luật pháp Việt Nam và Quốc tế

Giáo dục kỹ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với trẻ:

- Lứa tuổi mầm non, đặc biệt ở độ tuổi 5-6 tuổi đang hình thành những giá trị nhâncách, giàu trí tưởng tượng, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biếtsâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị rơi vào những tình huống có thể nguyhiểm, không an toàn cho bản thân Việc giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ có thái độ, hành vi,khả năng ứng phó một cách tích cực trong các tình huống nguy hiểm với bản thân cũngnhư các tình huống khác trong cuộc sống [31]

* Ý nghĩa:

Kỹ năng sống là một trong những kỹ năng nền tảng góp phần giúp trẻ mầm non nóichung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng hình thành và phát triển toàn diện nhân cách, sẵn sàng đi

Trang 39

học lớp 1 Chẳng hạn: Khi trẻ được học cách bảo vệ bản thân thì sẽ không tạo cơ hội cho những hành vi tiêu cực từ các đối tượng khác phát triển.

Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi có ảnh hưởng đến phát triển toàn diệnnhân cách trẻ về các mặt thể chất, tình cảm – xã hội, giao tiếp, ngôn ngữ, nhận thức và sẵnsàng đi học Cụ thể: giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ được an toàn, khỏe mạnh, khéo léo,bền bĩ, chủ động, có khả năng thích ứng được với những thay đổi, những khó khăn, thửthách từ cuộc sống [6]

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non

tư thục

Để đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục kỹ năng sống nóiriêng cần phải xem xét đến các yếu tố sau:

* Tương tác người dạy và người học:

Nhìn chung, trung tâm của mọi việc trong giáo dục là tương tác giữa người dạy vàngười học Điều đó có nghĩa là chất lượng được tạo ra trong quá trình tương tác này

Chương trình Dakar về hành động giáo dục cho mọi người đã đưa ra nhu cầu đặc biệt

về đào tạo giáo viên tốt và các kĩ thuật học tập tích cực để tác động đến giáo dục Điều nàycàng quan trọng trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống – kỹ năng sống, giáo viên cần phảichú ý đến cách dạy, sử dụng các dạng khác nhau của phương pháp tương tác để khích lệ sựtham gia

* Nội dung; Chương trình và tài liệu giảng dạy:

Tiếp cận kỹ năng sống thể hiện việc vận dụng vào thực tế cuộc sống những kiếnthức, thái độ, kỹ năng và sử dụng các phương pháp dạy học tương tác Với ý nghĩa đó, tiếpcận kỹ năng sống có thể sử dụng để cải thiện bất cứ một chủ đề nào của chương trình nộidung dạy học như: Bản thân, Gia đình, Trường mầm non, Nghề nghiệp, Giao thông, Thếgiới thực vật - động vật và những chủ đề khác Nội dung giáo dục cần phù hợp với kinhnghiệm, nhu cầu của cả trẻ nam và nữ, cũng như nhu cầu của xã hội

Chương trình và tài liệu giảng dạy, học tập là những thành tố cốt lõi của giáo dục, nó

là một thành phần bổ trợ cho người giáo viên giỏi và người học muốn tìm tòi Do đó, điềuquan trọng đối với người biên soạn chương trình là phải tính đến cả người học và người dạykhi xây dựng tài liệu sử dụng cách tiếp cận kỹ năng sống và gắn kết trực tiếp các ví dụ,hình ảnh minh họa với các kinh nghiệm và hứng thú của cả trẻ nam và nữ Và cần thêm các

Trang 40

phương tiện dạy học như đĩa CD- Rom, đĩa phương tiện, máy chiếu và các phương tiện biểuđạt khác như: ti vi, truyền thanh.

* Quá trình và môi trường hoạt động:

Việc tổ chức các hoạt động giáo dục đòi hỏi phải có một không gian đa dạng, mới lạ,

và bầu không khí thân thiện cởi mở, lành mạnh, an toàn và có khả năng bảo vệ… có nhưvậy mới kích thích hứng thú chơi, hoạt động của trẻ và thúc đẩy trẻ rèn luyện kỹ năng theokhả năng của mình Môi trường giáo dục không chỉ trong nhà trường mà còn ở gia đình vàcộng đồng Cần phải kết hợp rèn luyện kỹ năng sống với các điều kiện bổ sung như pháttriển môi trường tâm lí xã hội thuận lợi và gắn với các dịch vụ của cộng đồng [9]

1.2.4.4 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục

Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là nhằm giúp trẻ có kinh nghiệmtrong cuộc sống, có những kiến thức cơ bản về giữ an toàn; biết được những điều nên làm

và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách xử lý các tình huống trong cuộcsống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người cótrách nhiệm và có cuộc sống hài hòa trong tương lai [6]

Xem xét trong Chương trình giáo dục mầm non được ban hành theo thông tư số17/2009-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì nội dung giáodục kỹ năng sống cho trẻ được cụ thể như sau:

- Trong lĩnh vực giáo dục phát triển thể chất:

+ Nhận biết và phòng tránh những hành động nguy hiểm, những nơi không an toàn, những vật dụng nguy hiểm đến tính mạng

+ Nhận biết và phòng tránh một số trường hợp khẩn cấp và gọi người giúp đỡ

- Trong lĩnh vực giáo dục phát triển ngôn ngữ:

+ Làm quen với một số kí hiệu trong cuộc sống: kí hiệu giao thông, kí hiệu nơi nguy hiểm [4]

Bên cạnh đó, nội dung giáo dục kỹ năng sống còn được đề cập trong Bộ chuẩn pháttriển trẻ em 5 tuổi được ban hành theo thông tư 23/2010- BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm

2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Cụ thể như sau: “Chuẩn 6 – Trẻ có hiểu biết và thực hành

an toàn cá nhân” gồm các chỉ số:

+ Chỉ số 21: Nhận ra và không chơi một số đồ vật có thể gây nguy hiểm

+ Chỉ số 22: Biết và không làm một số việc có thể gây nguy hiểm

Ngày đăng: 16/09/2022, 17:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2008), Giáo dục học mầm non, tập I, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non, tập I
Tác giả: Đào Thanh Âm (chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2008
2. Đào Thanh Âm (chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2008), Giáo dục học mầm non, tập III, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non, tập III
Tác giả: Đào Thanh Âm (chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2008
3. Bạch Băng (2011), Tuyển tập“Những câu chuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình”, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập“Những câu chuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình”
Tác giả: Bạch Băng
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2011
7. Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn (2006), đề tài nghiên cứu về “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn
Năm: 2006
8. Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông, đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2007
9. Nguyễn Thanh Bình (2011), Giáo trình kỹ năng sống, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2011
10. Vũ Dũng (2000), Từ điển tâm lý học, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2000
11. Nguyễn Thị Diệu Hà (2011), Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi đóng vai có chủ đề ở trường mầm non, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi đóng vai có chủ đề ở trường mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Hà
Năm: 2011
12. Trần Nguyễn Nguyên Hân (2012), Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo, Trường CĐSP Trung Ương TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Trần Nguyễn Nguyên Hân
Năm: 2012
13. Yoon Yeo Hong (2011), 45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình, Nxb Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: 45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình
Tác giả: Yoon Yeo Hong
Nhà XB: Nxb Thông tin và truyềnthông
Năm: 2011
14. Nam Hồng (chủ biên) (2009), Ngôi nhà an toàn cho trẻ tập 1, 2, 3, Nxb ĐHSP TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôi nhà an toàn cho trẻ tập 1, 2, 3
Tác giả: Nam Hồng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHSP TpHCM
Năm: 2009
15. Lê Xuân Hồng (2000), Phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non
Tác giả: Lê Xuân Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2000
16. Nguyễn Thị Huệ (2012), Kỹ năng sống của học sinh THCS, Luận văn Tiến sĩ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng sống của học sinh THCS
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 2012
17. Nguyễn Đức Hưởng, Phân loại kỹ năng nghề nghiệp của điều tra viên, tạp chí tâm lý học số 5, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại kỹ năng nghề nghiệp của điều tra viên
18. Mai Hiền Lê (2010), Kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm non thực hành TPHCM, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm non thực hành TPHCM
Tác giả: Mai Hiền Lê
Năm: 2010
19. Mai Hiền Lê (2012), Kĩ năng tự vệ cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh, đề tài khoa học cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng tự vệ cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non tại thành phốHồ Chí Minh
Tác giả: Mai Hiền Lê
Năm: 2012
20. Nguyễn Hữu Long (2010), Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở TpHCM, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở TpHCM
Tác giả: Nguyễn Hữu Long
Năm: 2010
21. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương (2011), Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non, Nxb ĐH QG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương
Nhà XB: Nxb ĐH QG Hà Nội
Năm: 2011
22. Huyền Linh (2011), Cẩm nang tự vệ an toàn (ra ngoài), Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tự vệ an toàn (ra ngoài)
Tác giả: Huyền Linh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2011
23. Huyền Linh (2011), Cẩm nang tự vệ an toàn (trong nhà), Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tự vệ an toàn (trong nhà)
Tác giả: Huyền Linh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Danh sách các trường Mầm non khảo - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 2.1. Danh sách các trường Mầm non khảo (Trang 48)
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của BGH, GV các trường khảo sát. - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của BGH, GV các trường khảo sát (Trang 48)
Bảng 2.3. Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát. - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 2.3. Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát (Trang 50)
Bảng 2.7. Thực trạng mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng sống của các - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 2.7. Thực trạng mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng sống của các (Trang 59)
Bảng 2.8. Các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục . - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 2.8. Các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp Mầm non tư thục (Trang 70)
Bảng 2.9. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 2.9. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại (Trang 71)
Bảng 3.1. Điểm trung bình mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất. - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 3.1. Điểm trung bình mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất (Trang 90)
Bảng 3.2. Điểm trung bình mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất. - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 3.2. Điểm trung bình mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 91)
Bảng 3.3. Sự khác biệt ý nghĩa về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp. - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 3.3. Sự khác biệt ý nghĩa về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp (Trang 92)
Bảng 3.5. Mức độ nhận thức kỹ năng sống của nhóm thực nghiệm - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 3.5. Mức độ nhận thức kỹ năng sống của nhóm thực nghiệm (Trang 98)
Bảng 3.6. Mức độ nhận thức kỹ năng sống của nhóm thực nghiệm  và - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng 3.6. Mức độ nhận thức kỹ năng sống của nhóm thực nghiệm và (Trang 99)
Bảng tin giữa nhà trường với phụ huynh có thông tin về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Bảng tin giữa nhà trường với phụ huynh có thông tin về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ (Trang 111)
PHỤ LỤC 3. BẢNG XỬ LÝ KẾT QUẢ SỐ LIỆU 3a: Nhóm thực nghiệm trước và sau thử nghiệm - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
3. BẢNG XỬ LÝ KẾT QUẢ SỐ LIỆU 3a: Nhóm thực nghiệm trước và sau thử nghiệm (Trang 119)
Hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng:  …………………………………………………………………………… - Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi
Hình th ức tổ chức giáo dục kỹ năng: …………………………………………………………………………… (Trang 130)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w