1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận quản lý hành chính công đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

11 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 171,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với số lượng dân cư chiếm ưu thế trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, ý thức về tộc người và vùng lãnh thổ tộc người khá rõ, lại sinh sống trên địa bàn án ngữ các đầu mối giao thông huy

Trang 1

UBND TỈNH GIA LAI

SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

QUY HOẠCH HẠ TẦNG KỸ THUẬT VIỄN THÔNG THỤ ĐỘNG TỈNH GIA LAI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH

HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025

CHUYÊN ĐỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ AN NINH QUỐC

PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

Gia Lai, năm 2016

Trang 2

CHUYÊN ĐỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ AN NINH QUỐC PHÒNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

I ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ 4

II DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG 5

III KINH TẾ XÃ HỘI 6

IV AN NINH QUỐC PHÒNG 8

V ĐÁNH GIÁ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ANH QUỐC PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HẠ TẦNG VIỄN THÔNG THỤ ĐỘNG 9

1 Thuận lợi 9

2 Khó khăn 9

3 Cơ hội 10

4 Thách thức 10

Trang 4

PHẦN I: ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ANH QUỐC

PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

I ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ

Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700 - 800 mét so với mực nước biển Tỉnh Gia Lai trải dài từ 12°58'20" đến 14°36'30" vĩ bắc, từ 107°27'23" đến 108°54'40"kinh đông Phía đông của tỉnh giáp với các tỉnh là Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên Phía tây giáp tỉnh Ratanakiri thuộc Campuchia, có đường biên giới chạy dài khoảng 90 km Phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, và phía phía bắc của tỉnh giáp tỉnh Kon Tum

Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm,

có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối Khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5

và kết thúc vào tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 25oC Vùng Đông Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 1.200 – 1.750 mm, Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500

mm Khí hậu và thổ nhưỡng Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao

- Tài nguyên đất Tổng diện tích tự nhiên là 15.536,92 km2, có 27 loại đất, được hình thành trên nhiều loại đá mẹ thuộc 7 nhóm chính: đất phù sa, đất xám, đất đen, đất đỏ, đất mùn vàng đỏ, Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá Phần lớn đất đai màu

mỡ, giàu chất dinh dưỡng, đất có tầng dày canh tác rất phù hợp với phát triển cây trồng mà đặc biệt là cây công nghiệp lâu ngày Các vùng thung lũng và khu vực đất bằng có nhiều sông suối chảy qua, thuận lợi cho việc mở rộng diện tích sản xuất đất nông nghiệp và phát triển nuôi trồng thủy sản

- Tài nguyên nước: Gia Lai có tổng trữ lượng khoảng 23 tỉ m3, phân bố trên

hệ thống các con sông lớn như: sông Sê San, sông Ba, sông Srê Pook Tiềm năng nước ngầm có trữ lượng khá lớn, chất lượng tốt, phân bố chủ yếu trong phức hệ nước phun trào bazan có tổng trữ lượng cấp A+B là 23.894m3/ngày, cấp C1/là 61.065 m3/ngày và cấp C2 là 989.600 m3/ngày, cùng với hệ thống nước bề mặt đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân trong địa bàn tỉnh

- Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp là 728.279,30 ha, chiếm 46,87% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Do trải rộng trên nhiều vùng khí hậu nên các

hệ sinh thái rừng Gia Lai phong phú Hệ động thực vật phong phú và đa dạng cả về giống, loài và số lượng các thể có giá trị Đặc biệt, có nhiều loài thú quý hiếm

- Tài nguyên khoáng sản: tỉnh có tiềm năng khoáng sản phong phú và đa dạng Trong đó có những loại có giá trị kinh tế cao như: Kim loại quý (quặng bôxít, vàng, sắt, kẽm), đá granít, đá vôi, đất sét, cát sỏi xây dựng…

Trang 5

II DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG

Dân số toàn tỉnh đạt khoảng 1.377,31 nghìn người, bao gồm 34 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống Trong đó, người Việt (Kinh) chiếm 52% dân số Còn lại là các dân tộc Jrai (33,5%), Bahnar (13,7%), Giẻ-triêng, Xơ-đăng, Thái, Mường

Cư dân Gia Lai có thể chia làm hai bộ phận: Bộ phận cư dân bản địa đã sinh sống ở Gia Lai từ lâu đời gồm dân tộc dân tộc Jrai và Bahnar, bộ phân cư dân mới đến bao gồm người Việt và các dân tộc ít người khác

Người Việt đầu tiên đến sinh sống ở khu vực An Khê (phía đông bắc của tỉnh) từ cuối thế kỷ XVII Tuy nhiên đến đầu thế kỷ XIX, người Việt định cư tại Gia Lai vẫn rất thưa thớt và cũng chỉ tập trung ở khu vực An Khê

Trong thời thuộc Pháp, vào những năm 1923 - 1945, chính quyền thực dân đưa một bộ phận người Việt từ vùng đồng bằng ven biển miền Trung lên làm công nhân trong các đồn điền chè, cà phê và các công trường làm đường dọc quốc lộ 19

và 14

Từ năm 1954 trở về sau, dân số người Việt ở Gia Lai tăng nhanh do nhu cầu tuyển dụng công chức, viên chức của chính quyền Sài Gòn, dân di cư miền Bắc vào năm 1954, chính sách cưỡng ép đồng bào miền Trung lên các khu dinh điền

Sau ngày thống nhất đất nước (năm 1975), Đảng và Nhà nước ta đã chuyển một số lượng lớn đồng bào người Kinh từ miền Bắc và miền Trung lên xây dựng kinh tế, quốc phòng, điều động cán bộ bổ sung cho Tây nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng, làm cho số lượng người Kinh ở Gia Lai tăng lên nhanh chóng

Dân tộc Jrai (Jơrai, Jarai, Gia Rai) là một trong 5 tộc người (Jrai, Ê Đê, Chăm, Raglai, Chu Ru) Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polinesien) hiện đang sinh sống trên vùng đất nam Trường Sơn và đồng bằng ven biển Trung Bộ Địa bàn cư trú là từ nam Kon Tum đến bắc tỉnh Đăk Lăk (theo chiều bắc - nam) và từ tây bắc tỉnh Phú Yên đến vùng biên giới tiếp giáp với Campuchia (theo chiều đông - tây) Trong khu vực cư trú này, Gia Lai là địa bàn người Jrai sinh sống tập trung nhất Khu vực cư trú chính là phía tây cao nguyên Pleiku (thuộc các huyện Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, thành phố Pleiku) và vùng trũng Cheo Reo -Phú Túc ở phía đông nam tỉnh (thuộc thị xã Ayun Pa và các huyện -Phú Thiện, Ia

Pa, Krông Pa)

Với số lượng dân cư chiếm ưu thế trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, ý thức về tộc người và vùng lãnh thổ tộc người khá rõ, lại sinh sống trên địa bàn án ngữ các đầu mối giao thông huyết mạch nối bắc Tây Nguyên với các tỉnh ven biển nam Trung Bộ nên người Jrai ở Gia Lai chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng Đây là bộ phận dân cư đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Trong những năm kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong thời kỳ xây dựng đất nước những

1 Nguồn: http://www.gso.gov.vn/

Trang 6

tên người như nhà giáo Nay Đer, anh hùng Kpa Ó, anh hùng Kpui Thu đã đi vào lòng đồng bào Tây Nguyên và cả nước

Dân tộc Bahnar (Bơhnar, Ba Na) là một trong những dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khơme Địa bàn cư trú chủ yếu là nam tỉnh Kon Tum, bắc và đông tỉnh Gia Lai Ngoài ra, còn có một bộ phận người Bahnar sống rải rác ở các huyện phía tây của tỉnh Bình Định, Phú Yên

Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, khu vực cư trú tập trung của người Bahnar là phía đông cao nguyên Pleiku (thuộc các huyện Mang Yang, Đak Đoa, phía bắc huyện Chư Pah), trên cao nguyên Kon Hơnờng (thuộc huyện Kbang), vùng trũng An Khê (thuộc các huyện Đak Pơ, Kông Chro, đông bắc thị xã An Khê)

Người Bahnar ở Gia Lai có truyền thống cách mạng lâu đời Trong những năm kháng chiến giải phóng dân tộc, Tỉnh uỷ Gia Lai đều chọn khu vực cư trú của người Bahnar để xây dựng thành vùng căn cứ cánh mạng nên ảnh hưởng của cách mạng đến với người Bahnar khá sớm Anh hùng Núp, anh hùng Wừu của dân tộc Bahnar hiện không chỉ là niềm tự hào của đồng bào Tây Nguyên, mà còn là niềm kiêu hãnh của cả dân tộc Việt Nam

Mật độ dân số trung bình trên địa bàn tỉnh Gia Lai 89 người/km², mật độ dân

số trung bình của tỉnh thấp hơn so với mật độ trung bình cả nước, mật độ dân số thấp ảnh hưởng đến việc phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động của tỉnh

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trên địa bàn tỉnh khoảng 821,5 ngàn người chiếm khoảng 60% dân số của tỉnh Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn do đó nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông nhất là dịch vụ thông tin di động ở mực độ cao

III KINH TẾ XÃ HỘI 2

Năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 1994) đạt 12,71%; trong đó nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 6,51%; công nghiệp - xây dựng tăng 15,32%; dịch vụ tăng 16% Cơ cấu kinh tế kinh tế chuyển dịch đúng hướng, trong

đó nông lâm nghiệp - thủy sản chiếm 38%, công nghiệp - xây dựng chiếm 33%, dịch vụ chiếm 29% GDP bình quân đầu người đạt 34,1 triệu đồng, tăng 13,73% so với năm 2013

Nông – lâm nghiệp – thủy sản: Nông nghiệp phát triển đa dạng với nhiều loại cây trồng: cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực và các loại cây khác Trong đó diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày chiếm tỷ lệ lớn với 42% Các cây trồng chủ lực của tỉnh như: cao su, cà phê, tiêu, mía, củ mỳ Gia Lai là tỉnh Tây Nguyên thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gia súc như: trâu, bò, lợn với số lượng đàn bò có 383.100 con; đàn trâu có 14.520 con; đàn heo 456.900 con Địa hình đồi núi nên không phát triển nhiều trong lĩnh vực thủy sản Giá trị sản xuất

2 Báo cáo số: 209/BC-UBND về tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2014 và một số mục tiêu, nhiệm

vụ, giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2015

Trang 7

ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản đạt trên 9.400 tỷ đồng, tăng 6,6% so với năm

2013

Công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) ước đạt khoảng 8.400 tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ; trong đó: công nghiệp khai thác giảm 42,1%; công nghiệp chế biến tăng 16,6%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, ga tăng 8% Các sản phẩm tăng so với năm 2013 như: gạch các loại tăng 24,8%, đường tăng 25,3%, chè tăng 9,2%, tinh bột sắn tăng 27,1%, đá granite tăng 62%, Riêng phân vi sinh chỉ đạt 54,6% kế hoạch, giảm 38,1% so với cùng kỳ; xi măng đạt 33,5% kế hoạch, giảm 52,2%

Thương mai – dịch vụ: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước

cả năm đạt 33.130 tỷ đồng, tăng 18,8% so với năm 2013

Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 580 triệu USD, tăng gấp 2,24 lần so với năm 2013, Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là cà phê đạt 482 triệu USD, chiếm 83% tổng kim ngạch xuất khẩu

Kim ngạch nhập khẩu ước cả năm đạt khoảng 80 triệu USD, tăng 38% so với năm 2013 Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh hiện có 19 doanh nghiệp đăng

ký kinh doanh; có 138.559 lượt hành khách xuất, nhập cảnh, tăng 30% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu đạt 237,1 triệu USD (trong đó doanh nghiệp trong tỉnh xuất nhập khẩu 101,2 triệu USD), tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 13.250 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước chiếm 23,7%, vốn ngoài nhà nước chiếm 76,3%

Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2015 đạt khoảng 3.346 tỷ đồng, chi ngân sách cả năm 2015 đạt khoảng 8.470 tỷ đồng

Đến cuối năm 2015, mức giảm tỷ lệ hộ nghèo là 2,53%, với 7.410 hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 14,7% (tương đương 46.500 hộ)

Hạ tầng giao thông:

Đường bộ: tỉnh có 4 tuyến đường quốc lộ đi qua gồm quốc lộ 14, quốc lộ 19, quốc lộ 25 và quốc lộ 14C với tổng chiều trên 500 km Có 11 tuyến đường tỉnh dài trên 530 km và các tuyến đường huyện, đường liên xã kết nối giữa các vùng trong tỉnh thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân

Quốc lộ 14 nối Gia Lai với Kon Tum, Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng về phía Bắc và Đắk Lắk, Đắk Nông, các tỉnh vùng Đông Nam Bộ

Quốc lộ 19 nối cảng Quy Nhơn, Bình Định dài 180 km về phía Đông; cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh huyện Đức Cơ để sang Campuchia về phía Tây

Quốc lộ 25 nối quốc lộ 1 (thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên) với quốc lộ 14 tại Mỹ Thạch (huyện Chư Sê) qua huyện Krông Pa, thị xã Ayun Pa, Phú Thiện và phía Đông Chư Sê

Các quốc lộ 14, 25, 19 nối Gia Lai với các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải miền Trung rất thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa đến hải cảng để xuất khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước

Trang 8

Hạ tầng đô thị: Hạ tầng đô thị của tỉnh vẫn đang được phát triển và mở rộng

với các đô thị hiện hữu như thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa và thị trấn các huyện của tỉnh

Khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Tỉnh có 3 khu công nghiệp được phê

duyệt thành lập xây dựng cơ sở hạ tầng là khu công nghiệp Trà Đa, công nghiệp Tây Pleiku, khu công nghiệp cửa khẩu Lệ Thanh và các cụm công nghiệp khu vực thành phố, huyện, thị trên địa bàn tỉnh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển công nghiệp

Hệ thống thủy điện: Gia Lai có nhiều các công trình thủy điện như thủy

điện Ia Ly, thủy điện Sê San 3, thủy điện Sê San 4, thủy điện Sê San 4A, thủy điện sông Ba Hạ, thủy điện An Khê – Ka Nak… kết nối vào hệ thống điện lưới quốc gia

Hệ thống hồ đập: tỉnh có nhiều hồ, đập ở khu vực Nam Bắc An Khê, khu

vực vùng thượng Ayun, vùng Ayun Pa, vùng Krông Pa, vùng Nam Bắc Pleiku; vùng Ea Mơr – Ea Lốp phục vụ có thể khai thác sử dụng nguồn nước trong mùa khô, và tích nước trong mùa mưa giảm tình trạng lũ lụt và hạn hán trên địa bàn tỉnh

Khu du lịch, dịch vụ: Gia Lai là điểm giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn

hoá, là địa phương có nhiều dân tộc cư trú nên có truyền thống văn hoá phong phú, văn nghệ dân gian đa dạng Gia Lai có các di tích lịch sử, văn hóa, khu du lịch sinh thái như: Thác La Nhí, thác Ya Ma – Yang Yung, Biển Hồ, hồ Ayun Hạ, Bảo Tàng

Hồ Chí Minh, Bảo tàng tỉnh Gia Lai, thủy điện Ia Ly, làng kháng chiến Stơr…

IV AN NINH QUỐC PHÒNG

1 Công tác an ninh chính trị: UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các lực lượng chức năng duy trì bám địa bàn, nắm dân và phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở thực hiện các biện pháp công tác bảo vệ biên giới, phòng chống vượt biên, xâm nhập, tình hình an ninh chính trị được giữ vững và ổn định

2 Công tác quốc phòng, quân sự địa phương: Xây dựng Đề án bảo đảm quốc phòng giai đoạn 2015-2020; tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2014 đúng kế hoạch, đảm bảo an toàn, đạt kết quả tốt (ngoài ra còn tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tại 06 địa phương: Chư Pưh, Chư Sê, Ia Pa, Đak Đoa, Ayun Pa và Pleiku); diễn tập chiến đấu trị an cho các xã, phường, thị trấn đạt 100% kế hoạch (58/58 xã); tuyển quân, giao quân 02 đợt với 2.500 chỉ tiêu, đạt 100% kế hoạch Đã tìm kiếm, quy tập và tổ chức truy điệu, an táng 55 liệt sỹ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia về nước

3 Tình hình trật tự an toàn xã hội: UBND tỉnh đã chỉ đạo rất quyết liệt việc thực hiện các biện pháp công tác phòng chống tội phạm, kiềm chế tai nạn giao thông nhưng tình hình vẫn diễn biến phức tạp

Trang 9

V ĐÁNH GIÁ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ANH QUỐC PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HẠ TẦNG VIỄN THÔNG THỤ ĐỘNG

1 Thuận lợi

Tỉnh có 3 khu công nghiệp được phê duyệt thành lập xây dựng cơ sở hạ tầng

là khu công nghiệp Trà Đa, công nghiệp Tây Pleiku, khu công nghiệp cửa khẩu Lệ Thanh và các cụm công nghiệp khu vực thành phố, huyện, thị trên địa bàn tỉnh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển công nghiệp Đây là tiền đề cho sự phát triển công nghiệp của tỉnh, thu hút nguồn lao động và giải quyết việc làm cho người dân trên địa bàn tỉnh

Gia Lai có nhiều các công trình thủy điện như thủy điện Ia Ly, thủy điện Sê San 3, thủy điện Sê San 4, thủy điện Sê San 4A, thủy điện sông Ba Hạ, thủy điện

An Khê – Ka Nak… kết nối vào hệ thống điện lưới quốc gia là tiền đề cho sự phát triển công nghiệp điện

Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm,

có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối Khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5

và kết thúc vào tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 25oC Vùng Đông Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 1.200 – 1.750 mm, Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500

mm Khí hậu và thổ nhưỡng Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao

Hạ tầng giao thông, đô thị tiếp tục được xây dựng mới, nâng cấp và mở rộng với các định hướng nâng cấp mở rộng các tuyến đường tỉnh 661, đường tỉnh 662, đường tỉnh 663, đường tỉnh 664, đường tỉnh 665, đường tỉnh 666 đường tỉnh 668, đường tỉnh 669, đường tỉnh 670 Nâng cấp quốc lộ 19, quốc lộ 25, quốc lộ 14 đạt tiêu chuẩn cấp III, xây dựng đoạn tránh qua các đô thị, là điều kiện để các doanh nghiệp phát triển hạ tầng viễn thông phối kết hợp phát triển hạ tầng mạng một cách đồng bộ, có tính hiệu quả và bền vững

Các khu, cụm công nghiệp của tỉnh đang được mở rộng và xây dựng là tiền

đề cho sự phát triển công nghiệp của tỉnh, thu hút nguồn lao động và giải quyết việc làm cho người dân trên địa bàn tỉnh Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp viễn thông xây dựng hạ tầng cũng như cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói chung

Việc đi vào hoạt động các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trong thời gian tới, sẽ tạo động lực phát triển kinh tế vùng, tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đáp ứng nhu cầu phát triển các cơ sở kinh tế, công nghiệp trên địa bàn tỉnh, khu vực

Trang 10

2 Khó khăn

Gia Lai là tỉnh miền núi với độ cao trung bình từ 700 – 800m nên địa hình ảnh hưởng đến việc phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động, ngầm hóa hạ tầng mạng cáp viễn thông tại các khu vực trên địa bàn tỉnh

Trên địa bàn tỉnh có nhiều nông trường và các khu vực trồng cây công nghiệp rộng với dân cư thưa thớt cũng ảnh hưởng đến việc phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động phục vụ đến 100% khu vực dân cư

Khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ lớn gây nhiều khó khăn trong việc ngầm hóa mạng ngoại vi do kinh phí thực hiện cao, nhu cầu sử dụng của người dân ở khu vực nông thôn thấp

Mật độ dân cư thấp khoảng 89 người/km² Các khu vực có mật độ dân số thấp gây nhiều khó khăn trong việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động do kinh phí thực hiện cao, nhu cầu sử dụng của người dân ở khu vực thấp

Kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nói chung có được cải thiện nhưng vẫn còn kém, nhất là khu vực nông thôn

Người dân trong tỉnh chủ yếu làm nông nghiệp giá trị nông sản phụ thuộc nhiều vào thị trường suất khẩu, giá bán nông sản không ổn định thu nhập của người dân bấp bênh, như giá mủ cao su liên tục hạ và đang ở mức thấp ảnh hưởng nhiều đến thu nhập và đời sống của người dân

Quốc phòng an ninh phức tạp những vẫn được giữ vững Tỉnh có khu vực biên giới, nhiều đồng bào dân tộc sinh sống Đời sống của các đồng bảo dân tộc còn khó khăn, nhận thức chưa tốt nên dễ bị đối lôi kéo, kích động gây bất ổn về an ninh – chính trị

3 Cơ hội

Khoa học công nghệ phát triển thúc đẩy phát triển công nghệ thiết kế, thiết bị đầu cuối (máy tính bảng, thiết bị di động trên nền tảng phần mềm mã nguồn mở…) chế tạo thiết bị cho mạng viễn thông và mạng di động cho thế hệ sau, phát triển công nghệ mạng hội tụ cố định và di động, phát triển hạ tầng mạng viễn thông

Khoa học công nghệ phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế, nâng cao chất lượng, giảm chi phí đầu tư, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Các khu công nghiệp của tỉnh vẫn đang tiếp tục được mở rộng và xây dựng,

sẽ thu hút thêm nguồn lao động đến làm việc trong tỉnh khi đó nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông tăng Kinh tế phát triển ổn định, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông, giải trí tăng Điều này

sẽ có ảnh hưởng tốt đến việc phát triển hạ tầng viễn thông thụ động tại địa phương

Hạ tầng giao thông của tỉnh tuy đang phát triển rộng khắp nhưng trong giai đoạn tới vẫn tiếp tục xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo, mở rộng các tuyến giao

Ngày đăng: 16/09/2022, 12:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w