1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH QUAN điểm của CHỦ NGHĨA mác – LÊNIN về dân tộc và GIẢI QUYẾT vấn đề dân tộc TRONG CÁCH MẠNG XHCN LIÊN hệ THỰC TIỄN VIỆT NAM

16 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Dân Tộc Và Giải Quyết Vấn Đề Dân Tộc Trong Cách Mạng XHCN. Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Huyền Trang
Người hướng dẫn TS Nguyễn Văn Hậu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 328,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---***---BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CÁC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CÁCH MẠNG XHCN LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

HÀ NỘI, NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 3

I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC 3

1. Dân tộc và xu hướng phát triển khách quan của dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin 3

1.1 Khái niệm về dân tộc và đặc trưng 3

1.2 Hai xu hướng phát triển khách quan của dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựng CNXH 5

2 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin 6

2.1 Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng 7

2.2 Các dân tộc được quyền tự quyết 7

2.3 Liên hiệp công nhân các dân tộc 8

II LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM 8

1. Đối chiếu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin với một số đặc điểm của dân tộc đất nước ta hiện nay 8

2. Sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam 10

C KẾT LUẬN 14

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

A LỜI MỞ ĐẦU

Khi đề cập đến khái niệm dân tộc, V.I Lênin cho rằng: Dân tộc là hình thức cộng đồng người xuất hiện sau bộ lạc và là cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, nhà nước V.I Lênin cho rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa cùng với việc xóa

bỏ chế độ bóc lột tư bản, đồng nghĩa với việc chấm dứt sự thống trị của giai cấp tư sản đối với dân tộc và dân tộc tư sản sẽ được thay thế bằng dân tộc xã hội chủ nghĩa mà người đại diện chân chính là giai cấp công nhân, mỗi dân tộc đều có quyền tự quyết và mối quan hệ giữa các dân tộc được duy trì và phát triển theo nguyên tắc bình đẳng Vận dụng lý luận của C Mác, Ph Ăngghen về vấn đề dân tộc, V.I Lênin đã phát triển thành học thuyết quan trọng, khoa học Thực tế cho thấy, đây một hệ thống tư tưởng,

lý luận hoàn chỉnh kết hợp chặt chẽ tính khoa học và cách mạng trong học thuyết Mác

- Lênin về vấn đề dân tộc

Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là vấn đề hết sức nhạy cảm của tất

cả các dân tộc và của các quốc gia trong thời đại ngày nay Ở Việt Nam, vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là vấn đề hết sức quan trọng trong xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước, với quan điểm: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, nhằm phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc giải quyết “Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc” của V.I Lênin vẫn còn nguyên giá trị Đây là vấn đề luôn có tính thời sự và cấp bách trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia dân tộc, góp phần đấu tranh chống lại mọi luận điệu sai trái, phản động, phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học, nhân văn của chủ nghĩa V.I Lênin trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ những thực tiễn trên, em đã lựa chọn đề tài: “Phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng XHCN Liên hệ thực tiễn Việt Nam” cho bài tiểu luận của mình Việc nghiên

cứu đề tài này là có ý nghĩa vô cùng thiết thực cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên,

do trình độ và vốn hiểu biết của em còn hạn hẹp nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình viết tiểu luận, rất mong nhận được sự đóng góp của Thầy để bài viết của em được hoàn thiện hơn

Trang 4

B NỘI DUNG

I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ

DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC

1 Dân tộc và xu hướng phát triển khách quan của dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

1.1 Khái niệm về dân tộc và đặc trưng

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng người

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức

là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành

Ở một số nước phương Đông, do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước

và giữ nước, dân tộc đã được hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập trên cơ sở một nền văn hóa, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đến một mức độ nhất định song nhìn chung còn kém phát triển và

ở một trạng thái phân tán

Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa cơ bản dưới đây:

Nghĩa thứ nhất, (nghĩa hẹp) dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ

chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng (ngôn ngữ tộc người), có những nét đặc thù về văn hoá; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó Ví dụ, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc bao gồm 54 dân tộc anh em cùng sinh sống Theo nghĩa này, dân tộc là cộng đồng người được hình thành lâu dài trong lịch sử và có ba đặc trưng cơ bản sau:

Trang 5

- Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng

ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn Tuy nhiên, trong quá trình phát

triển tộc người vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không

còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp

- Cộng đồng về văn hóa Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở mỗi tộc

người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn

giáo của tộc người đó Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song

song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người

- Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc

người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Đặc trưng nổi bật là các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc

mình; đó còn là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người

dù cho có những tác động làm thay đổi địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người

Nghĩa thứ hai, (nghĩa rộng) dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm

thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước

Theo nghĩa này dân tộc là dân cư của một quốc gia nhất định, là quốc gia - dân tộc Ví dụ, dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào Từ cách hiểu như vậy

ta thấy, khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, dân tộc bao giờ cũng ra đời trong một quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử chứng minh rằng những nhân tố hình thành dân tộc không tách rời khỏi những nhân tố hình thành quốc gia, chúng bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển Dân tộc theo nghĩa rộng bao gồm những đặc trưng như sau:

Trang 6

- Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là đặc trưng quan trọng nhất của

dân tộc và là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của dân tộc

- Có lãnh thổ chung ổn định không bị chia cắt, là địa bàn sinh tồn và phát triển

của cộng đồng dân tộc Khái niệm lãnh thổ bao gồm cả vùng đất, vùng biển, hải đảo, vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia dân tộc và thường được thể chế hoá thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ quốc gia dân tộc

- Có sự quản lý của một nhà nước, nhà nước - dân tộc độc lập.

- Có ngôn ngữ chung của quốc gia làm công cụ giao tiếp trong xã hội và trong

cộng đồng (bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết)

- Có nét tâm lý biểu hiện qua nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền

văn hóa dân tộc Đối với các quốc gia có nhiều tộc người thì tính thống nhất

trong đa dạng văn hóa là đặc trưng của nền văn hoá dân tộc

1.2 Hai xu hướng phát triển khách quan của dân tộc và vấn đề dân

tộc trong xây dựng CNXH

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, V I Lênin phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc

Xu hướng thứ nhất, cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành thành cộng

đồng dân tộc độc lập Nguyên nhân là do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý thức dân

tộc, ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập Xu hướng này thể hiện rõ nét trong phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc muốn thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước thực dân đế quốc Ví dụ như cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam nhằm thoát khỏi sự áp bức bóc lột của thực dân pháp 1945

Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở

nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đế

quốc chủ nghĩa, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học, công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau

Trang 7

Trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc, sự vận động của hai xu hướng trên gặp nhiều khó khăn Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận, thay vào đó là nhứng khối liên hiệp với sự áp đặt, thống trị của chủ nghĩa đế quốc nhằm bóc lột, áp bức những nước còn nghèo và lạc hậu Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền, tạo tiền đề cho tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng mở ra quá trình hình thành và phát triển dân tộc xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, dân tộc xã hội chủ nghĩa chỉ có thể xuất hiện khi có sự cải tạo, xây dựng từng bước cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ xã hội, quan hệ dân tộc theo các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học Đồng thời dân tộc xã hội chủ nghĩa chỉ có thể ra đời từ kết quả toàn diện trên mọi lĩnh vực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong thời đại ngày nay, hai xu hướng này diễn ra với những biểu hiện rất đa dạng và phong phú Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa, xu hướng thứ nhất thể hiện sự nỗ lực của từng quốc gia để đi tới sự tự chủ, phồn thịnh của dân tộc mình, xu hướng thứ hai thể hiện ở chỗ các dân tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau, hòa hợp với nhau ở mức độ ngày càng cao trong mọi lĩnh vực

Ví dụ, sự hình thành Liên bang Xô Viết sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 (gồm 15 quốc gia cộng hòa hợp nhất) Ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, hai xu hướng này tác động cùng chiều, bổ sung cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc và trong cả cộng đồng quốc gia Xét trên phạm vi thế giới, xu

hướng thứ nhất thể hiện trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc

bị áp bức, hoặc là đấu tranh để thoát khỏi sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc

2 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về vấn đề dân tộc và giai cấp, cùng với sự nghiên cứu hai xu hướng khách quan trong quá trình phát triển dân tộc, V.I Lênin đã xây dựng nên “Cương lĩnh dân tộc”, đây cũng chính là những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc Cương lĩnh dân tộc bao gồm ba nội cung chính:

Trang 8

2.1 Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trong quan hệ xã hội cũng như quan hệ quốc tế; không có đặc quyền, đặc lợi của dân tộc này đối với dân tộc khác Trong một quốc gia nhiều dân tộc sự bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và phải được thể hiện sinh động trong thực tế Trên phạm vi quốc tế, bình đẳng dân tộc trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi trước hết phải thủ tiêu tình trạng giai cấp này áp bức giai cấp khác để trên

cơ sở đó xoá bỏ tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác, tạo điều kiện để các dân tộc giúp đỡ nhau phát triển trên con đường tiến bộ

Chống những biểu hiện sai trái với quyền bình đẳng dân tộc Đó là: Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc; chủ nghĩa dân tộc lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới; phấn đấu xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống áp bức bóc lột nặng nề của các nước tư bản phát triển với các nước kém phát triển Bình đẳng dân tộc

là quyền thiêng liêng của dân tộc và là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng Nó là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc

2.2 Các dân tộc được quyền tự quyết

Thực chất đây là quyền làm chủ của một dân tộc, tự mình quyết định vận mệnh của dân tộc mình; là giải phóng các dân tộc bị áp bức (thuộc địa và phụ thuộc) khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và đưa đất nước tiến lên theo con đường tiến bộ xã hội Quyền dân tộc tự quyết trước hết là tự quyết về chính trị: quyền thành lập một quốc gia dân tộc độc lập (quyền phân lập), quyền các dân tộc

tự nguyện liên hợp lại thành một liên bang trên cơ sở bình đẳng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ (quyền liên hiệp)

Khi xem xét và giải quyết quyền dân tộc tự quyết phải đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân Triệt để ủng hộ các phong trào dân tộc tiến

bộ, phù hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức Kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực đế quốc và bọn phản động quốc tế lợi dụng chiêu bài "dân tộc tự quyết" để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước cũng

Trang 9

như giúp đỡ các thế lực phản động, thế lực dân tộc chủ nghĩa đàn áp các lực lượng tiến

bộ, đòi ly khai và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới, của CNTB

Quyền dân tộc tự quyết là một quyền cơ bản của dân tộc Nó là cơ sở để xoá bỏ sự hiềm khích, thù hằn giữa các dân tộc; đảm bảo sự tồn tại, phát triển độc lập cho các dân tộc; phát huy tiềm năng của các dân tộc vào sự phát triển chung của nhân loại

2.3 Liên hiệp công nhân các dân tộc

Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là

tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Đảng Cộng sản, nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Nó đảm bảo cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc qui định mục tiêu hướng tới, quy định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc Đồng thời nó là yếu tố sức mạnh đảm bảo cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động rộng rãi thuộc các dân tộc, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc là sự thể hiện thực tế tinh thần yêu nước mà trong thời đại ngày nay

đã trở thành sức mạnh cực kỳ to lớn Nội dung đó phù hợp với tinh thần quốc tế chân chính đang lên tiếng kêu gọi các dân tộc, quốc gia xích lại gần nhau

II LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

1 Đối chiếu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin với một số đặc điểm của dân tộc đất nước ta hiện nay

Nước ta có 54 dân tộc anh em Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số, phân bố rải rác trên phạm vi cả nước Có 10 dân tộc có số dân

từ dưới 1 triệu đến 100 ngàn người, 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người; 16 dân tộc có số dân từ dưới 10 ngàn người đến 1 ngàn người; 6 dân tộc có số dân dưới 1 ngàn người

Đăc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta là sự cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống, thành sức

Trang 10

mạnh và đã được thử thách trong cuộc đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay Trải qua lịch sử chống giặc ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành rất sớm và trở thành một quốc gia dân tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến Đoàn kết là xu hướng khách quan cố kết các dân tộc trên cơ sở có chung lợi ích, có chung vận mệnh lịch sử, chung một tương lai tiền đồ Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực thì có nơi có lúc cũng xảy ra hiện tượng tiêu cực trong quan hệ dân tộc Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại luôn luôn dùng mọi thủ đoạn để chia rẽ dân tộc và can thiệp vào nội bộ của nước ta Do đó, phát huy truyền thống đoàn kết, xóa bỏ thành kiến, nghi kị dân tộc và kiên quyết đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù là nhiệm vụ trọng yếu của nhân dân tatrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuy trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tươngđối tập trung, nhưng không thành địa bàn riêng biệt Do đó, các dân tộc nước ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và

sự thống nhất hữu cơ giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố

Tình hình chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế,văn hóa giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần được quan tâm nhằm khắc phục dần sự chênh lệch để thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc ở nước ta.nhiều dân tộc có trình

độ rất thấp, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên Đời sống vật chất của bà con dân tộc thiểu số còn thiếu thốn, tình trạng nghèo đói kéo dài, thuốc chữa bệnh khan hiếm, nạn

mù chữ và tái mù chữ còn xuất hiện ở nhiều nơi Đường giao thông và phương tiện đi lại còn khó khăn, điện và nước phục vụ cho đời sống còn rất khan hiếm, thông tin, bưu điện còn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân ở nhiều nơi nhất là ở những vùng xa xôi, hẻo lánh Do điều kiện tự nhiên, xã hội,hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên các dân tộc mới có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh

tế, văn hóa

Cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hóa mang bản sắc riêng rất phong phú Bởi vì bất cứ dân tộc nào dù nhiều người hay ít người, đều có nền văn hóa riêng, phản ánh truyền thống lịch

sử, đời sống tinh thần, niềm tự hào dân tộc bằng những bản sắc văn hóa độc đáo Đặc trưng của sắc thái văn hóa dân tộc bao gồm ngôn ngữ, tiếng nói, văn hóa,

Ngày đăng: 15/09/2022, 16:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w