CHƯƠNG 4: THỨ BẬC VÀ SỰ ỔN ĐỊNH TRONG QUAN HỆ QUÔC TẾ Ởsự khác nhau lớn về sức mạnh kinh tế và quân sự giữa các quốc gia trong khu vực,nhiều loại hình chế độ chính trị từ dân chủ đến độc
Trang 1CHƯƠNG 4: THỨ BẬC VÀ SỰ ỔN ĐỊNH TRONG QUAN HỆ QUÔC TẾ Ở
sự khác nhau lớn về sức mạnh kinh tế và quân sự giữa các quốc gia trong khu vực,nhiều loại hình chế độ chính trị từ dân chủ đến độc tài và thiếu các thể chế quốc tế,nên nhiều nhà phân tích phương Tây coi khu vực này “đã đến lúc kình địch nhau.”Mặc dù có những lo ngại như vậy và ngay cả sau sự ra đi nhục nhã của Mỹ khỏiViệt Nam, sau sự sụp đổ của Liên Xô, sau khi thực hiện cải cách ở Trung Quốc,Châu Á vẫn chưa chứng kiến xung đột hoặc bất ổn nào lớn
Tuy nhiên, có một quan điểm khác cho rằng quan hệ quốc tế ở châu Á vừa biquan lớn hơn về kết luận vừa đưa ra những thách thức khác đối với chính sách đốingoại của Mỹ Theo quan điểm này, về phương diện lịch sử quan hệ quốc tế ở châu
Á có tính thứ bậc, hòa bình hơn và ổn định hơn quan hệ quốc tế ở phương Tây Từquan điểm này, trước khi các cường quốc phương Tây xâm nhập vào châu Âu hồithế kỷ 19, quan hệ quốc tế ở châu Á ổn định đáng kể, chỉ thỉnh thoảng có xung độtgiữa các nước Hệ thống này về mặt vật chất dựa trên cơ sở và được củng cố quanhiều thế kỷ thực tiễn văn hóa và bao gồm những quốc gia có chủ quyền được xácđịnh bởi vùng địa lý, vốn vận hành theo nguyên tắc tổ chức hỗn loạn Theo quanđiểm này, quan hệ quốc tế ở châu Á nhấn mạnh thứ bậc chính thức giữa các quốcgia, trong khi cho phép sự bình đẳng đáng kể một cách không chính thức Bao gồm
Trang 2Trung Quốc là quốc gia trung tâm và những quốc gia xung quanh vơi tư cách làquốc gia nhỏ hơn hay “các chư hầu”, vì vậy chừng nào còn thứ bậc thì haàu nhưkhông cần có chiến tranh giữa các quốc gia Điều này ngược hẳn với truyền thốngquan hệ quốc tế ở phương Tây bao gồm sự bình đẳng chính thức giữa các quốc giadân tộc, thứ bậc không chính thức và xung đột hầu như liên tục giữa các quốc gia.
Cùng với việc các cường quốc xâm nhập vào thế kỷ 19, trật tự cũ của châu
Á đã bị phá vỡ vì tất cả các quốc gia phương Tây và châu Á đều tranh giành thiếtlập ảnh hưởng Sau một thế kỷ rối loạn ở châu Á, vào cuối thập niên 1990 đã nổilên một Trung Quốc mạnh và tự tin, trong khi Việt Nam ngày càng trở nên ổn địnhhơn Có lẽ sắp tới, Triều Tiên sẽ thống nhất Trong khi những người theo thuyếthiện thực và những người theo thuyết tự do có xu hướng coi châu Á hiện đại là bất
ổn tiềm tàng, nếu hệ thống này trở lại kiểu hệ thống thứ bậc, thì kết quả có thể đemlại ổn định hơn
Nếu điều này đúng thì có ý nghĩa quan trọng đối với hiểu biết của chúng ta
về khu vực này Điều có ý nghĩa nhất là, quan điểm thứ bậc của châu Á có ý nghĩakhác đối với chính sách đối ngoại của Mỹ Một mặt, nếu Mỹ vẫn tiếp tục dính líuchặt với châu Á không cân bằng với Trung Quốc như những người theo thuyếthiện thực mong muốn, thì việc Mỹ tìm cách lập các liên minh đối trọng để kiềmchế Trung Quốc sử dụng các quốc gia Đông Á sẽ rất phức tạp Mặt khác, nếu Mỹrút đáng kể khỏi khu vực, châu Á không thể trở thành nguy hiểm hoặc bất ổn như
sự hiểu biết thông thường vẫn hy vọng
Điều này dẫn đến những câu hỏi sau: Khu vực Châu Á có thứ bậc không?Nếu có, thì nó có những tác động gì đối với sự ổn định trong tương lai?
Bài viết này đưa ra một lập luận bao quát: ở châu Á có an ninh hơn và ổnđịnh hơn là người ta thấy Đặc biệt vì những dự đoán bi quan theo thuyết hiện thực
Trang 3cho thấy không có mấy dấu hiệu phát ra, ở mức độ tối thiểu các học gia nênnghiêm túc xem xét những tác động tích cực của các giải thích này Tuy nhiên, cáchọc giả ít khi thử nghiệm hình ảnh này theo cách phân biệt đối xử Trong bài luậnnày, tôi trình bày lý thuyết và những tác động của quan hệ quốc tế Châu Á đượcxây dựng trên cơ sở hệ thống thứ bậc Tôi định nghĩa ổn định là không có chiếntranh giữa các quốc gia lớn và nói chung quan hệ giữa các nước thì hòa dịu Tôicho rằng hệ thống có thứ bậc mang tính ổn định hơn là so với điều mà nhữngngười theo thuyết hiện thực cho phép và chính sự không có thứ bậc thường dẫnđến xung đột, trong khi tôi cũng cung cấp bằng chứng của 15 năm qua cho chúng
ta ít nhất là một lập luận hợp lý rằng hệ thống có thứ bậc đang nổi lên ở Châu Á
Trong phần đầu của bài viết gồm ba phần, tôi giới thiệu lý thuyết về một hệthống quốc tế hoặc khu vực có tính thứ bậc và chỉ ra rằng quan điểm này chỉ là sựsửa đổi chút ít của chủ nghĩa hiện thực Trong phần thứ hai, tôi nghiên cứu sáu thế
kỷ của quan hệ quốc tế ở châu Á và chỉ ra cách vận hành của hệ thống này tronglịch sử từ khi kết thúc triều đại nhà Thanh cho đến thế kỷ 20 Phần cuối cùng nêucách thức quan điểm thứ bậc giải thích ba câu hỏi nan giải của thời đại hiện nay màthuyết hiện thực khó giải thích
I TÌNH TRẠNG HỖN LOẠN VÀ THỨ BẬC TRONG QUAN HỆ
QUỐC TẾ
Kenneth Waltz đã dẫn chúng ta đi lầm con đừng bằng cách đối lập giữa thứbậc và tình trạng hỗn loạn Lập luận của ông ta rằng tình trạng hỗn loạn dẫn đếngiữ cân bằng và lo ngại về sức mạnh vượt trội đã được chấp nhận rộng rãi trongnghiên cứu quan hệ quốc tế Những người theo thuyết hiện thực đều hy vọng rằngsức mạnh mang tính đe dọa và các quốc gia giữ cân bằng với nhau mỗi khi có thể.Lập luận lý thuyết phản đối khả năng hệ thống đơn cực đã được viện dẫn mạnhnhất bởi Christopher Layne Ông viết rằng: “trong một thế giới đơn cực, những
Trang 4kiềm chế của hệ thống – giữ cân bằng, tỷ lệ tăng trưởng không đồng đều tác độngcủa tính giống nhau – buộc các quốc gia đủ điều kiện trở thành cường quốc.” Theothuyết hiện thực, nguyên tắc tự trợ giúp đẩy các quốc gia kết hợp thành khối chốnglại quốc gia sẽ là quốc gia vượt trội Như Stuart Kaufiman chỉ ra rằng, lý thuyết về
tự trợ giúp trong tình trạng hỗn loạn “khuyến khích các quốc gia mạnh thu hútnhững quốc gia yếu, khi trên thực tế thúc đẩy củng cố hệ thống quốc tế
Mô hình thứ bậc mà tôi rút ra ở đây là xuất phát từ thuyết hiện thực, và hìnhthức tổ chức ngược lại mà tôi thảo luậnở đây ghi nhận những nét tiêu biểu mànhững người theo thuyết hiện thực sẽ thấy tương tự và bắt đầu với những giả địnhchuẩn theo thuyết tân hiện thực Những quốc gia dân tộc là đơn vị phân tích và tồntại là những thực thể có chủ quyền được xác định đối với một vùng địa lý Hệthống là một hệ thống hỗn loạn, trong đó việc sử dụng lực lượng luôn luôn là mộtkhả năng Những ưu tiên và vị trí được xác định bởi sức mạnh và địa lý Vị trí trítương đối có vị trí tương đối trong hệ thống hỗn loạn – có quốc gia trung tâm vànhiều quốc gia nhỏ hơn, là những quốc gia ngoại vi Những lời hoa mỹ, các hợpđồng và những luật cũng được coi là không thể thi hành và vì vậy có sự ngờ vựccao trong quan hệ quốc tế Các quốc gia chủ yếu quan tâm đến sự tồn tại trong khimối đe dọa và sự bất ổn được chấp nhận là một thực thể của cuộc sống trong chínhtrị quốc tế kết quả là, các quốc gia dân tộc đầu tiên quan tâm đến sức mạnh và sựtồn tại và thứ hai là các vấn đề kinh tế
Tuy nhiên, thuyết hiện thực thừa nhận rằng chỉ hai loại tổ chức có thể xảy ratrong hệ thống quốc tế: tình trạng hỗn loạn, với nhần mạnh vào các cực và các liênminh thứ bậc, gồm đế chế hoặc chính thức hoặc không chính thức David Lake viếtrằng, “ trong tình trạng hỗn loạn, mỗi thành viên có mối quan hệ có đầy đủ quyềnkiểm soát còn lại… Trong hệ thống thứ bậc, một bên là thành viên vượt trội – cóquyền đưa ra những quyết định còn dư.” Khái niệm của Lake về hệ thống thứ bậc
Trang 5là sự bá quyền và đế chế Tuy nhiên, hệ thống thứ bậc không phải là đối lập vớitình trạng hỗn loạn; thực ra bình đẳng mới là đối lập của hệ thống thứ bậc Cả sựbình đẳng và thứ bậc đều tồn tại trong khuôn khổ nguyên tắc tổ chức lớn hơn củatình trạng hỗn loạn Thay đổi quan trọng duy nhất mà tôi đưa ra đối với mẫu hìnhchuẩn thoe thuyết hiện thực là công khai thừa nhận các quốc gia dân tộc khôngbình đẳng khi hành động trên trường quốc tế.
Những người theo thuyết hiện thực chưa thăm dò hết con đường trung dungtheo giả thuyết, là con đường liên quan đến một cường quốc trung tâm vẫn hoạtđộng trong tình trạng hỗn loạn, nhưng không khiến các quốc gia khác giữ cân bằngchống lại quốc gia mạnh nhất trong hệ thống, và không gấp chúng lại dưới cánhhoặc dưới đế chế của mình
Hệ thống thứ bậc không phải là bá quyền: bá quyền có tính khái quát tổngthế và tính xâm lược hơn Bá quyền cũng tập trung vào sự chú ý của cường quốclớn nhất, trong khi thứ bậc quan tâm nhiều hơn đến sự tương tác giữa quốc gia lênhay xuống trong hệ thống thứ bậc Hệ thống thứ bậc cũng dành cho tất cả quốc giatrong hệ thống một địa điểm và một biện pháp để tương tác với nhau Hệ thống thứbậc cũng cho phép quyền tự chủ đáng kể và quyền tự do giữa các quốc gia nhỏ
Bình đẳng
Thứ bậc
chính thức
Trang 6Vấn đề chủ chốt là liệu các quốc gia có hiểu rằng các quốc gia trung tâmkhông có những tham vọng lãnh thổ hoặc tự cao tự đại và liệu có tồn tại một biệnpháp để giâỉ quyết các xung đột Nếu điều này là đúng, tất cả các quốc gia trong
hệ thống này có thể tìm một sự cân bằng có liên quan đến sự phục tùng quốc giavượt trội Sự cân bằng xảy ra bởi vì các quốc gia khác biết rằng việc chống đốiquốc gia trung tâm là điều không thể là vì vậy chiều theo quốc gia đó đến đúngđiểm mà chi phí dự kiến của việc chế ngự các quốc gia đó hơi vượt quá các lợi íchmong muốn Vì việc chinh phục phải trả giá nhất định, trong hệ thống thứ bậc cácquốc gia không cần hoàn toàn chiều theo quốc gia trung tâm về tất cả các vấn đề
Họ độc lập đúng đến lúc mà họ dự đoán rằng chi phí dự kiến của quốc gia trungtâm để có được sự chiều ý đó sẽ vượt quá lợi ích Tất cả điều này có tác dụng hơntới mức độ mà mối quan hệ sức mạnh vật chất khiến cho kết quả dự kiến của cácxung đột trở nên chắc chắn Sự sáng suốt chủ yếu là do phong trào ủng hộ rộng rãikhi quốc gia phụ thuộc không có lựa chọn nào khác Nếu họ có thể giữ cân bằngvới chi phí có thể chịu đựng được thì họ sẽ giữ cân bằng
Một hệ thống thứ bậc khác với hệ thống không chính thức tồn tại khi mộtquốc gia phụ thuộc theo chức năng vẫn tiếp tục có chủ quyền trên danh nghĩa.Michael Doyle viết rằng, “chủ nghĩa đế quốc không chính thức đạt được “sự kiểmsoát” thông qua sự hợp tác của một chính phủ độc lập hợp pháp (nhưng thực thể làphụ thuộc) nằm ở ngoại biên Wendt and Freidheim phân biệt giữa một đế chếkhông chính thức và tập trung sức mạnh “Sự bất bình đẳng vật chất không phải làđiều kiện đủ [ đối với đế chế không chính thức], tuy nhiên… Đại đa số bộ đôikhông bình đẳng về vật chất trong hệ thống quốc gia không phải là những đế chếkhông chính thức Sự tập trung các khả năng không phải tương đương với việc tậptrung quyền kiểm soát.” Sự trái ngược với đế chế không chính thức, các chính phủ
bù nhìn hợp tác với đế quốc chống lại những nguyện vọng của công chúng Trong
Trang 7hệ thống thứ bậc, các quốc gia chủ quyền độc lập chấp nhận vị trí trung tâm củaquốc gia lớn nhất trong hệ thống nhưng hoàn toàn theo chức năng theo điều kiệnriêng của họ.
TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI HÀNH VI XỬ SỰ
Có bốn cách chính mà theo đó một hệ thống thứ bậc khác nhau về tác độngcủa nó đối với hành vi xử sự trong hệ thống Westphalia gồm các quốc gia dân tộcchủ quyền
1 Lôi kéo những quốc gia nhở hơn là một đặc điểm trung tâm của hệ thống thứ bậc Trái với những dự đoán theo thuyết hiện thực về hành vi xử sự của
quốc gia nhấn mạnh rằng những quốc gia nhở hơn sẽ lo sợ và giữ cân bằngchống lại các khả năng của quốc gia trung tâm, trong hệ thống thứ bậcnhững quốc gia nhỏ hơn kéo đến bên quốc gia trung tâm nhằm mục đíchgiành lợi ích, hoặc trường phái “sự vượt trội về sức mạnh” Thuyết sự vượttrội của sức mạnh cho rằng một quốc gia vượt trội sẽ không cần đấu tranh vàmột quốc gia nhỏ hơn có thể mong muốn đấu tranh
Hệ thống thứ bậc có tính chất ổn định và trật tự được duy trì thôngqua sự kết hợp giữa lợi ích và trừng phạt mà quốc gia trung tâm dành chocác quốc gia nhỏ hơn Mối quan hệ tốt với quốc gia trung tâm bảo đảm sựtồn tại và thậm chí thịnh vượng của quốc gia nhỏ hơn, thông qua sự giao lưuliên tục về thương mại hóa và kỹ thuật Sự chống đối thứ bậc dẫn đên xungđột vì quốc gia trung tâm can thiệp nhằm thiết lập trật tự thứ bậc
Khi quóc gia nhỏ hơn thách thức quốc gia trung tâm, thì quốc giatrung tâm giữ quyền sử dụng vũ lực nhằm khôi phục trật tự Thứ bậc nàyphát triển cùng với thời gian và có thể trở thành chính thức hoặc khôngchính thức của quan hệ giữa các quốc gia dân tộc Vì vậy, trật tự được khôiphục và các xung đột được giải quyết thông qua việc quốc gia trung tâm sử
Trang 8dụng vũ lực nhằm áp đặt trật tự đối với những quốc gia nhỏ hơn còn lại Đếnlượt những quốc gia này lại hiểu ra rằng việc thách thức thứ bậc sẽ chống lạilượi ích của chính mình Hơn nữa, sự rắc rối nội bộ bên trong quốc gia trungtâm không khiến các quốc gia nhỏ hơn đảo lộn trật tự hiện có; nó lợi dụng sựthay đổi thể chế một cách mạnh mẽ để phá vỡ hệ thống bên trong Sự yếukém trong quan hệ đối ngoại của quốc gia trung tâm dẫn đến xung đột rộnglớn giữa quốc gia nhỏ hơn, bởi vì không còn tổ chức vốn ổn định hóa quan
hệ đối ngoại của những quốc gia này
2 Hệ thống thứ bậc có tính chất ổn định hơn “hệ thống Westphalia” trong thời kỳ tốt, nhưng lại có tính chất hỗn loạn hơn trong thời kỳ xấu Một quốc
gia trung tâm trên đỉnh cao của thứ bậc duy trì trật tự và giảm thiểu xung độtgiữa các quốc gia nhỏ hơn, đồng thời cũng cung cấp một biện pháp để điềuchỉnh các tình huống không dự đoán trước được Vì vậy, trong thời kỳ “bìnhthường”, một thứ bậc sẽ có chiến tranh giữa các quốc gia nhỏ hơn và có sự
ổn định hơn Về mặt lý thuyết, thứ bậc có thể ổn định hơn sự bình đẳng Mọingười đều biết vị trí của mình và vì vậy hầu như không có thông tin sai hoặc
lo sợ về tính toán nhầm Người ta cũng hiểu rằng các quốc gia có tráchnhiệm hơn và có quyền sắp xếp trật tự của hệ thống và vì vậy họ không bịnhìn nhận với cùng sự hoài nghi khi họ làm như vậy Tuy nhiên, khi quốcgia trung tâm có rắc rối và thứ bậc bị phá vỡ, thì trật tự cũng dễ dàng bị đảolộn Vì vậy, vào lúc hệ thống có điểm yếu hoặc có sự thay đổi lớn hơn trong
hệ thống phương Tây
3 Sức mạnh vật chất là nền tảng của thứ bậc, nhưng những yếu tố khác cũng
có liên quan Các quốc gia trong hệ thống phát triển những quy tắc chung
cho phép có sự thông tin Thông thường, những quy tắc vă hóa chung này cóthể giúp làm dịu tình thế an ninh tiến thoái lưỡng nan và tăng mức độ thôngtin giữa các quốc gia trong hệ thống Thông tin đó phù hợp với các biện
Trang 9pháp nhằm giảm nhẹ các vấn đề của thông tin không đối xứng mà nhữngngười theo thuyết trò chơi như James Fearon đã xác định Nếu tất cả cácquốc gia biết quy tắc trò chơi, họ có thể thông tin về các mối đe dọa, chấpnhận nguyên trạng và các vị trí khác một cách rõ ràng hơn Vì vậy, mặc dùquy tắc văn hóa có nguồn gốc từ cơ cấu sức mạnh, chúng hoàn toàn khôngphải là không quan trọng hay hiện tượng phụ Như Organski viết “ mọingười đều biết hy vọng những người khác có hành vi xử sự loại nào, thóiquen và cách thức đưuọc xác lập, và những quy tắc nhất định về cách thứctiến hành ra sao các mối quan hệ ngày càng được chấp nhận… Thương mạiđược tiến hành qua những kênh được công nhận… quan hệ ngoại giao cũngtheo những khuôn mẫu được công nhận Thậm chí một số quốc gia còn dựkiến ủng hộ các quốc gia khác… Có những quy tắc ngoại giao; cả ughnhữngquy tắc chiến tranh.” Doughlas Lemke va Suzanne Werner cũng viết kiểunhư vậy: “nguyên trạng của thứ bậc tổng thể vì vậy là những quy tắc, quyphạm và những thủ tục được chấp nhận điều chính quan hệ quốc tế.”
4 Quốc gia trung tâm hầu như ít can thiệp vào công việc của các quốc gia nhỏ hơn trong hệ thống thứ bậc Đặc điểm độc đáo của hệ thống thứ bậc là cả
quốc gia trung tâm và quốc gia nhỏ hơn đều công khai công nhận vị trí vươttrội của quốc gia trung tâm Và tất cả các quốc gia công nhận và hợp pháphóa các vị trí của quốc gia nhỏ hơn Chừng nào mà những quốc gia nhỏ hơnthùa nhận vị trí không thể kình địch của quốc gia trung tâm, thì quốc giatrung tâm tôn trọng quyền tự trị và chủ quyền của quốc gia nhỏ hơn Nhữngquốc gia nhỏ hơn này giữ quyền tự trị đầy đủ về tổ chức trong nước và chínhsách đối ngoại, và giữ quyền đầy đủ trong sắp xếp quan hệ của mình vớinhau Thực tế, quốc gia vượt trội trong hệ thống không cần quan tâm đếnchính sách đối ngoại của những quốc gia nhỏ hơn, chừng nào mà bản thânquan hệ với quốc gia vượt trội còn được duy trì
Trang 10DỰ BÁO
Tôi đã phát triển một mẫu hình có tính chất quy nạp, chung về việc làm thế
nò mà hệ thống thứ bậc có thể vận hành như một hệ thống quốc tế Nó trái ngượctheo một số cách tương đối rõ so với mẫu hình cưo cấu theo thuyết hiện thực doWaltz phát triển Tuy nhiên, cần nhấn mạnh tôi chỉ chỉnh sửa rất ít mẫu hình theothuyết hiện thực Trong phần này tôi chỉ bổ sung một chút sự phức tạp vào quanđiểm chuẩn theo thuyết hiện thực về thế giới: một tôn ti xã hội mà tất cả các quốcgia đều biết Điều này thật đơn giản, xuất phát từ khối lượng nghiên cứu rộng lớnhơn gần đây về quan hệ quốc tế Hệ thống thứ bậc là con đường độc lập, giúp giảmchi phí của giao dịch giữa các chủ thể, hoàn toàn dựa trên cơ sở sức mạnh vật chấtnhưng được vật chất hóa thông qua tập quán văn hóa, cung cấp phương pháp đểqua đó các chủ thể có thể tỏ dấu hiệu thích nghi, phục tùng, thông tin và cung cấpmột tiêu điểm cân bằng mà xung quanh đó hội tụ những hy vọng và tập quán củacác chủ thể
II QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở CHÂU Á, 1930-1990
Được xác định là không có chiến tranh giữa các quốc gia lớn giữa các quốcgia và được duy trì liên tục các đường biên giới cố định, châu Á ổn định hơnchâu Âu trong giai đoạn từ 1930-1990 Tôi xác định khu vực quan hệ quốc tế ởchâu Á dừng ở Mãn Châu về phía Bắc, Thái Bình Dương về phía Đông, vùngnúi phía Tây Tạng ở phía Tây và sau đó chạy về phía Nam tới vùng ven biểncác lưu vực sông Mê Kông Tóm lại, nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào khuvực bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam Những nước này
là những chủ thể chính trong hệ thống thứ bậc Mặc dù cần phải tiến hành nhiều
Trang 11nghiên cứu cụ thể hơn từ thời suy yếu của triều đại Nguyên Mông vào cuối thế
kỷ 19, nhưng dường như hệ thống ở châu Á tương đối ổn định
Trật tự quốc tế truyền thống ở châu Á bao gồm quan niệm về quan hệ quốc
tế nhường chỗ cho sự ổn định thực chất Trong con mắt của Trung Quốc – vàđược các nước xung quanh công khai chấp nhận – thế giới trong thiên niên kỷvừa qua gồm có nhưng dân tộc văn minh (Trung Quốc) và những dân tộc man
di (tất cả các quốc gia khác) Theo quan điểm này, chừng nào những quốc giaman di sẵn sàng cúi đầu thần phục hoàng đế Trung Quốc và thể hiện chính thứcphục tùng với vị trí thấp kém hơn của họ trong hệ thống thứ bậc, thì ngườiTrung Quốc không cần xâm lược những quốc gia đó và cũng không muốn làmquốc gia như vậy Người Trung Quốc luôn luôn biế rằng họ là người TrungQuốc và họ không phải người Hàn Quốc hay người Việt Nam Giữa các nướckhác nhau có sự nhận thức và tương tác rộng lớn Hệ thống này tồn tại cho tớikhi có sự xâm nhập của phương Tây vào đầu thế kỷ 19
Thế giới thứ bậc của châu Á cổ dường như kết hợp nhiều giả định theothuyết hiện thực: thế giới châu Á cổ là một hệ thống tự trợ giúp, trong đó tìnhtrạng hỗn loạn là nguyên tắc tổ chức của hệ thống Các quốc gia-dân tộc là cácchủ thể, với ưu tiên được xác định bởi sức mạnh quốc gia và vị trí địa lý Sứcmạnh quân sự là sự giải trình tiềm tàng trong quan hệ với các quốc gia khác.Tuy nhiên, hệ thống thứ bậc khác với trật tự châu Âu ở chỗ những thuộc tính cơbản của hệ thống nhường chỗ cho thứ bậc Trật tự châu Âu gòm sự bình đẳngchính thức giữa các quốc gia có chủ quyền kết hợp với thứ bậc không chínhthức vì những quốc gia lớn nhất có ảnh hưởng khác nhau đối với hệ thống Ởchâu Á, hệ thống thứ bậc bao gồm thứ bậc chính thức và sự bình đẳng khôngchính thức Chừng nào các quốc gia nhỏ hơn cúng nạp cho Trung Quốc, thì hầunhư không có động cơ khiến Trung Quốc can thiệp vào chính trị của quốc gia
Trang 12đó Tuy nhiên, họ không cư xử mà các thuyết quan hệ quốc tế dự đoán Điều bấtthường rõ ràng nhất là những quốc gia đó thay vì giữ cân bằng chống lại quốcgia lớn nhất trong hệ thống, thì lại đứng về phe của quốc gia lớn nhất đó.
Quan hệ quốc tế châu Á hoàn toàn khác với châu Âu theo hai cách chính.Thứ nhất, xung đột lớn giữa các nước bị chia thành nhiều thế kỷ; thứ hai, cácnước cơ bản vẫn như vậy sau chiến tranh – không có thay đổi và các đườngbiên giới dễ uốn được tái thiết lập và các quốc gia không nổi lên và mất đi Nhưthể hiện trong phụ chương và kèm theo bài này, sự khác nhau lớn giữa châu Âu
và châu Á là, các xung đột giữa các quốc gia trong hệ thống thứ bậc xảy ra cáchnhau hàng thế kỷ và có xu hướng xảy ra khi trật tự trong nội bộ quốc gia trungtâm bị phá vỡ Một khi triều đại Trung Quốc bắt đầu mục nát trong nội bộ, thìxung đột cùng với và giữa các quốc gia ngoại biên xảy ra, vì quốc gia trung tâmtập trung vào công việc nội bộ Khi các triều đại nổi lên và sụp đổi trải qua cácthế kỷ, thì thay đổi trong hệ thống thứ bậc cũng diễn ra Vì thế, năm 1274 và
1281, khi triều đại nhà Sung và nhà Chin sụp đổ ở Trung Quốc, thì người Môngdưới triều Kublai Khan đã tìm cách thôn tính Hàn Quốc và Nhật Bản nhưngkhông thành công Khi triều đại nhà Minh suy yếu, thì tướng Hideyoshi củaNhật Bản đã tìm cách xâm lược Trung Quốc từ phía Hàn Quốc Nhưng cùngvới việc khôi phục trật tự trong nội bộ Trung Quốc, xung đột giữa các quốc giangoại biên sẽ chấm dứt và quan hệ giữa tất cả các quốc gia sẽ tương đối hòabình trong nhiều thế kỷ
Các đường biên giới vẫn duy trì tương đối cố định ở châu Á Điều này tráingược hẳn với thực tế ở phương Tây Năm 1500, châu Âu đã có khoảng 500 thểchế độc lập; nhưng đến năm 1990 châu Âu chỉ có khoảng 20 thể chế độc lập ỞĐông Á, số nước và đường biên giới tạo thành hệ thống thứ bậc về cơ bản vẫngiữ như vậy kể từ năm 1200 Tuy nhiên, một khi thứ bậc bị đảo lộn, thì hệ
Trang 13thống ở đây đổ vỡ ngay lập tức Vào cuối thế kỷ 19, cả Trung Quốc và NhậtBản bỗng chốc trở thành “quốc gia theo thuyết hiện thực.” Thời kỳ giữa năm
1952 và 1815, Nhật Bản không xâm lược nước nào Sau đó, Nhật Bản đã lôikéo Trung Quốc vào một cuộc chiến tranh, thôn tính Đài Loan và sát nhập vàoHàn Quốc
Quan hệ thứ bậc một cách chính thức bao gồm một vài hành vi chính quyềnthông tin giữa các chủ thể Quan trọng nhất là việc những người có thẩm quyềntối cao cảu quốc gia nhỏ hơn phải cúi đầu thần phục hoàng đế Trung Quốc Vìchỉ có một hoàng đế dưới Thiên Triều, tất cả những người cầm quyền tối caokhác được coi là vua, và phải đều đặn cử đoàn cống nạp tới Bắc Kinh để thừanhận vị trí trung tâm của Hoàng đế trên thế giới Hơn nữa, khi một vua mới lênngôi ở một quốc gia nhỏ hơn, thì tục lệ là phải xin Hoàng đế chuẩn y, một tiếntrình được gọi là phong vương Mặc dù đó là theo quy ước, tục phong vương làmột yếu tố cần thiết để duy trì quan hệ ổn định giữa các quốc gia Hàn Quốc,Nhật Bản, Việt Nam, Tây Tạng và các vương quốc khác ở xung quanh TrungQuốc (Gia-các-ta và Ma-lai-xi-a ) đều tuân theo phong tục phong vương chínhthức này đối với người trị vì đất nước của họ, cử các đoàn cống nạp và duy trì
sự thần phục đối với Trung Quốc Điều trái ngược với điều mà những ngườitheo chủ nghĩa hiện thực dự đoán Tối thiểu, chúng ta thấy rằng những nước đó
có chung biên giới với Trung Quốc tìm cách giữ được càng độc lập càng tốt.Trong khi người ta thường lập luận rằng Nhật Bản nằm ngoài hệ thống ảnhhưởng của Trung Quốc, nhưng Nhật Bản về cơ bản nhìn thế giới tương tự nhưTrung Quốc: người Nhật Bản miêu tả thế giới là ka-I no sekai, nghĩa là thế giớicủa Trung Quốc và những nưuóc man di Như Tashiro Kazui nói, “trước đâykhông lâu, cả Nhật Bản và Hàn Quốc mới thiết lập quan hệ quốc chủ - chư hầuvới Trung Quốc, cùng với các nước khác ở Đông Bắc Á trở thành những nước
Trang 14phụ thuộc, chư hầu.” Kazui nói rằng “từ thời trị vì của nữ hoàng Himiko đối vớinhà nước Yamatai cho tới thời kỳ trị vì của tướng quân Ashikaga trong thời kỳMuromachi, Nhật Bản tuân theo cùng những quy tắc quốc tế.” thực sự là trongthời tướng quân Tokugawa, Nhật Bản và Trung Quốc không tiếp tục mối quan
hệ chư hầu Tuy nhiên, thương mại vẫn được tiến hành thông qua Nagasaki,mặc dù chỉ được tiến hành bởi các thương gia tư nhân và gián tiếp thông quaHàn Quốc và Ryuku Trung Quốc dưới thời nhà Thanh sẵn sàng hơn nhiều mốiquan hệ thương mại tư nhận thay cho quan hệ chư hầu chính thức
Tới đầu thời nhà Minh (1368-1644), triều đại Yi mới (1392-1910) ở HànQuốc đều đặn cử ba đoàn triều cống đi Trung Quốc Cho tới thời tướng quânTokugawa (1600-1868), ngay cả người Nhật Bản cũng có truyền thống triềucống Hoàng đế Trung Quốc Key-hiuk viết như sau:
Năm 1404 – một năm sau khi Yi lên cai trị ở Hàn Quốc lần đầu tiên nhậnphong vương chính thức của nhà Minh – Yoshimitu, tướng Ashikaga thứ ba củaNhật Bản đã nhận phong vương của nhà Minh làm được “vua Nhật Bản.”Những vị trí giống nhau, được trao cho những người cai trị Yi Hàn Quốc và nhàAshikaga Nhật Bản trong hệ thống cống nạp nhà Minh, dường như đã tạo thuậnlợi cho việc thiết lập quan hệ chính thức giữa hai nước láng giềng trên cơ sở
“bình đẳng” trong khuôn khổ thế giới trật tự thế giới Nho giáo ở Đông Á “đượckhôi phục.”
Việc cống nạp cho Trung Quốc không dẫn đến mất nhiều sự độc lập, vìnhững quốc gia này chủ yếu vẫn tự do điều hành công việc đối nội và đối ngoạimột cách độc lập với Trung Quốc Ví dụ, trong khi Việt Nam cống nạp TrungQuốc, Việt Nam vẫn mở rộng lãnh thổ của mình ở Đông Nam Á Là quốc giabảo trợ có lợi ích ở Việt Nam, Trung Quốc đã giúp Việt Nam chống Pháp (lính
“cờ đen” Trung Quốc) Năm 1592, Trung Quốc đưa quân tới Hàn Quốc để tấn
Trang 15công tướng Hideyoshi ở Nhật Bản Trong những năm 1800, Trung Quốc đưaquân đến Tây Tạng nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược từ phía Ne-pal Như vậy, việcđóng vai trò một quốc gia bảo trợ đem lại cả lợi ích kinh tế, chính trị và quân
sự, đồng thời cũng khiến cho phải chi phí thấp hơn so với chạy đua vũ trang haytham gia liên minh
Thực ra, sau các cuộc xâm lược của Hàn Quốc chống Hideyoshi ở Nhật Bảnvào thời kỳ 1592-1598, tướng quân Tokugawa đã công nhận mối quan hệ giữaNhật Bản-Hàn Quốc là bình đẳng Những tướng quân Tokugawa trị vì NhậtBản hiểu và chấp nhận vị trí của Hàn Quốc Nhật Bản sau thời Hideyoshi không
có tham vọng thôn tính hoặc xâm lược lục địa Họ ngầm thừa nhận vượt trội vaitrò lãnh đạo văn hóa cảu Trung Quốc trong thế giới Đông Á… Mặc dù NhậtBản thời Tokugawa duy trì quan hệ chính thức với Trung Quốc… hầu như NhậtBản là một phần của thế giới Trung Quốc như Nhật Bản dưới thời Ashikagatrước đây Nhật Bản dần dân trở thành sako bu (tức là nước đóng cửa) đối vớithế giới bên ngoài Tuy nhiên, điều này không thấy có trong bất kỳ nguồntài liệu Nhật Bản nào, dù công hay tư, cho đến khi có bản dịch của một tài liệucủa Hà Lan Nhật Bản và Trung Quốc, ngay cả dưới thời Tokugawa và thời nhàQing, đã có quan hệ rộng rãi Trong thời Tokugawa, bakufu đã lập quan hệngoại giao chính thức và bình đẳng với Hàn Quốc, quan hệ phụ thuộc với nhàThanh và quan hệ với Ryuku
Trong quan hệ kinh tế, trong khi không một quốc gia châu Á nào là quốc giathương mại theo cách của các quốc gia Tây Âu Trung Quốc, Nhật Bản và HànQuốc có quan hệ thương mại rộng lớn với nhau trong nhiều thế kỷ Thực ra,ngay “cống nạp” là mục tiêu giả thuyết hơn là thực tế, vì quốc gia cống nạp thuđược nhiều trong thương mại và hỗ trợ như là họ dành cho hoàng đế TrungQuốc Key-hiuk Kim viết rằng “mặc dù tổng giá trị cống nạp của Hàn Quốc
Trang 16vượt các món quà của Trung Quốc khoảng 80.000 tael hằng năm, nhưng con sốnày không thể hiện được lợi nhuận thực đối với chính phủ Trung Quốc, vìTrung Quốc đã chi ít nhất là một khoản tương đương như vậy để hỗ trợ chonhững người ở đại sứ quán Hàn Quốc.” Cống nạp hiểu theo nghĩa này dườngnhư có ý nghĩa là thương mại và truyền bá văn hóa và kỹ thuật của Trung Quốc
vì đó là quan hệ chính trị chính thức
Trung Quốc và các chư hầu của nó có sự tương tác với nhau nhiều hơn làngười ta thường thừa nhận Ấn tượng phổ biến trong lịch sử của những nướcnày là mỗi nước trong số họ hầu như tự cấp tự túc Tuy nhiên, các học giả gầnđây chỉ ra rằng thương mại, cả tư nhân và cống nạp, chiếm một phần quan trọngtrong thu nhập của chính phủ và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Trong hệthống này, những nước đó là một trật tự khu vực thịnh vượng, phức hợp vàmạnh mẽ
John Lee lưu ý, trong thời kỳ Tokugawa có “vai trò không suy giảm củaquan hệ thương mại Trung Quốc và với mức độ ít hơn với Hàn Quốc vàRyuku.” Một số học giả ước tính rằng vào thời hoàng kim của thương mại NhậtBản trong đầu những năm 1600, bạc Nhật Bản chiểm 30-40% tổng sản lượngcủa thế giới Về Trung Quốc, John Lee lưu ý rằng “Trung Quốc từ thế kỷ 16thậm chí còn tham gia sâu hơn cả Nhật Bản vào thương mại với thế giới rộnglớn hơn Có ít nơi khác sản xuất những loại hàng hóa mà toàn cầu có nhu cầuvới số lượng hoặc chủng loại nhiều hơn, và có ít nơi nào thu hút các thương gianước ngoài với số lượng tương tự.”
Geng Deng nêu rằng “Trung Quốc thường đưuọc mô tả là một nước cô lậpvới thế giới bên ngoài, tự cấp tự túc và lăng nhục chủ nghĩa tư bản… với chút ítthiơng mại với nước ngoài, nếu không nói là không có Nhưng thực tế, Trung
Trang 17Quốc cần thương mại nước ngoài, cả bằng đường bộ và đường biển, cũng nhưnhiều xã hội tiền hiện đại khác ở Âu-Á cần.”
Chế độ Zheng Chenggong ở Đài Loan trung thành với nhà Minh 1683) tham gia tam giác thương mại với Nhật Bản, Việt Nam, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin: đội tàu của ông đến riêng Nhật Bản đã gồm có 50 tàumột năm… Tổng lợi nhuận từ thương mại mỗi năm ước tính là 23-27 triệu liangbạc Hệ thống cống nạp là một hình thức thương mại chủ yếu trá hình Thươngmại cũng được thể hiện là do sự đấu tranh về khả năng cống nộp của các nướcchư hầu Hideyoshi xâm lược Hàn Quốc, một quốc gia chư hầu của nhà Minh,
(1644-để buộc Trung Quốc cho phép Nhật Bản tiếp tục quan hệ cống nạp và đe dọarằng nếu từ chối sẽ dẫn đến một cuộc xâm lược chính Trung Quốc.”
Về mặt văn hóa, ảnh hưởng của Trung Quốc có tính chất cấu tạo ngôn ngữ.Mặc dù các ngôn ngữ của Nhật Bản và Hàn Quốc đều không có nguồn gốc củaTrung Quốc (nói chung chúng được coi là Ural-Atlatic với nhiều điểm giốngvới Thổ Nhĩ Kỳ và tiếng Phần Lan, nhưng cả Việt Nam, Nhật Bản và HànQuốc đều sử dụng chữ Hán và từ vựng Hán trong hơn 2000 năm Mặc dù ngônngữ bản xứ thường được sử dụng là ngôn ngữ nói hằng ngày, nhưng tất cảnhững người học và tất cả thông tin chính thức đều được viết bằng tiếng Hán.Trước khi có những đoàn truyền giáo đạo Cơ-đốc đến Việt Nam, người ViệtNam cũng sử dụng hệ thống chữ viết trên cơ sở chữ Hán Tổ chức gia đình, giáodục, văn hóa, nghệ thuật và đồ thủ công – tất cả đều xuất phát từ ảnh hưởng củaTrung Quốc Mặc dù mỗi nước đều giữ vẻ riêng của mình, nhưng ảnh hưởngcủa Trung Quốc tràn lan khắp mọi nơi
Trái ngược với Châu Âu phong kiến – và Nhật Bản là ngoại lệ không liêntục, các dân tộc châu Á đều có các hệ thống quan liêu quản lý từ trung ương lâuđời hơn các dân tộc châu Âu Các hệ thống phong kiến có hệ thống phi tập
Trang 18trung cao, giao cho các chư hầu các chức năng cai trị Chế độ quản lý tập trungquan liêu ở Trung Quốc là một hệ thống phức tạp về quản lý và cai trị Toàn bộđất nước được chia thành nhiều khu hành chính xuống dưới cấp tỉnh, thủ đô, bổnhiệm đa số chức vụ về thuế, thương nghiệp và tư pháp Ngoài ra, kể từ triềunhà Hán, một chế độ thi cử đã được dùng để lựa chọn các quan chức cai trị Thi
đỗ và được đến thủ đô trở thành nguồn gốc của trọng tâm của giáo dục – bất kỳ
ai thi đỗ đều đảm bảo cho cả bản thân và gia đình một bước nhảy vọt về uy tín
và thu nhập
Trật tự cũ bị sụp đổ nhanh chóng vào thế kỷ 19 Sự xâm nhập của các quốcgia phương tây và những điểm yếu cố hữu của các dân tộc châu Á đã dẫn đếnmột thế kỷ hỗn loạn Khi hệ thống thứ bậc đổ vỡ, Nhật Bản đã đi đầu và tìmcách trở thành một nước bá quyền khu vực Phần lớn khu vực Đông Nam Á bịlôi kéo vào các cuộc chiến tranh du kích nhằm thoát khỏi những nước thực dânphương Tây, từ Việt Nam đến Phi-líp-pin, đến Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a Haicuộc chiến tranh thế giới và chiến tranh lạnh đều chặn tiếng của những động lực
cố hữu của châu Á Chỉ tới cuối những năm 1990 thì hệ thống mới một lần nữagiống như một hệ thống khu vực châu Á với sức mạnh và sự điều hành củachính những dân tộc châu Á
HỆ THỐNG THỨ BẬC TRONG THỜI KỲ HIỆN ĐẠI
Việc liệu một hệ thống thứ bậc có tồn tại trong lịch sử không không quantrọng bằng việc liệu một hệ thống như vậy có thể tái xuất hiện ngày nay không vànếu có thể tái xuất hiện như vậy thì tác động của nó như thế nào? Rõ ràng là khôngmột quốc gia hiện đại nào tìm cách được Trung Quốc phong chức cho người điềuhành cao nhất của mình, và không một nước nào sẽ cống nạp Trung Quốc Tuynhiên, những thực tiễn thời hiện đại có thể truyền đạt cách hiểu chung về văn hóa
và một hệ thống thứ bậc ngầm có thể tái xuất hiện Trung Quốc rộng lớn, đang phát