Hiện nay, theo xu hướng chung của thế giới, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang ngày càng trở nên sâu rộng. Đối ngoại trong thời gian này trở thành một vấn đề đáng quan tâm, đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định nhiều vấn đề lớn liên quan đến sự phát triển của đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc. Bên cạnh việc phải cân bằng trong mối quan hệ với các nước lớn, xây dựng lòng tin trong quan hệ với các nước đối tác chiến lược, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, ta còn phải tích cực đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với thế giới. Các vấn đề nổi cộm trong khu vực, đặc biệt là về an ninh, hoà bình đang trở thành những thách thức, đòi hỏi Việt Nam phải đề ra các phương thức đối ngoại khôn khéo. Nhìn vào thực tế lịch sử, những kinh nghiệm quý báu trong hoạt động đối ngoại nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và mang tính thời sự sâu sắc. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài Chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975” nhằm mục đích nghiên cứu, tìm hiểu về chính sách đối ngoại của quốc gia trong giai đoạn này, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ cho quá trình phát triển của Việt Nam trong tương lai.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
ĐỀ TÀI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1, TÌNH HÌNH QUỐC TẾ, KHU VỰC VÀ TRONG NƯỚC 5 1.1 Tình hình quốc tế và khu vực 5
1.2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam 12
CHƯƠNG 2, NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỔI NGOẠI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975 17
2.1 Mục tiêu, tư tưởng, nguyên tắc và phương châm hoạt động đối ngoại 17 2.2 Phương hướng và nhiệm vụ hoạt động đối ngoại 20
CHƯƠNG 3, TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH ĐỔI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975 24
3.1 Kiên trì độc lập tự chủ, ra sức tập hợp lực lượng trong điều kiện mới 24 3.2 Củng cố và tăng cường liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia 25
3.3 Xây dựng và phát triển mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước 26
3.4 Hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam 30
3.5 Mặt trận ngoại giao và cục diện “vừa đánh - vừa đàm” 31
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có lịch sử lâu đời gắn liền với những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại Dù phải chống lại các thế lực ngoại xâm mạnh hơn mình gấp nhiều lần, nhưng thắng lợi cuối cùng vẫn thuộc về dân tộc
ta Bên cạnh các yếu tố làm nên sức mạnh dân tộc đó là lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân và đường lối lãnh đạo đúng đắn, ta không thể không nhắc đến chính sách đối ngoại phù hợp Trải qua nhiều thời kì, chống lại các thế lực phong kiến phương Bắc hùng mạnh hơn nhiều lần, các đế quốc phương Tây với âm mưu xâm lược, đường lối đối ngoại của ta đã trải qua rất nhiều thay đổi, nhưng thứ bất biến chính là quyền lợi của quốc gia, dân tộc, thứ vạn biến chính là phương pháp đấu tranh linh hoạt, biến hóa để đạt được mục tiêu, kết hợp đấu tranh trên mặt trận quân sự và ngoại giao để giành thắng lợi, đồng thời tạo cơ hội để có thể hàn gắn và phát triển mối quan hệ giữa các quốc gua sau này
Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Bản Tuyên ngôn khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy" Để đại được mục tiêu ấy, nhân dân ta đã chung sức đồng lòng, đạt được nhiều chiến công vang dội, hai lần đánh đuổi quân thù, mà đường lối đối ngoại hết sức linh hoạt, mềm dẻo trong thời đại này đã đóng một vai trò không nhỏ trong đó
Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 là một giai đoạn có nhiều biến động Cả nước phải đương đầu với đế quốc Mỹ với tiềm lực kinh tế, quốc phòng hùng mạnh đứng đầu thế giới, trong khi giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa đã dần xuất hiện những bất đồng sâu sắc, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc Đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời điểm này đóng một vai trò vô
Trang 4cùng quan trọng trong việc tập hợp lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của các nước
xã hội chủ nghĩa, tạo thêm thế và lực cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Từ đó, tiếp thêm nghị lực và mở ra con đường cho dân tộc Việt Nam tiến lên giành thắng lợi cuối cùng
Hiện nay, theo xu hướng chung của thế giới, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang ngày càng trở nên sâu rộng Đối ngoại trong thời gian này trở thành một vấn đề đáng quan tâm, đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định nhiều vấn đề lớn liên quan đến sự phát triển của đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Bên cạnh việc phải cân bằng trong mối quan hệ với các nước lớn, xây dựng lòng tin trong quan hệ với các nước đối tác chiến lược, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, ta còn phải tích cực đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với thế giới Các vấn đề nổi cộm trong khu vực, đặc biệt là về an ninh, hoà bình đang trở thành những thách thức, đòi hỏi Việt Nam phải đề ra các phương thức đối ngoại khôn khéo Nhìn vào thực
tế lịch sử, những kinh nghiệm quý báu trong hoạt động đối ngoại nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước từ năm 1954 đến năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và mang tính thời sự sâu sắc Với những lý do trên, tôi chọn đề tài " Chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975” nhằm mục đích nghiên cứu, tìm hiểu về chính sách đối ngoại của quốc gia trong giai đoạn này, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ cho quá trình phát triển của Việt Nam trong tương lai
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích
Thông qua quá trình xác định chính sách đổi ngoại theo đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam, khẳng định sự nhạy bén chính trị, kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng đã kịp thời đổi mới chính sách đối ngoại phù hợp với chính sách đối nội và xu thế thời đại để hội nhập với cộng đồng quốc tế vì hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Chính sách Đối ngoại chung của Đảng và Nhà Nước trong giai đoạn 1954 – 1975
Nội dung: Thông qua những phân tích biển chuyển của tình hình trong nước, thể giới, khái quát có hệ thống sự chuyển biến, sự phát triển chính sách đối ngoại của Đảng - Nhà nước tiến hành xây dựng kết hợp bảo vệ chủ quyền quốc gia và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu
Tư liệu phục vụ cho tiểu luận dựa vào:
+ Một số sách kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Một số sách lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng - Nhà nước Việt Nam,
+ Kế thừa những tư liệu được công bố qua các công trình nghiên cứu của một
số tác giả đã nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
Theo phương pháp luận sử học, đồng thời dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và kết hợp chặt chẽ các phương pháp lịch sử với so sánh, thống kê nhằm làm nổi bật những thắng lợi trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng gần 29 năm qua
Trang 61.2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỔI NGOẠI CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1954 - 1975
2.1 Mục tiêu, tư tưởng, nguyên tắc và phương châm hoạt động đối ngoại
2.2 Phương hướng và nhiệm vụ hoạt động đối ngoại
3 TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH ĐỔI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975
3.1 Kiên trì độc lập tự chủ, ra sức tập hợp lực lượng trong điều kiện mới
3.2 Củng cố và tăng cường liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào -
Cam-pu-chia
3.3 Xây dựng và phát triển mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết và ủng
hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước
3.4 Hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam
3.5 Mặt trận ngoại giao và cục diện “vừa đánh - vừa đàm”
Trang 7CHƯƠNG 1, TÌNH HÌNH QUỐC TẾ, KHU VỰC VÀ TRONG NƯỚC 1.1 Tình hình quốc tế và khu vực
1.1.1 Tình hình quốc tế
Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân sinh và dân chủ, tạo thành ba dòng thác cách mạng trên thế giới
đó là:
Hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, trải rộng ở châu Âu (Liên
Xô, các nước Trung và Đông Âu), châu Á (Trung Quốc, Việt Nam) và Mỹ La tinh (Cu-ba) Sức mạnh kinh tế và quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố và ngày càng tăng cường Ngày 8-1-1949, hội nghị kinh tế gồm các đại biểu các nước Liên Xô, Anbani, Ba Lan, Bungari,Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc đã quyết định thành lập tổ chức kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa Các nước Anbani, Ba Lan, Bungari, Cộng hòa dân chủ Đức, Hunggari, Rumani, Liên Xô và Tiệp Khắc đã tổ chức hội nghị ở Vacsava kí kết “Hiệp ước Hữu nghị, hợp tác và tương trợ” ngày 14-5-1955 với thời hạn 20 năm nhằm giữ gìn an ninh của các nước thành viên, duy trì hòa bình ở châu Âu và củng cố hơn nữa tình hữu nghị và sự hợp tác giữa các nước thành viên xã hội chủ nghĩa anh em
Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1975, cũng chứng kiến sự thăng trầm trong quan hệ của khối các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu
Để đủ sức đối phó với khối tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu, từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, các nước xã hội chủ nghĩa đã có những hoạt động để thắt chặt mối quan hệ trong khối Với sự thắng lợi của cách mạng Trung Quốc (1949) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã tăng cường lực lượng phe xã hội chủ nghĩa khi tuyên bố đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa Sự hình thành khối các nước xã hội chủ nghĩa kéo dài từ Âu sang Á, ngày càng hợp tác chặt chẽ với nhau trong khi Việt Nam là một thành viên của khối này là thuận lợi lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam Không thể phủ nhận,
Trang 8tinh thần, ý chí tự lực tự cường, phát huy nội lực của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Bên cạnh đó có thể khẳng định: "Sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã mang lại hiệu quả tích cực, là một trong những nhân tố quan trọng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi"
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được sự hậu thuẫn và giúp đỡ của
hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, phong trào giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc của các nước thuộc địa, nửa thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh vốn âm ỉ từ lâu đã bùng lên mạnh mẽ, phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành phong trào chính trị có quy mô rộng lớn và là một lực lượng cách mạng của thời đại Trong thập niên đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đã sụp đổ ở hầu hết các nước châu Á, hơn 1,2 tỷ người được giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân
Bước sang thập niên thứ hai sau chiến tranh, trong xu thế phát triển chung của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt được sự cổ vũ bởi thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào giải phóng dân tộc đã phát triển mạnh mẽ trên khắp lục địa châu Phi Trong bối cảnh đó, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc tại khóa họp thứ 15 (1960) đã thông qua Tuyên ngôn “Về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia dân tộc thuộc địa” Kể từ đây, phần lớn các nước thuộc địa và nửa thuộc địa còn lại, đặc biệt là ở châu Phi đã giành được độc lập Đến cuối thập niên 60, thế kỷ XX, hơn 1,5 tỷ người đã được giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân, chiếm hơn một nửa dân số toàn cầu Cũng kể từ đây, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc dưới hình thức cổ điển của nó đã căn bản bị xóa bỏ Kết quả của cuộc đấu tranh này đã có ảnh hưởng quan trọng đến sự tập hợp lực lượng trên thế giới theo hướng ngày càng có lợi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, góp phần làm cho phạm vi thống trị của chủ nghĩa
đế quốc bị thu hẹp đáng kể Điều đó góp phần cổ vũ to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 9Thấu hiểu được nỗi đau mất nước, mất độc lập tự chủ, sau khi giành được độc lập nhiều nước cùng với nhân dân ở Á, Phi, Mỹ Latinh đã có nhiều hành động tích cực để ủng hộ nhân dân Việt Nam Đặc biệt sự ra đời của Phong trào Không liên kết (1961) mục tiêu chống chủ nghĩa đế quốc, chống lại sự bá quyền của các nước lớn, đấu tranh cho hòa bình và bình đẳng trên thế giới Từ khi ra đời, Phong trào Không liên kết đã có những ủng hộ tích cực cho cách mạng Việt Nam góp lên tiếng nói mạnh mẽ ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra mạnh mẽ, tương đối đều khắp trong các nước tư bản có sự lãnh đạo của các Đảng cộng sản nhằm các mục tiêu kinh tế, giành các quyền lợi dân sinh, dân chủ, bảo vệ hòa bình được kết hợp với đấu tranh bảo vệ chủ quyền: Nét nổi bật của phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển thời kỳ chiến tranh lạnh là phong trào bãi công đã phát triển mạnh mẽ, bãi công không chỉ đơn thuần do những nguyên nhân kinh tế, mà có cả những yêu sách chính trị rõ rệt Nếu tỷ lệ người lao động làm thuê trong các nước tư bản từ sau năm 1945 đến những năm 80 tăng từ 1,5 đến 2 lần, thì số cuộc bãi công trong cùng thời gian đó đã tăng 3,5 lần Các cuộc bãi công phát triển mạnh ngay ở những nước mà chính phủ tư sản và đảng dân chủ xã hội cầm quyền ở ba trung tâm lớn của chủ nghĩa đế quốc: Mỹ - Tây Âu, Nhật Bản Các cuộc bãi công diễn ra từ quy mô toàn ngành đến toàn quốc, với hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu người tham gia Những hình thức đấu tranh cũng rất phong phú, như bãi công, tổng bãi công, đình công, chiếm xưởng, đi
bộ phản kháng, biểu tình
Phong trào đấu tranh chống lại kế hoạch Macxan, chính sách quân sự hóa kinh tế, chạy đua vũ trang tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ Song song với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Tây Âu thiên về yêu sách kinh tế, là phong trào chống chiến tranh đòi hòa bình và tiến bộ xã hội phát triển mạnh mẽ suốt từ những năm 50 đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX Hình thành mặt trận rộng rãi đấu tranh chống sự liên kết của các tập đoàn tư
Trang 10bản độc quyền; Ảnh hưởng của các đảng cộng sản và hệ tư tưởng Mác - Lênin sâu rộng hơn trong công nhân
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, Trật tự thế giới hai cực Ianta hình thành, dẫn đến sự tranh giành phạm vi ảnh hưởng, đối đầu và chi phối nhiều mối quan
hệ quốc tế Để thực hiện tham vọng giành ưu thế trong cuộc chạy đua giành phạm vi ảnh hưởng với Liên Xô, ngày 12/3/1947 học thuyết Truman ra đời, với quyết tâm đưa nước Mỹ chiếm vị trí độc tôn lãnh đạo thế giới, chống sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản và ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên Xô Mỹ lôi kéo đồng minh bằng viện trợ kinh tế, chạy đua vũ trang, thực hiện nhiều biện pháp để chặn đứng tầm ảnh hưởng của Liên Xô và chống lại phong trào giải phóng dân tộc mang tính chất cộng sản Với sự kiện này, Mỹ chính thức tuyên chiến đối đầu với Liên Xô và cục diện Chiến tranh lạnh được hình thành Học thuyết Truman đã trở thành "hòn đá tảng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ giai đoạn 1947 - 1991, Chiến tranh lạnh, đối đầu Xô - Mỹ có tác động và ảnh hưởng lớn đến cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước của Việt Nam, làm cho cuộc đấu tranh của Việt Nam trở nên khó khăn hơn khi các cường quốc muốn biến Việt Nam trở thành nơi gián tiếp đối đầu của họ
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật: (từ thập niên 40 đến thập niên 80 thế kỷ XX) với đặc điểm căn bản có ý nghĩa quyết định và có tính phổ biến là
sự phát triển mạnh mẽ của tự động hoá và điều khiển học trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sản xuất trên cơ sở các thành tựu của vật lý học, hoá học, điện tử - tin học, Nhờ vậy, một loạt các ngành như năng lượng nguyên tử, hoá học polyme, kỹ thuật tên lửa và hàng không - vũ trụ đã được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ Tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế thế giới, đòi hỏi các quốc gia phải có những điều chỉnh cơ cấu kinh tế thích hợp
Một điều kiện quốc tế hết sức thuận lợi cho Việt Nam là phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược phát triển rộng khắp: Hội nghị nhân dân Đông Dương tại Phnom Penh (3-1965) đã thông qua Nghị quyết
về vấn đề Việt Nam, biểu thị tình cảm hữu nghị và sự ủng hộ của nhân dân Lào
Trang 11và nhân dân Campuchia đối với cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam Nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ, Cuba - là nòng cốt của phong trào nhân dân các nước trên thế giới, đã bày tỏ tình đoàn kết và dành sự ủng hộ về tinh thần và chính trị, giúp đỡ về vật chất to lớn cho nhân dân Việt Nam; sẵn sàng tình nguyện sang Việt Nam tham gia chiến đấu chống xâm lược
Mỹ bất cứ khi nào Việt Nam cần đến Nhiều nước chủ động hoặc hưởng ứng những lời kêu gọi của Tổ chức đoàn kết nhân dân Á - Phi, Tổ chức đoàn kết nhân dân Á - Phi - Mỹ Latinh đã có nhiều hoạt động lên án đế quốc Mỹ, quyên góp ủng hộ nhân dân Việt Nam
1.1.2 Tình hình khu vực
Trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1975, tuy mỗi nước ở Đông Nam Á có hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, nhưng tựu trung đều trong giai đoạn khó khăn trong việc giành và bảo vệ nền độc lập của mình Các nước lớn như Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc tìm mọi cách để hiện diện và xác lập phạm
vi ảnh hưởng của mình bằng những phương cách mang đặc trưng riêng Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công (1949), nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo đã làm cho Mỹ quan ngại Với đất rộng, người đông, có nhiều tham vọng, Trung Quốc sẽ tác động và xác lập vị trí ảnh hưởng đến các nước Đông Nam Á, điều đó làm Mỹ lo sợ các nước Đông Nam Á sẽ do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đe dọa thế giới tự do mà Mỹ đang tiên phong xây dựng Mỹ cho rằng: "Điều kiện hiện nay, việc áp đặt dù bằng bất kỳ phương cách nào, hệ thống chính trị của nước Nga cộng sản và của Trung Quốc đồng minh vào Đông Nam Á đều tạo thành mối nguy to với thế giới tự do" Thậm chí Mỹ còn phân tích và dự đoán, nếu không có những hành động kịp thời thì Đông Nam Á sẽ trở thành Đông Âu của Trung Quốc Điều này một mặt khẳng định, những lo ngại của Mỹ về ảnh hưởng của Trung Quốc, mặt khác muốn nhấn mạnh thực tế là các nước Đông Âu đã thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô Do vậy, Mỹ tự cho mình có sứ mệnh phải ngăn chặn sự xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản xuống Đông Nam Á Mặt khác, việc Mỹ
Trang 12muốn nắm khu vực Đông Nam Á không chỉ đơn thuần về mặt chính trị và ý thức hệ mà còn liên quan đến kinh tế và lợi ích chiến lược của Mỹ trong tương lai bởi vì Đông Nam Á có vị trí chiến lược rất quan trọng, là nơi án ngự con đường ra biển Đông, là trạm trung chuyển từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương với những eo biển trở thành huyết mạch giao thông trên biển, tiêu biểu như eo Malacca Do đó, kiểm soát được Đông Nam Á, đồng nghĩa với kiểm soát được con đường vận chuyển từ Trung Đông sang Đông Bắc Á, kiềm chế được sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc xuống phía Nam và kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc
Về phía Trung Quốc, luôn xem Đông Nam Á có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong chiến lược đưa họ trở thành cường quốc trên thế giới Đây là con đường đưa Trung Quốc xuống phía Nam, là thị trường đông dân với nguồn tài nguyên phong phú và có vị trí địa chính trị hết sức quan trọng Việc xác lập phạm vi ảnh hưởng đến khu vực này, trở nên vô cùng quan trọng đối với chính quyền Trung Quốc Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, các cường quốc đều muốn xác lập phạm vi ảnh hưởng của mình lên Việt Nam để điều khiển, chi phối toàn bộ Đông Nam Á Điều này, thực sự gây nhiều khó khăn cho Việt Nam, trong đánh giá tình hình, theo dõi diễn tiến chính sách đối ngoại của các nước lớn, xem xét tình hình thực tế của cách mạng trong nước để hoạch định được đường lối, B chính sách đối ngoại phù hợp
Từ năm 1954 đến năm 1975, ba nước Đông Dương phải trải qua cuộc đấu tranh gay go, khó khăn hơn rất nhiều do chính sách can thiệp sâu và quyết liệt của Mỹ vào các nước này Việc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ (1954), đồng thời tăng cường viện trợ, giúp đỡ thành lập các lực lượng đối lập để chống lại lực lượng cách mạng gây nhiều khó khăn cho việc thi hành Hiệp định Giơnevơ, giải quyết vấn đề hòa hợp, thống nhất dân tộc trên cơ sở hòa bình của
ba nước Đông Dương Ở Việt Nam, Mỹ giúp đỡ thành lập Chính quyền Việt Nam Cộng hòa âm mưu chia cắt Việt Nam lâu dài Mỹ tăng cường viện trợ cho Chính phủ Vương quốc Lào để đủ sức đứng vững, nhằm giành thắng lợi trước
Trang 13lực lượng cách mạng do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo Tại Campuchia, Mỹ ủng hộ Lon Non lật đổ chính phủ của Quốc vương N.Sihanouk (1970), chấm dứt thời kỳ trung lập của nước này và đưa vào vòng xoáy cuộc chiến tranh Đông Dương Nhân dân ba nước Đông Dương phải đương đầu với
sự can thiệp ngày càng sâu rộng của Mỹ, chính điều đó đã thắt chặt hơn mối quan hệ đoàn kết giữa lực lượng cách mạng ba nước "Việt Nam, Campuchia
và Lào, vì mục tiêu chung chống đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập dân tộc, hòa bình
và an ninh ở khu vực này" Ngược lại, quan hệ của ba nước Đông Dương với các nước đồng minh của Mỹ trong khu vực như Thái Lan, Philippines đã trở nên xấu đi khi hai nước này trở thành đồng minh của Mỹ và đưa quân tham chiến ở Việt Nam
Tình hình Đông Nam Á, từ năm 1954 đến năm 1975 diễn biến phức tạp, quan hệ giữa các nước trong khu vực có sự chia rẽ sâu sắc, do sự tác động, chi phối, tranh giành phạm vi ảnh hưởng của các nước lớn Thực tế, mâu thuẫn giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á đã làm yếu đi sự nhất trí, đoàn kết của các nước, trước việc đẩy mạnh can thiệp của các nước lớn Lợi dụng sự mất đoàn kết, Mỹ đẩy mạnh xâm nhập, can thiệp, chi phối, dần biến các nước Đông Nam Á trở thành đồng minh ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tại Việt Nam Vấn đề này, thực tế đã ảnh hưởng không tốt đến cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của Việt Nam, gây khó khăn cho Việt Nam trong việc tập hợp lực lượng trong khu vực Chính các nước trong khu vực dần nhận ra sự can thiệp của các nước lớn, có chủ ý thu hẹp bất đồng, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực để giảm thiểu khả năng tác động, chi phối của các nước lớn
Từ năm 1958, Thủ tướng Malaya là Abdul Rahman kêu gọi thực hiện một hội nghị thượng đỉnh ở Đông Nam Á để tìm kiếm sự đồng thuận và thống nhất Tiếp đó, ông kêu gọi thỏa thuận quốc phòng giữa một số nước Đông Nam
Á, nhưng vẫn nhận được sự thờ ơ của các nước trong khu vực vì chưa thực sự tìm được điểm chung Sau khi trải qua rất nhiều khó khăn, ngày 8/8/1967 tại Bangkok, Hội nghị ngoại trưởng các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore đã chính thức tuyên bố thành lập Hiệp hội các nước
Trang 14Đông Nam Á - ASEAN (Assocation of South East Asia Nations) Trong đó nêu
rõ, tôn chỉ của ASEAN nhằm mục đích xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, thịnh vượng, tăng cường hiểu biết và hợp tác nhiều mặt (kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học - kĩ thuật, hành chính ) Đồng thời, khẳng định quyết tâm bảo vệ an ninh, tạo môi trường ổn định và không để bên ngoài can thiệp vào dưới bất cứ hình thức nào Ngày 27/11/1971 các nước Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan ký Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do và trung lập - ZOPFAN (Zone of Peace, Freedom and Neatrality) tại thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia nhằm đẩy mạnh hơn nữa tình đoàn kết, hợp tác giữa các nước, cùng tồn tại độc lập, hòa bình, trung lập, chống lại sự can thiệp từ bên ngoài Việc tranh thủ sự ủng hộ của ASEAN là một bài toán khó giải đối với Việt Nam lúc bấy giờ, bởi ngoài sự khác biệt về hệ tư tưởng, thì cấu kết, đồng thuận, thống nhất của khối lúc bấy giờ còn rất hạn chế, trong khi các nước chủ chốt trong khối như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines đều là những đồng minh thân thiết với Mỹ
1.2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương, quân Pháp rút khỏi Việt Nam (Ngày 09/10/1954, đơn vị cuối cùng của quân Pháp rút khỏi
Hà Nội Ngày 28/4/1956, quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam), Mỹ trực tiếp can thiệp Việt Nam, dựng chính phủ bù nhìn thân Mỹ Ngô Đình Diệm ở miền Nam, sử dụng miền Nam làm bàn đạp leo thang chiến tranh xâm lược miền Bắc (Ngày 09/10/1954, đơn vị cuối cùng của quân Pháp rút khỏi Hà Nội Ngày 28/4/1956, quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam - Ngày 26/7/1956, Phó Tổng thống Mỹ R Ních-xơn thăm Sài Gòn Ngày 11/5/1961, Tổng thống
Mỹ Ken-nơdi quyết định gửi 100 cố vấn quân sự và 400 lính thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ sang Việt Nam (đến tháng 10/1963, số lượng cố vấn Mỹ tại miền Nam đã lên đến 16.732 người); cho phép CIA tiến hành các hoạt động chống Bắc Việt Nam Ngày 8/2/1962, Mỹ lập Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự (MACV) tại Sài Gòn Ngày 05/8/1964, Mỹ bắt đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc Ngày 08/3/1965, 3.500 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng và Chu Lai; Mỹ bắt
Trang 15đầu đưa quân ồ ạt sang Việt Nam); mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương (Ngày 18/3/1970, ở Cam-pu-chia, Tường Lon-non đảo chính lật đổ Quốc trưởng Xi-ha-núc Ngày 29/4/1970, hơn 10 vạn quân Mỹ-Nguỵ vượt biên giới xâm lược Cam-pu-chia Đầu năm 1971, Mỹ-Nguy mở cuộc hành quân lập phòng tuyến “Đường 9 - Nam Lào” và bị quân đội Việt Nam và Pa-thét Lào đánh tan (ngày 23/3/1971)
Đất nước bị chia cắt thành hai miền; miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ Chính quyền Diệm không thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, phá hoại hiệp thương và tổng tuyển cử thống nhất đất nước (Ngày 04/3/1956, Chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức “Tổng tuyển cử” ở miền Nam, lập Quốc hội và thông qua Hiến pháp của Việt Nam Cộng hoà Ngày 13/5/1957, Ngô Đình Diệm thăm Mỹ, tuyên bố: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”), thẳng tay khủng bố, đàn áp nhân dân và những người kháng chiến cũ (luật 10/59) Việc Chính quyền Việt Nam Cộng hòa sử dụng vũ lực quân sự, gây cho cách mạng miền Nam nhiều tổn thất, nhiều đảng viên bị bắt, bị giết và nhiều tổ chức cơ sở đảng bị phá vỡ Trước tình hình
đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ
15 (1/1959), đánh giá tình hình cách mạng miền Nam, phân tích âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và quyết định kết hợp đấu tranh chính trị với khởi nghĩa vũ trang
để giành chính quyền về tay nhân dân Trong Hội nghị Trung ương 15 khóa II, Đảng Lao động Việt Nam đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: "Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa
xã hội" Nghị quyết đã đáp ứng đúng nguyện vọng cách mạng miền Nam, làm bùng nổ phong trào Đồng khởi, làm tan rã từng mảng lớn chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở nông thôn, các chi bộ đảng lãnh đạo thành lập các chính quyền
do cách mạng làm chủ Đồng khởi, là mốc khởi đầu tạo thế và lực cho cách
Trang 16mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này Hội nghị Trung ương 15 (1959) đã đánh giá đúng tình hình thế giới, tình hình miền Nam, hoạch đúng đắn đường lối cách mạng cho miền Nam, trong đó có đường lối đối ngoại
Tại Đại hội Đại biểu Đảng Lao động Việt Nam toàn quốc lần thứ III (9/1960), căn cứ phân tích tình hình cụ thể của cách mạng hai miền, Nghị quyết Đại hội khẳng định: "Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà (Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 917), miền Bắc trở thành hậu phương đóng vai trò quyết định nhất trong sự nghiệp thống nhất đất nước Trong khi miền Nam "có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền Nam"(Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 917), trở thành tiền tuyến có vai trò quyết định trực tiếp trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Sự xác định đúng đắn nhiệm vụ của từng miền trên cơ sở căn cứ vào tình hình thực tế, giúp hai miền phát huy hết thế mạnh của mình, phối hợp hiệu quả, bổ cho nhau Trên cơ sở đó, phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ độc lập dân tộc
Thực hiện nhiệm vụ của mình, miền Bắc tiến hành biện pháp hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, cải tạo công thương nghiệp, thực hiện
kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội Mặc dù công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tồn tại những yếu kém, khuyết điểm, nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, miền Bắc đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của hậu phương cho tiền tuyến miền Nam Tính đến 1975 sản lượng lương thực đạt 5,5 triệu tấn, tốc độ phát triển bình quân của sản xuất công nghiệp đạt 3,9%, hệ thống trường học được xây dựng rộng khắp từ thành thị, nông thôn, đồng bằng và miền núi Đội ngũ cán bộ khoa học - kĩ thuật và cán bộ quản lý có trình độ trung học chuyên
Trang 17nghiệp, đại học và trên đại học là 43 vạn người tăng 19 lần so với 1960 Trong chống chiến tranh phá hoại, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 4181 máy bay Mỹ, bắt sống hàng trăm giặc lái Với 04 tuyến đường được xây dựng (đường Hồ Chí Minh trên bộ, đường Hồ Chí Minh trên biển, đường xăng dầu, mở tài khoản ở nước ngoài) miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương lớn chi tiền tuyến miền Nam Hàng vạn tấn vũ khí, thuốc men, đạn dược, các phương tiện chiến tranh, hàng ngàn lượt cán bộ, chiến sĩ chi viện cho miền Nam Đó chính
là nguồn cảm hứng và động lực cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975 Những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, có sự đóng góp hết sức to lớn của mặt trận đối ngoại giúp thế giới hiểu được sự chính nghĩa của Việt Nam từ đó ủng hộ, giúp đỡ những điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết giúp miền Bắc vươn lên chuyển mình mạnh mẽ, trở thành hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc
Kể từ sau Phong trào Đồng khởi (1960), cách mạnh miền Nam chuyển
từ thế giữ gìn lực lượng sang chủ động tiến công Với sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả của hậu phương miền Bắc và tiền tuyến miền Nam, cách mạng miền Nam đã giành nhiều thắng lợi quan trọng, đánh bại các loại hình chiến tranh xâm lược kiểu mới của Mỹ Ngày 20/12/1960, ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch); ngày 15/2/1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập (bà Nguyễn Thị Định làm Tư lệnh); ngày 08/6/1969, thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch) Riêng trong tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã lập quan hệ ngoại giao với 14 nước Ta giành được nhiều thắng lợi về chính trị và quân sự, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ-Ngụy
ở miền Nam [Các chiến lược: “chiến tranh đặc biệt” theo công thức “quân Nguy kết hợp với Vũ khí và cố vấn Mỹ” (1960-1964), “chiến tranh cục bộ” theo công thức “quân Mỹ và chư hầu + quân Nguy” (1965-1968), “Việt Nam hoá chiến
Trang 18tranh” theo công thức “quân Ngụy + sự yểm trợ của Mỹ” (19681972)] và chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ
Đúng vào Tết Mậu Thân 1968 (ngày 31/1/1968), quân và dân miền Nam tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của Mỹ - Ngụy tại Sài Gòn và các thành phố lớn Tháng 5/1968, bắt đầu các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ tại Pa-ri
Đến tháng 12/1972, Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B-52, ồ ạt đánh phá
Hà Nội, Hải Phòng Quân và dân miền Bắc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”, đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh xâm lược của Mỹ Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết (Bốn bên ký Hiệp định Pa-ri 1973: đại diện Chính phủ Hoa
Kỳ là Ngoại trưởng William P Rogers; đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh; đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình; đại diện Chính phủ Việt Nam Cộng hoà là Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Lắm) Ngày 29/3/1973, người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam
Ngày 05/3/1975, bắt đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm
1975 với các chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử; sau 15 ngày thần tốc đánh giặc, ngày 30/4/1975, quân ta tiến vào Dinh Độc lập, bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ Nội các Chính quyền Nguỵ Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam
Trang 19CHƯƠNG 2, NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỔI NGOẠI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
2.1 Mục tiêu, tư tưởng, nguyên tắc và phương châm hoạt động đối ngoại
Mục tiêu đổi ngoại: Đối ngoại phải quyết tâm thực hiện: "Đấu tranh cách mạng với đấu tranh bảo vệ hoà bình, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào bọn đế quốc hiếu chiến và xâm lược đứng đầu là đế quốc Mỹ; đánh lui từng bước và đánh
đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc, giành thắng lợi cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội"
Để góp phần thực hiện mục tiêu đó, mặt trận đối ngoại phải kiên định lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất quán và vận dụng linh hoạt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thống nhất tư tưởng và hành động trong các chiến lược, sách lược, thương lượng và đàm phán ngoại giao Đối ngoại phải tăng cường tình đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa
và các lực lượng tiến bộ trên thế giới: "Đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở ngày càng vững chắc cho cuộc đấu tranh giành thống nhất Tổ quốc; ra sức hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ
sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"
Tùy theo các mối quan hệ quốc tế, phạm vi ảnh hưởng, mức độ ủng hộ của các chính phủ, tổ chức, nhân dân các nước, để xây dựng mục tiêu phù hợp nhằm tranh thủ sự ủng hộ, tập hợp lực lượng có lợi cho cuộc kháng chiến chống
Mỹ, bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam
Tư tưởng chỉ đạo đối ngoại: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Xem cách mạng Việt Nam "là một bộ phân tích cực của phong trào quốc tế đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc
và hòa bình thế giới", trở thành kim chỉ nam trong hoạch định chiến lược, sách