1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH XUẤT LAO KHẨU ĐỘNG CỦA VIỆT NAM

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 905,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là thói quen đề cao việc học để “làm thầy” mặc dù nếu bản thân học “làm thợ” sẽ tốt hơn hay “thích làm Nhà nước, không thích làm cho tư nhân”, Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp

Trang 1

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH XUẤT LAO KHẨU ĐỘNG CỦA VIỆT NAM

Môn: Kinh Tế Quốc Tế

GVHD: Nguyễn Thị Kim Hiệp

Lớp: 16LU111

Nhóm 1:

1 Huỳnh Từ Nhật Tiên

2 Võ Thị Thảo Nguyên

3 Đoàn Thị Mỹ Ân

4 Bủi Đình Quân(NT)

5 Lê Trần Toàn

6 Ngô Hoàng Nam

7 Hoàng Văn Nam

8 Nguyễn Đặng Đăng Vương

Trang 2

MỤC LỤC

I Thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam

1 Xuất khẩu lao động Việt Nam từ 1980 đến 1990 5

2 Xuất khẩu lao động Việt Nam từ 1991 đến nay 6

3 Các văn bản của Chính phủ liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam: 7

II Tác động của xuất khẩu lao động đối với Việt Nam

1 Tích cực 8

2 Hạn chế 9

3 Nguyên nhân 13

4 Định hướng và mục tiêu 13

5 Một số giải pháp 14

III Tài liệu tham khảo 15

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Như chúng ta đã biết thì tính tới tháng 3 năm 2017, dân số Việt Nam nằm ở khoảng 95 triệu người, đứng thứ 3 Đông Nam Á và thứ 13 của thế giới Trước tình hình dân số đang tăng nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều vấn đề như: chỗ ở, việc làm,

an sinh xã hội…trong đó vấn đề về việc làm đang được dư luận rất quan tâm bởi lẽ lực lượng lao động đang ra tăng với tỷ lệ nhanh chóng với hơn một triệu việc làm mới mỗi năm, số lượng lao động thất nghiệp ở nước ta đang ở mức cao khoảng 1,12 triệu người, Tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,05% ( quý II/2017) Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu Tình trạng suy giảm kinh tế toàn cầu làm cho tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng, nếp nghĩ có từ lâu trong thanh niên Là thói quen đề cao việc học để “làm thầy” mặc dù nếu bản thân học “làm thợ” sẽ tốt hơn hay “thích làm Nhà nước, không thích làm cho tư nhân”, Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp…trước tình hình này thì nhà nước ta

đã đưa ra nhiều chính sách để giải quyết vấn đề việc làm, một trong số đó là chính sách xuất khẩu lao động Và trong bài tiểu luận này, chúng em xin phân tích tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam thời gian qua

Trang 4

Khái quát về đặc điểm lao động Việt Nam:

- Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, nhanh nhẹn cần cù và có khả năng nắm bắt công việc nhanh, có thể nói thương hiệu “ Lao động Việt Nam”

đã và đang được đánh giá cao trên thị trường lao động quốc tế

- Tỉ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng lên rõ rệt, hiện nay nước ta tỉ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm khoản hơn 25,3 %, trong đó tỉ lệ qua đào tạo chuyên môn kỉ thuật chiếm khoản 16,8% lực lượng lao động Điều này chứng tỏ rằng lực lượng lao động VIệt Nam ngày càng được cũng cố về chất lượng

- Lực lượng lao động nước ta chưa có tác phong công nghiệp, tính kỉ luật trong qua trình làm việc chưa cao

- Nhìn chung, nước ta là nước có nguồn lao động dồi dào, tốc độ phát triển tương đối cao, tuy nhiên lao động nước ta còn yếu về kĩ năng và trình độ lao động, một cơ cấu lao động bất hợp lí đã tạo nên một khó khăn lớn trong quá trình giải quyết việc làm

Khái quát về xuất khẩu lao động:

 Xuất khẩu lao động Việt Nam ra nước ngoài, thường gọi tắt là xuất khẩu lao động Việt Nam, là hoạt động kinh tế dưới hình thức cung ứng lao động Việt Nam

ra nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn, phục vụ cho nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp nước ngoài Hoạt động này bắt đầu từ năm 1980 dưới hình thức hợp tác lao động với các nước Xã hội chủ nghĩa, trong tình hình kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn Kết quả đã đem lại nhiều thuận lợi cho đất nước Từ khi

cơ chế thay đổi năm 1991, hoạt động xuất khẩu lao động phát triển mạnh mẽ, mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Bước sang thế kỷ 21, có sự tăng đột biến lượng lao động Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài, nhiều nhất tại

ba thị trường Đài Loan, Malaysia và Hàn Quốc Tính đến 2011, Việt Nam có khoảng 500.000 lao động làm việc tại nước ngoài, trong đó 85.650 tại Đà i Loan, giữ vị trí thứ 2 về tổng số lao động nước ngoài tại Đài Loan

 Vai trò: Xuất khẩu lao động góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho nhiều người dân, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước và nhiều lợi ích kinh

tế khác Tuy nhiên, bên cạnh đó diễn ra song song những vấn đề bất cập về cơ chế, chính sách, quản lý từ cả hai phía trong và ngoài nước, những hạn chế về trình độ

và ý thức người lao động, tình trạng lưu trú bất hợp pháp Ngoài ra, người lao động còn có thể đổi

 Có 5 hình thức xuất khẩu lao động sang nước ngoài:

- Hiệp định chính phủ ký kết giữa hai nước

- Hợp tác lao động và chuyên gia

- Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, khoán xây dựng công trình, liên doanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài

- Thông qua các doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ cung ứng lao động

- Người lao động trực tiếp kí hợp đồng lao động với cá nhân, tổ chức nước ngoài

Trang 5

I Thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam:

1 Xuất khẩu lao động Việt Nam từ 1980 đến 1990:

Cuối những năm thập niên 70 và đầu 80, kinh tế Việt Nam trong tình cảnh gặp nhiều khó khăn, sản xuất công nghiệp trì trệ, mô hình hợp tác xã không tạo ra cạnh tranh nên không kích thích được sản xuất Thêm vào đó là các khoản nợ sau chiến tranh cần phải trả và hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc ảnh hưởng nặng nề lên nền kinh tế Do đó, chính quyền chủ trương đưa lao động ra làm việc tại các nước Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu

Năm 1980, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài với hình thức chủ yếu là hợp tác sử dụng lao động thông qua các Hiệp định Chính phủ trực tiếp ký kết Trong giai đoạn này, gần 245.000 lao động và chuyên gia đang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp trong nước được đưa đến 4 nước Xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari) Bên cạnh đưa người đi lao động, Việt Nam cũng đã ký kết về hợp tác chuyên gia trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, nông nghiệp với một số quốc gia châu Phi (Libya, Angeri, Angola, Mozambique, Congo, Madagascar) với con số người đưa sang là 7.200 người; Trung Đông (Iraq) khoảng 18.000 người Bên cạnh đó, gần 24.000 thực tập sinh và học sinh học nghề tại các nước Đông Âu đã chuyển sang lao động trong những năm thập niên 80 Tổng số lao động được đưa đi trong thời kì này gần 300.000 người

- Về cơ chế: kế hoạch hóa tập trung (bao cấp): là cơ chế trong đó nền kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân phối

về thu nhập Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế, không coi trọng các quy luật thị trường Nghĩa là hàng hóa được nhà nước cung cấp, không được mua bán tự do, không được vận chuyển tự do từ địa phương này sang địa phương khác…

- Về thị trường: là thành viên của hội đồng tương trợ kinh (SEV) thành lập năm

1949 gồm: Bulgari, Tiệp Khắc, Hungari, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Albania, Cộng hòa dân chủ Đức, Mông Cổ, Cuba, Việt Nam với mục tiêu đẩy mạnh mua bán trao đổi hàng hóa, phát triển công nghiệp, nông nghiệp,giao thông vận tải và hợp tác khoa học kĩ thuật trong phạm vi các nước Xã hội chủ nghĩa

Số lượng người Việt Nam xuất khẩu lao động sang SEV 1980-1990 như sau:

- Về tăng trưởng: không ổn định, còn phụ thuộc vào chính sách nhà nước và nước tiếp nhận lao động

Trang 6

- Về cơ cấu:

+Về ngành nghề: công nghiệp nhẹ, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất +Về giới tính: nam làm công nghiệp nặng, nữ làm trong xưởng dệt, nông trại…

 Như vậy, ta thấy thời kì này, nền kinh tế còn chậm phát triển, tình trạng thất nghiệp còn nhiều cho thấy cần phải đổi mới cơ chế của nền kinh tế theo hướng thích hợp để có thể cải thiện nền kinh tế nước nhà

2 Xuất khẩu lao động Việt Nam từ 1991 đến nay:

Từ năm 2006 đến 2008, trung bình mỗi năm có hơn 83.000 lao động xuất khẩu sang nước ngoài, chiếm khoảng 5% tổng số lao động được giải quyết việc làm trong cả nước Đến năm 2009 đã có khoảng 500.000 lao động Việt Nam làm việc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề khác nhau Vào thời điểm năm 2011, xét về lượng tiếp nhận thì lao động Việt Nam nhiều nhất tại Đài Loan, sau đó là Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Ả Rập, Lào, Campuchia, Trong số đó lao động nữ chiếm gần 50%, chủ yếu làm trong ngành phục vụ cá nhân và xã hội và công nghiệp

Năm 2011, tổng số lao động Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài theo số liệu

từ Cục Quản lý Lao động Ngoài nước là 81.475 người Theo thống kê của Hiệp hội Xuất khẩu Lao động Việt Nam, con số này là 88.298 người.[13] Riêng số lao động Việt Nam đang có mặt tại bốn thị trường lớn nhất là Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản là hơn 200.000 người (40% tổng số lao động Việt Nam tại nước ngoài)

- Về cơ chế: xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường: là quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể (hoạt động) kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất sự tương tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định để nhà sản xuất, với hành vi tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trường để quyết định ba vấn đề: sản xuât cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai Ngược lại, hoạt động của các chủ thể tạo nên sự tương tác nói trên Như vậy, cơ chế thị trường là là hình thức tổ chức kinh tế, trong

đó các quan hệ kinh tế tác động lên mọi hoạt động của nhà sản xuất và một người tiêu dùng trong quá trình trao đổi

- Về thị trường: nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ: gồm Đông và Đông Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi, Bắc Mỹ…

Trang 7

- Về tăng trưởng: tương đối ổn định

- Về cơ cấu: yêu cầu lao động trong lĩnh vực công nghệ điện tử ngày càng nhiều

- Về thu nhập: biến động do ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu

3 Các văn bản của Chính phủ có liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam:

Ngày ngày 9 tháng 11 năm 1991, Chính phủ ban hành Nghị định 370-HĐBT

về quy chế đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, cho phép các tổ chức kinh tế được thành lập và cấp giấy hoạt động xuất khẩu lao động

Năm 1995, Nghị định 370 được thay thế bằng các văn bản sau:

- Nghị định 07/CP: Về việc quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

- Nghị định 05/CP: Về việc quy định chi tiết thi hành pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Tháng 9 năm 1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 41/CT-TƯ về xuất khẩu lao động

và chuyên gia

Năm 2006, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, chính thức được Quốc hội Việt Nam khóa XI thông qua (Số 72/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006), ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2006 và có hiệu lực

từ ngày 1 tháng 7 năm 2007

Năm 2007, nhiều Nghị định liên quan làm rõ và hướng dẫn điều Luật trên ra đời, bao gồm:

- Nghị định 126/2007/NĐ-CP: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều trong Luật

- Nghị định 144/2007/NĐ-CP: Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Thông tư số 21/2013 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định về tiền ký quỹ với người lao động ban hành ngày 10-10-2013, văn bản này áp dụng đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký với doanh nghiệp có giấy phép hoạt động dịch vụ này

Trang 8

Thông tư 23/2017/TT-BLĐTBXH về hướng dẫn thực hiện cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam qua mạng điện tử Ngoài ra còn một số Quyết định về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; ban hành chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; quy định về tổ chức bộ máy chuyên trách xuất khẩu và bồi dưỡng kiến thức lao động sang nước ngoài; ban hành chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài

II Tác động của việc xuất khẩu lao động đối với Việt Nam:

1 Tích cực:

- Cơ chế kinh tế thay đổi từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường

- Thị trường được mở rộng: nếu trước kia chỉ sản xuất trong nước thì nay đã xuất khẩu ra các nước trên thế giới, không chỉ xuất khẩu lao động mà còn đấy mạnh hoạt động thương mại của nước nhà

- Nhịp độ tăng trưởng tăng tương đối ổn định

- Cơ cấu ngành nghề được đa dạng hóa, hướng tới công nghệ cao

- Mức thu nhập thời kì sau cao hơn thời kì trước

- Trình độ của người lao động được nâng cao

 Giải quyết việc làm

Mặc dù nền kinh tế của Việt Nam đã phục hồi và tiếp tục tăng trưởng, phần lớn người Việt Nam vẫn trong tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, trình độ giáo dục chưa cao Mong muốn cải thiện đời sống là nguyên nhân chính thúc đẩy người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài

Theo thống kê năm , Việt Nam có 46,7 triệu lao động, chiếm hơn 50% dân số, trong đó 90% hoạt động ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước Bên cạnh đó, mỗi năm

có thêm hơn 1 triệu người đến tuổi lao động. Thêm vào đó, mức độ gia tăng của lực lượng lao động trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thời gian nhàn rỗi ở nông thôn tương đối cao đặt ra những vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Trong đó, xuất khẩu lao động được xem một giải pháp để giảm tỷ

lệ thất nghiệp tại Việt Nam

 Nguồn thu ngoại tệ

Lao động xuất khẩu qua đào tạo ngày càng tăng Năm 2007, người lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước lượng kiều hối từ 1,6 tỷ USD. Trung bình mỗi năm gửi về từ 1,6 tỷ đến 2 tỷ USD Trong đó từ Hàn Quốc trên 700 triệu USD, Nhật Bản hơn 300 triệu USD.Năm 2010, Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 quốc gia

có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất, là một trong 10 quốc gia có thu nhập lớn

từ xuất khẩu lao động

- Lợi ích khác :

 Tạo điều kiện thay đổi đời sống người dân

 Giúp một bộ phận lao động tiếp cận với máy móc và công nghệ hiện đại, tiên tiến => nâng cao trình dộ tay nghề

 Tại vùng sau vùng xa, đa số thanh niên đều có nhu cầu lao động, công việc lao động ở quê nhà được cho là vất vả hơn đixuất khẩu lao động

Trang 9

2 Hạn chế:

 Người lao động

- Kỹ năng và trình độ lao động:Mặc dù tỷ lệ lao động được đào tạo tăng gần 35% nhưng trình độ và kỹ năng của nhiều lao động Việt Nam chưa thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước, dẫn đến chất lượng lao động chưa cao Một số lao động ở nước ngoài thiếu ý thức, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng không tốt đối với lao động Việt Nam tại nước ngoài

- Bỏ trốn và lưu trú bất hợp pháp:

Con đường về nước của lao động xuất khẩu, bao gồm lưu trú bất hợp pháp

Một vấn đề khác là việc lao động bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp diễn ra điển hình tại Hàn Quốc(40%), Nhật Bản (30%) và Đài Loan (10-15%) Mục đích các lao động phá vỡ hợp đồng ra ngoài làm là để có thu nhập cao hơn, cư trú bất hợp pháp để có thể ở lại làm việc lâu hơn, như tu nghiệp sinh tại Nhật Bản có mức lương trung bình khoảng 500 – 700 USD/tháng, nhưng nếu trốn ra làm việc ở ngoài có thể được mức lương gấp 3 lần. Tại châu Âu cũng có tình trạng nhiều lao động Việt Nam tự ý phá vỡ hợp đồng và lưu trú bất hợp pháp

Tại Hàn Quốc, Hiệp hội Nông - Ngư nghiệp, Hiệp hội các doanh nghiệp vừa

và nhỏ đã có những đánh giá không tích cực về lao động Việt Nam trong việc chuyển đổi nơi làm việc cũng như tình trạng lưu trú bất hợp pháp Điều này dẫn đến xu hướng tuyển dụng lao động Việt Nam có dấu hiệu giảm dần tại một số công

ty Thống kê năm 2011 của Hàn Quốc cho biết Việt Nam đứng đầu về số lượng lao động cư trú bất hợp pháp (8.780 trong hơn 60.000 lao động) và đứng đầu về yêu cầu đòi chuyển đổi nơi làm việc với các lý do không chính đáng (32%) so với các quốc gia khác

Bên cạnh đó còn hiện tượng người dân tự ý hoặc được môi giới đưa sang nước ngoài làm việc và lưu trú bất hợp pháp không qua hợp đồng lao động bằng những con đường như như đi du lịch, thăm người thân hoặc kết hôn giả

Ứng phó với tình trạng này, Nhật Bản tuyên bố sẽ mạnh tay hơn trong việc kiểm soát người lao động nước ngoài, nếu bỏ trốn khi bắt được sẽ trục xuất ngay về

Trang 10

nước.Về phía Hàn Quốc, chính quyền đã cân nhắc đến biện pháp hạn chế việc tổ chức kỳ kiểm tra tiếng Hàn hoặc cắt giảm chỉ tiêu tiếp nhận lao động Việt Nam, đồng thời thực hiện các giải pháp truy quét tình trạng lao động nước ngoài cư trú bất hợp pháp Kết quả con số này giảm xuống đáng kể Nhận định từ giới chức Việt Nam cho biết, việc lao động "cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc ngày càng gia tăng đã tác động xấu đến ổn định xã hội và góp phần làm phát sinh tội phạm liên quan đến người nước ngoài"

 Quy định và công tác quản lý

- Quy định và thủ tục pháp lý

Quy định và thủ tục pháp lý không rõ ràng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lợi dụng lách luật để cuối cùng bắt người lao động phải chịu những chi phí cao một cách bất hợp lý. Theo khuyến nghị của các nước khác, Việt Nam nên tập trung vào các đầu mối ở cấp tỉnh để đưa người lao động đi nước ngoài để quản lý chặt chẽ hơn

Bên cạnh đó là tình trạng vi phạm các quy định pháp luật của một số doanh nghiệp Việt Nam với các hình thức như không thẩm định hợp đồng, không đào tạo trước khi đi, không báo cáo danh sách lao động, thu tiền quá quy định… Các tổ chức, cá nhân không có chức năng thực hiện xuất khẩu lao động lừa đảo đưa người lao động sang các quốc gia khác lao động bất hợp pháp, điển hình như tại Malaysia và Đài Loan

- Thông tin thân phận người lao động:

Nhiều lao động Việt Nam qua đời ở nước ngoài, tuy nhiên những con số này chưa được công bố rộng rãi. Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội cho biết những trường hợp chết đã làm thủ tục thông báo về gia đình, còn đăng lên báo thì không

có lợi trong dư luận xã hội vì nhiều vấn đề chưa được rõ ràng Một số trường hợp

do khâu kiểm tra sức khỏe không được kỹ nên ra nước ngoài gặp điều kiện lao động căng thẳng, cộng thêm có lao động không giữ mình nên đã uống rượu, dẫn đến đột tử Có thông tin về trường hợp người lao động mất do tai nạn nhưng hai tháng sau gia đình tại Việt Nam mới được báo tin

Theo thống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước Việt Nam, từ tháng 4 năm 2002 đến đầu năm 2008 đã có hơn 300 trường hợp người lao động Việt Nam chết tại Malaysia. Riêng năm 2007, Phóng viên báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh thống kê có ít nhất 100 lao động Việt Nam chết tại Malaysia Con số này nhiều hơn hẳn các thị trường lao động khác, trong đó 1/3 thống kê do "đột tử" Có nhiều nghi vấn chưa giải đáp quanh vấn đề này vì nhiều nhân chứng tại Malaysia

và gia đình các nạn nhân khẳng định những người bị chết đều khỏe mạnh, trước đó không có biểu hiện bệnh tật. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết việc khám sức khỏe không cẩn thận là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lao động bị đột tử phổ biến tại quốc gia này

Tháng 12 năm 2011, ba lao động tại Nga thiệt mạng vì bị ngạt khí gas Do xuất khẩu lao động theo đường dây bất hợp pháp nên khi chết, họ không được chôn cất mà chỉ được quấn vải rồi lấp đất lên

Ngày đăng: 16/09/2022, 10:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w