1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

14 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 48,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi gia nhập hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam là các tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ. Trong đó, phải kể đến yêu cầu các thành viên mở rộng phạm vi đăng ký nhãn hiệu, là việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, cụ thể ở Việt Nam là bảo hộ nhãn hiệu mùi hương và âm thanh. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ đối với việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, bài viết phân tích về điều kiện bảo hộ và đưa ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình nội luật hóa việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống nhãn hiệu âm thanh.

Trang 1

BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH THEO PHÁP LUẬT HOA

KỲ- KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Lê Thị Lụa

TÓM TẮT

Khi gia nhập hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam là các tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ Trong đó, phải kể đến yêu cầu các thành viên

mở rộng phạm vi đăng ký nhãn hiệu, là việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, cụ thể ở Việt Nam là bảo hộ nhãn hiệu mùi hương và âm thanh Trên

cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ đối với việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, bài viết phân tích về điều kiện bảo hộ và đưa ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình nội luật hóa việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống - nhãn hiệu âm thanh. 

Từ khóa: Bảo hộ nhãn hiệu, nhãn hiệu phi truyền thống, nhãn hiệu

âm thanh, dấu hiệu.

1 Đặt vấn đề

Trong thời đại nền kinh tế tri thức hiện nay, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một trong những vấn đề mà các nước ngày càng quan tâm và mang tính toàn cầu Đặc biệt là khi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các văn kiện liên quan chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14 tháng 01 năm 2019 thì vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu được đặt ra một cách cấp thiết hơn nữa Cùng với sự phát triển không ngừng của các hình thức sáng tạo và xu thế hội nhập, việc bảo hộ nhãn hiệu không chỉ dừng lại ở những nhãn hiệu truyền thống mà còn mở rộng về nhãn hiệu phi truyền thống như: nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu chuyển động…Ở các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ thì việc sử dụng và

Trang 2

bảo hộ các loại nhãn hiệu phi truyền thống này tương đối phổ biến Hoạt động lập pháp quốc tế trong lĩnh vực nhãn hiệu cũng đã quan tâm tới vấn đề này, cụ thể là vấn đề nhãn hiệu phi truyền thống đã được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Hiệp hội Nhãn hiệu quốc tế (INTA) đưa vào nội dung một số điều ước quốc tế và các hội nghị quan trọng Trong khi đó, trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có những quy định

cụ thể về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh – một loại nhãn hiệu phi tuyền thống khá phổ biến hiện nay Chính vì thế, trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn làm rõ những vấn đề pháp lý về vấn đề bảo hộ âm thanh trong nội dung pháp luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Từ đó, rút ra những kinh nghiệm quí báu đối với vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ở Việt Nam hiện nay

2 Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống – nhãn hiệu âm thanh theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm/ dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp bởi các doanh nghiệp khác nhau Nhãn hiệu chính là yếu

tố để nhận diện, truyền tải thông tin một cách nhanh chóng tới người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm đúng đắn dựa trên các biểu hiện, dấu hiệu liên quan tới sản phẩm/ dịch vụ được lưu giữ trong trí nhớ của họ

Nhãn hiệu âm thanh là nhãn hiệu được tạo ra từ các dấu hiệu là âm hưởng, nhận biết bằng thính giác, có thể do tổ hợp các đơn âm hoặc thang

âm cấu thành, dùng để phân biệt nguồn gốc thương mại của sản phẩm hoặc dịch vụ

Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009 và 2019 (Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành)1 quy định: “Nhãn

1 Xem thêm tại khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm

2019 Toàn bài thống nhất sử dụng thuật ngữ Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Trang 3

hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về điều

kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ: (1) là dấu hiệu nhìn thấy được

dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; (2) có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu đối với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác2

Như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành quy định chỉ bảo hộ những dấu hiệu nhìn thấy được làm nhãn hiệu, còn những dấu hiệu không nhìn thấy được, phi truyền thống như âm thanh vẫn chưa được quy định bảo

hộ làm nhãn hiệu Trong tiến trình hội nhập quốc tế, việc quy định chỉ bảo

hộ nhãn hiệu nhìn thấy được trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành sẽ không còn phù hợp vì chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức không chỉ phạm

vi quốc gia mà còn mang tính chất quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới

3 Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia quy định rất cụ thể về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống Điều 15 Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ năm 1946 (Đạo luật Lanham) bao

gồm các quy định bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống Theo đó: “bất kỳ từ,

tên, biểu tượng, hoặc thiết bị, hoặc bất kỳ sự kết hợp của nó…được sử dụng bởi một người… để xác định và phân biệt hàng hóa của mình, bao gồm một sản phẩm độc đáo, từ những sản phẩm được sản xuất hoặc bán bởi người khác và để chỉ ra nguồn gốc hàng hóa, ngay cả khi nguồn đó không được biết 3 ” Ngoài ra, các Tòa án và Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ

đã cho phép sử dụng làm nhãn hiệu cho một hình dạng cụ thể (Chai Coca –

2 Xem thêm tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019.

3 Xem thêm tại Điều 15 Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ 1946 (Bộ Luật Laham)

Trang 4

Cola), một âm thanh cụ thể (chuông của NBC) và thậm chí là một mùi hương cụ thể4

3.1 Các dấu hiệu được bảo hộ làm nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ đã có một số nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ và sử dụng rộng rãi như tiếng gầm của sư tử cho dịch vụ giải trí truyền hình của hãng MGM, tiếng sấm rền của hãng mô tô Harley – Davison, tiếng chuông NBC

sử dụng trên đài phát thanh và đài truyền hình NBC5…Thực tiễn sử dụng và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Hoa Kỳ cho thấy đối tượng được bảo

hộ nhãn hiệu âm thanh bao gồm: Một là, tất cả các loại âm thanh (Âm nhạc; Các âm thanh do các hoạt động của con người tạo ra; Các âm thanh là tiếng kêu của động vật; Các âm thanh là tiếng động phát ra từ động cơ, máy móc; Các âm thanh là tiếng động tự nhiên) được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với

nhau Hai là, không có quy định về độ dài đoạn âm thanh được sử dụng và đăng ký làm nhãn hiệu

3.2 Tiêu chuẩn bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật Hoa Kỳ

Thứ nhất, tính phân biệt 6 hay còn gọi là khả năng phân biệt của nhãn hiệu Đây là vấn đề cốt yếu được xem xét đến trong quá trình thẩm định nhãn hiệu Đối với các loại nhãn hiệu phi truyền thống nói chung, việc đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu khá phức tạp bởi trong tiềm thức truyền thống của người tiêu dùng, các dấu hiệu không nhận biết được bằng

4 Xem thêm tại: Qualitex v.Jacobson Products, 514 U.S.159, Supreme Court 1995 :

https://en.wikipedia.org/wiki/Qualitex_Co._v._Jacobson_Products_Co, truy cập ngày 22/4/2022

5 Xem thêm thông tin về việc kiểm tra nhãn hiệu bao gồm âm thanh trong TMEP $ 1202.15 “Non – traditional marks at the US Patent and trademark office:,

https://www.wipo.int/export/sites/www/sct/en/comments/pdf/sct17/us_2.pdf, truy cập ngày 22/4/2022.

6 Xem thêm tại bài giảng của Bà Laura Hammel – Luật sư, cố vấn Văn phòng chính sách và Hợp tác quốc tế - Cơ quan Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ http://vietthink.vn/232/print-article.html, truy cập ngày 21/4/2022.

Trang 5

thị giác không phải là dấu hiệu có khả năng phân biệt nguồn gốc thương mại của hàng hóa dịch vụ

Thứ hai, tính phi chức năng 7 Để âm thanh được đăng kí làm nhãn

hiệu, thì nhãn hiệu xin đăng kí bảo hộ phải không có tính chức năng – phi chức năng Cụ thể, một nhãn hiệu xin đăng ký bảo hộ có tính chức năng nếu

nó “cần thiết cho việc sử dụng hoặc cho mục đích của sản phẩm hoặc ảnh hưởng đến giá thành hoặc giá trị của sản phẩm8” Các nhân tố để quyết định tính chức năng: Có phải sáng chế hữu ích?; Có nhằm quảng cáo – lợi ích thực tiễn?; Có phải là thiết kế thay thế?; Có khiến phương pháp sản xuất đơn giản và rẻ hơn? Từ đó có thể thấy, chỉ các dấu hiệu không mang đặc tính chức năng của sản phẩm hoặc dịch vụ thì mới có thể được cấp đăng ký nhãn hiệu và được bảo hộ

3.3 Hình thức thể hiện nhãn hiệu âm thanh

Theo mô hình của Hoa Kỳ, nhãn hiệu âm thanh có thể được thể hiện bằng việc mô tả thông qua lời văn, từ tượng thanh, nốt nhạc, khuông nhạc9 Điều này tạo được sự linh hoạt trong quy định và điều kiện thuận lợi cho người nộp đơn vì đã quy định khá rõ ràng về hình thức thể hiện, trong khi nhãn hiệu âm thanh mang đặc tính vô hình và thường khó xác định

- Hình thức thể hiện trên khuông nhạc 5 dòng kẻ: Là hình thức

thể hiện nhãn hiệu âm thanh là âm nhạc dưới dạng khuôn nhạc năm dòng kẻ được đa số các nước chấp nhận và sử dụng Tuy nhiên, không phải đối tượng nào nhìn vào cũng có thể hiểu và tưởng tượng ra được âm thanh

7 Xem thêm tại bài giảng của Bà Laura Hammel – Luật sư, cố vấn Văn phòng chính sách và Hợp tác quốc tế - Cơ quan Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ http://vietthink.vn/232/print-article.html, truy cập ngày 21/4/2022.

8 Tuyên bố của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ: https://en.wikipedia.org/wiki/Qualitex_Co._v._Jacobson_Products_Co, truy cập ngày 22/4/2022

9 Kevin Mecormickm, “DING”, You are now Free to Register that Sound, 96 Trademark Rep.1102,

https://www.inta.org/wp-content/uploads/member-only/resources/the-trademark-reporter/vol96_no5_a7.pdf, truy cập ngày 22/4/2022

Trang 6

- Hình thức thể hiện bằng sóng âm 10 : Âm thanh có thể chia thành

âm thanh là âm nhạc và âm thanh không phải là âm nhạc Như trên đã trình bày âm nhạc có thể thể hiện dưới hình thức khuông nhạc 5 dòng kẻ, nhưng phi âm nhạc thì không thể thể hiện dưới hình thức nốt nhạc Với những âm thanh phi âm nhạc, thực tế một số nước người nộp đơn thường nộp đoạn sóng âm để thể hiện âm thanh đó Tuy nhiên, nếu nộp đơn điện tử đối với các đơn đăng ký nhãn hiệu âm thanh không phải là âm nhạc thì bản sóng âm của file âm thanh lại được coi là hình thức thể hiện bằng văn bản Đối với các âm thanh không phải là âm nhạc, người nộp đơn phải nộp bản sóng âm

và file ghi âm dưới dạng MP3, ngoài ra người nộp đơn còn cần nộp kèm phần mô tả âm thanh bằng lời văn

- Hính thức thể hiện mô tả bằng lời văn 11 : Quy chế thẩm định

nhãn hiệu của Hoa Kỳ của cơ quan sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa Hoa Kỳ (USPTO), quy định nhãn hiệu âm thanh không yêu cầu nộp kèm bản đồ họa Khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, người nộp đơn chỉ cần nộp file âm thanh, bản mô tả âm thanh và chứng minh việc sử dụng âm thanh đó Trong trường hợp mô tả bằng lời văn, có một vấn đề đặt ra là từ tượng thanh, từ tượng thanh không phải lúc nào cũng thể hiện được đúng bản chất và thống nhất với âm thanh thực tế và thẩm định viên cũng khó hình dung ra nếu chỉ đọc

từ tượng thanh được nêu Ngoài ra, sự khác biệt về ngôn ngữ giữa các quốc gia cũng sẽ dẫn tới việc lý giải khác nhau đối với từ tượng thanh Bởi vậy, việc sử dụng từ tượng thanh đơn giản cũng sẽ không được chấp nhận làm một hình thức thể hiện hợp lý cho nhãn hiệu âm thanh

3.4 Nộp mẫu vật và kết hợp giữa các hình thức

10 USPTO, Trademark Rule and Status, https://www.uspto.gov/sites/default/files/documents/tmlaw.pdf

11 USPTO, Trademark Rule and Status, https://www.uspto.gov/sites/default/files/documents/tmlaw.pdf

Trang 7

Thông thường Hoa Kỳ yêu cầu người nộp đơn nộp bản mô tả âm thành bằng từ ngữ hoặc khuông nhạc kết hợp với vật mẫu (dưới dạng băng, đĩa CD hoặc file nhạc số MP3…) Tuy nhiên, việc nộp mẫu vật thì không thuận lợi cho việc công bố đơn, công chứng khi tra cứu khó có thể nghe được hết tất cả các âm thanh trong cơ sở dữ liệu Đối với nhãn hiệu không nhận biết bằng thị giác, hai hình thức thể hiện bằng đồ họa và sử dụng từ ngữ mô tả có thể bổ sung cho nhau, đối với âm thanh là âm nhạc phải sử dụng khuôn nhạc để thể hiện là chính xác nhất, còn đối với âm thanh không phải là âm nhạc mô tả bằng từ ngữ, mặc dù việc mô tả bằng từ ngữ có thể sẽ gây nhầm lẫn Bởi vậy, việc kết hợp tốt nhất là kết hợp cả hai hình thức sẽ tạo linh hoạt cho người nộp đơn

Những lưu ý khi đăng ký nhãn hiệu âm thanh:(i) yêu cầu bản vẽ

không áp dụng đối với nhãn hiệu âm nhạc; (ii) nếu một nhãn hiệu chứa âm nhạc hoặc từ ngữ kèm âm nhạc, người nộp đơn phải nộp bản nhạc để lưu lại như bản mô tả nhãn hiệu hoặc như một mẫu vật; (iii) để minh họa rằng nhãn hiệu âm thanh thực sự chỉ dẫn và phân biệt các dịch vụ và chỉ dẫn nguồn gốc của chúng12

Ví dụ về các nhãn hiệu âm thanh đã được cấp tại Hoa Kỳ bởi USPTO13: Đơn nhãn hiệu quốc gia số 2442140

Chủ sở hữu: Yahoo!, Inc

Dịch vụ: Dịch vụ máy tính và nguồn lực trực tuyến có sẵn trên mạng máy tính; Cung cấp công cụ tìm kiếm và thể hiện bằng thông tin trên các mạng máy tính; cung cấp các thông tin chung được quan tâm thông qua mạng máy tính

12 International Trademark Association (INTA), Filing a Trademark Application in the United States,

13

Trang 8

Mô tả: Nhãn hiệu chứa âm thanh là giọng người đang hát từ âm trầm lên âm cao từ “YAHOO”

4 Những thuận lợi và thách thức trong bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế

4.1 Sự cần thiết phải bảo hộ nhãn hiệu âm thanh

Một là, nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch

vụ Trong khi đó, dấu hiệu âm thanh cũng là dấu hiệu vốn tồn tại khách quan, có thể cảm nhận được Bản thân nhãn hiệu âm thanh lại đa dạng, có sự khác nhau trong cùng một loại hình nên có thể dùng để đánh dấu và phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh khác nhau Do vậy, việc sử dụng các dấu hiệu âm thanh làm nhãn hiệu là có cơ sở và phù hợp với bản chất, chức năng của nhãn hiệu

Hai là, việc sử dụng các dấu hiệu âm thanh làm nhãn hiệu hiện nay đã

xuất hiện ở nhiều nước, trong nhiều lĩnh vực như: điện ảnh, giải trí, phát thanh truyền hình, công nghệ thông tin, điện tử, dịch vụ khách sạn, nhà hàng… Vì thế, sẽ không còn cảm thấy xa lạ khi nghe những âm thanh mang tính biểu trưng của nhà sản xuất, phát hành khi xem các tác phẩm điện ảnh, chương trình giải trí, phát thanh, truyền hình Điều này cho thấy vấn đề sử dụng nhãn hiệu âm thanh đã ngày càng được quan tâm Cho nên, việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức,

cá nhân, duy trì trật tự quản lý trong lĩnh vực sử dụng nhãn hiệu là rất cần thiết và mang tính tất yếu khách quan

Ba là, Việt Nam đã gia nhập hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ

xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Hiệp định đã đặt ra những tiêu chuẩn về

sở hữu trí tuệ, cụ thể là yêu cầu các thành viên mở rộng phạm vi đăng ký nhãn hiệu Áp dụng ở thực tiễn Việt Nam là việc bảo hộ nhãn hiệu phi

Trang 9

truyền thống, cụ thể là nhãn hiệu mùi hương và nhãn hiệu âm thanh Có thể thấy, xây dựng các quy định liến quan đến bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là điều tất yếu khi tham gia hiệp định

4.2 Thách thức trong bảo hộ nhãn hiệu âm thanh 14

Một là, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể chi

tiết về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh làm cơ sở pháp lý để thực thi các hoạt động bảo hộ Do đó, sẽ có nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh để tạo nên

sự thống nhất giữa toàn bộ các hệ thống pháp luật

Hai là, thách thức trong đào tạo chuyên gia đánh giá, thẩm định đối

tượng được bảo hộ Bởi lẻ, bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống yêu cầu cần

có những chuyên gia có tâm, khách quan trong đánh giá khả năng được bảo

hộ những âm thanh Hơn nữa, trong trường hợp một nhãn hiệu âm thanh đã được đăng ký, thì yêu cầu cần thiết phải có một ứng dụng phần mềm có khả năng thẩm định các nhãn hiệu tương tự bằng cách phát hiện các giai điệu giống nhau, thì lúc đó mới có thể đảm bảo nhãn hiệu âm thanh được đăng ký không trùng với những nhãn hiệu đã được đăng ký trước đó

Ba là, thách thức trong xây dựng cơ sở dữ liệu nhãn hiệu âm thanh đã

nộp đơn hoặc được bảo hộ Người nộp đơn muốn kiểm tra những dấu hiệu

âm thanh đã được bảo hộ hay chưa nộp đơn đăng ký bảo hộ là rất khó khăn

và không có khả năng phân biệt

Bốn là, thách thức trong việc cho phép chủ thể hoàn toàn tự do đăng

ký các nhãn hiệu phi truyền thống Đây là một vấn đề cần phải xem xét, đưa

ra những quy định và hạn chế cụ thể Bởi lẻ, người nộp đơn có thể bắt đầu

14 Đỗ Thị Diện, Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong quy định của điều ước quốc tế, pháp luật Hoa Kỳ

và Việt Nam Ấn phẩm Tạp chi Nghiên cứu Lập pháp số 13 (437), tháng 7/2021.

Trang 10

lợi dụng quyền tự do đăng ký này và tiến hành đăng ký tất cả âm thanh, dẫn đến những hậu quả bất lợi như thành lập độc quyền trên một âm thanh nhất định

5 Một số định hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 15

Thứ nhất, để có thể bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, Điều 72 Luật Sở hữu

trí tuệ hiện hành cần sửa đổi theo hướng liệt kê các dấu hiệu, trong đó có dấu hiệu âm thanh Thay vì sửa đổi Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành theo hướng loại bỏ yêu cầu “nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được”, việc liệt kê này sẽ hạn chế được cách hiểu các dấu hiệu khác cũng có thể được bảo hộ dưới dạng danh nghĩa nhãn hiệu loại bỏ yêu cầu “nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được” Ngoài ra, một vấn đề đặt ra là Việt Nam cần xác định loại hình

âm thanh sẽ chấp nhận bảo hộ bao gồm những loại âm thanh gì, chỉ là âm nhạc hay tất cả các loại âm thanh nghe thấy được bao gồm cả âm nhạc và âm thanh là các loại tiếng động khác không phải là âm nhạc

Thứ hai, về các dấu hiệu không được bảo hộ làm nhãn hiệu, cũng như

các dấu hiệu khác, dấu hiệu âm thanh cũng cần được quy định rõ ngay trong Luật Sở hữu trí tuệ về đối tượng loại trừ Cụ thể là bổ sung quy định tại Điều

73 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành và Điểm 39.2.b Thông tư 01/2007/TT-BKHCN16 về các dấu hiệu âm thanh không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu Những loại âm thanh thuộc đối tượng loại trừ bảo hộ nhãn hiệu

có thể bao gồm: quốc ca của Việt Nam hoặc nước ngoài, quốc tế ca; những

15 Nguyễn Thị Hoàng Hạnh (2021), Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh – Kinh nghiệm quốc tế và những đề xuất hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Kỷ yếu hội thảo khoa học “Sửa đổi, bổ sung Luật sở hữu trí tuệ: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, tr.189

16 Xem thêm tại thông tư 01/2007/TT- BKHCN về hướng dẫn thi hành nghị định số 103/2006/ NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp

Ngày đăng: 16/09/2022, 00:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w